Tục lệ ngày Tết

I. NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN :

Theo âm lịch, Tết Nguyên Đán là ngày Mùng Một tháng Giêng.  Lễ Tết có từ nghìn xưa, không được rõ từ năm nào.  Sử sách chỉ nói vắn tắt, theo sách Đinh-Lê, nước ta có Tết từ đời Thục An Dương Vương.

TẾT NGUYÊN ĐÁN là một Tết quan trọng nhất của các dân tộc Á Đông nói chung, Việt Nam ta nói riêng, vì đó là ngày thiêng liêng cũng như nghỉ ngơi vui vẻ sau khi làm lụng vất vả suốt năm và chỉ dừng lại ở ngày cuối năm âm lịch.  Ngày đầu năm là ngày Nguyên Đán, sau đổi ra Tết Nguyên Đán kéo dài tới ba ngày đầu năm.  Cần phải ba ngày để mọi người có thì giờ đi lễ bái, thăm hỏi họ hàng xa gần và đủ thì giờ tận hưởng hương vị:

“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ,

Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh.”

Trước đây ta ăn Tết đến ba tháng :

“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng Hai cờ bạc

Tháng Ba hội chè.”

Ngày nay Tết chính thức chỉ có ba ngày : Mồng Một, Mồng Hai, Mồng Ba.

II. NHỮNG NGÀY THUỘC TẾT NGUYÊN ĐÁN :

Thường các xí nghiệp, hãng sở cho các nhân viên nghỉ Tết vào ngày 25 tháng Chạp và bắt đầu làm việc khai trương lại ngày 10 tháng Giêng, nhưng ngày giờ đã mang tính chất ‘xuân’ có lẽ bắt đầu từ ngày “ÔNG TÁO CHẦU TRỜI”.

Theo tục lệ ông bà thì :

– Ngày 23 tháng Chạp là lễ tiễn Ông Táo lên trời

– Ngày 25 tháng Chạp :               Lễ tiễn ông bà ông vải

– Ngày thợ thuyền nghỉ Tết

– Ngày học trò nghỉ học :            Lễ tạ trường

– Đêm 30 tháng Chạp :                Lễ lên nêu

– Sau lễ lên nêu :                         Lễ rước ông bà ông vải về ăn Tết

– Nửa đêm 30 tháng Chạp :         Lễ Giao Thừa

– Ngày Mồng 1 Tết :                   Lễ khai bút

– Ngày Mồng 2 Tết :                   Lễ hóa vàng

– Ngày Mồng 7 tháng Giêng :     Lễ hạ nêu

– Ngày Mồng 9 tháng Giêng :     Lễ tiên sư

– Sau lễ tiên sư :                          Lễ khai trương xí nghiệp

III. NHỮNG THÚ VUI ĂN TẾT :

– Người miền Bắc vào ngày Tết thường đi lễ bái, hái lộc như tục lệ người Chàm, phần đông người ta hái lộc về đêm, có người còn một lựa chọn giờ tốt rồi sau đó về xông đất nhà luôn.  Ngày Mồng Một Tết họ dè dặt tới nhà nhau, vì người nọ sợ vía mình xấu thì năm ấy người kia làm ăn gặp nhiều khó khăn.

– Người miền Trung có thói quen ngày Tết rủ nhau lên núi thăm mồ mả ông bà tổ tiên.  Buôn bán gì họ cũng mời mọc lấy mấy may cho cả năm.  Bạn bè thăm viếng nhau xin gia chủ cho lạy bàn thờ ông bà gọi là làm tuổi “ôn mê”.  Đầu năm có tục bói hên xui bằng cách lên núi xin xăm hay qua sông bói đò, đò đợi thì hên, đò quay là xui … hoặc đi coi hát như ở miền Nam.  Những thú chơi xuân như bài vụ, bài tới, bài thai và bài chòi thật là thú vị.

