XỨ ANH ÐÀO

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Hoa Anh Ðào

Nói tới Nhựt, phải nói tới hoa anh đào. Người Nhựt rất ưa chuộng văn chương nghệ thuật. Họ ưa thích hoa; không phải mai, lan, trúc, cúc, mà mùa xuân với hoa anh đào.

Hoa đào được yêu chuộng nhứt, không phải loại peach hay plum mà là cherry, vì nó quá đẹp. Nó đẹp nhờ cuống hoa dài, trông lưa thưa rất thanh. Cuống hoa peach và plum ngắn, nở có chùm, dầy đặc, nhìn có phần ô dề.

 

Mùa hoa anh đào nở (cherry blossom).

Người Nhựt coi hoa anh đào, như cái gì thiêng liêng đối với xứ sở của họ. Hoa có nhiều màu sắc rực rỡ, xinh tươi: trắng, hồng nhạt, hồng, hồng sậm, vàng (rất hiếm), đỏ. Hoa anh đào không phải chỉ có một loại mà thôi. Nó có tới mấy tá lận.

Sau khi hoa nở nó sẽ ra trái nhỏ không ăn được. Trồng bằng cách gieo hột hay chiết nhánh. Ðài hoa nhỏ xinh xinh, đài hoa to lớn hơi thô. Phần nhiều là loại chỉ có một lớp đài hoa năm cánh. Có loại có nhiều lớp đài hoa, chồng lên nhau giống như bông hường nho nhỏ. Loại nầy thường nở sau loại đơn một hai tuần.

Ðẹp nhứt là anh đào màu hồng nhạt hay trắng với cánh hoa nho nhỏ xinh xắn, rất tao nhã. Không những nó đẹp khi còn trên cành cây, mà lại tuyệt mỹ khi nó rơi rụng. Chỉ một cơn gió thoảng thôi, cũng làm cho nó rơi, mà không đợi tới héo tàn. Nó không rơi thẳng xuống, cánh hoa lìa đài hoa, rơi