– Người miền Nam cũng vậy, ngày Tết ở nhà mừng tuổi, lại (lạy) ông bà xong, đi lễ chùa mừng tuổi Phật rồi đi hái lộc và mua trái sung mang về chưng bàn thờ tổ tiên để được suốt năm sung túc.  Các cuộc vui chơi thường là cờ bạc, “bầu cua cá cọp” là món thích nhất của trẻ em cũng như người lớn.

Ngày nay người ta ăn Tết có khác xưa về phần cổ tục, người thành thị không còn có phương tiện “dựng nêu” và cúng tế đúng theo nghi thức.  Ở thôn quê, cổ tục ngày Tết vẫn còn nhiều nơi giữ được phần nào thôi.  Ở thành thị nhiều người dành mấy ngày Tết để đi nghỉ mát ở Đà Lạt hay Vũng Tàu.

IV. CÀNH ĐÀO, CÀNH MAI TRONG DỊP TẾT :

Nói đến Tết xứ ta, mà không nói đến “mai”, “đào” ở ngày xuân thì quả là một thiếu sót.  Tết ở miền Bắc thì cành đào, còn ở miền Nam thì cành mai, được dân chúng thưởng thức nhiều nhất trong các thứ hoa.  

Theo lời xưa kể lại, cây đào là một thứ gỗ có công hiệu như một lá bùa thiêng để trừ loài ma quỉ.  Ở bên Tàu cứ vào dịp Tết, nhà nào cũng đóng hai miếng gỗ đào ngoài cửa khắc hình mỗi bên một ông thần trông thấy ma quỉ lúc ban ngày và còn diệt trừ chúng nữa.  Hai vị thần này được Ngọc Hoàng cho xuống trần đứng chắn cửa mọi nhà không cho ma quỉ bén mảng đến, nhất là dịp đầu xuân.  Vì sợ hai vị linh thần này, nên ma quỉ hễ thấy cành đào hay cành mai giống như miếng gỗ đào là khiếp vía bỏ chạy. Về sau việc này trở thành một tục lệ ngày xuân.

V. Ý NGHĨA CỦA NHỮNG LOẠI HOA :

Xuân về thì các cô các cậu lại có dịp tỏ lòng mình bằng cách tặng hoa.  Hiện nay người ta phân biệt một cách thi vị ý nghĩa các loại hoa như sau :

Hoa Mai                        Tình thanh khiết

Hoa Hồng lợt                Tình yêu đơn giản

Hoa Sen                        Từ chối tình yêu

Hoa Đào                        Những giọt máu danh dự

Hoa Lý                          Đẹp mà không đứng đắn

Hoa Vạn Thọ trắng       Chia sớt chuyện buồn

Hoa Vạn Thọ vàng        Vui vẻ

Hoa Lay-Ơn                  Giờ hẹn gặp nhau

Hoa Cúc vàng               Nhà ta dòng quý phái

Hoa Cúc trắng               Tuổi già hạnh phúc

Hoa Lan                        Tình bạn thanh cao

Hoa Sung                      Hững hờ lạnh nhạt

Hoa Huệ                        Cao thượng, trong trắng

Hoa Hồng                     Tình yêu nồng nàn

Hoa Immortel                Vượt mọi khó khăn

Hoa Thủy Tiên              Tin mừng có quà tặng

Hoa Phượng                  Thành công trên đường học vấn

Hoa Tigon                     Buồn trách tình lỡ hẹn

Hoa Mimosa                 An lành

Hoa Anh Đào                Nền giáo dục vững vàng

Ngoài ra còn có những hoa khác tượng trưng vô vàn tình cảm của người tặng.

Ngày xuân còn nhiều tục lệ thi vị nên thơ nữa nhưng trên đây tôi chỉ nêu lên vài tục lệ quan trọng súc tích nhất mà phần đông chúng ta còn hưởng được.

Trần Đình Lai

12 AB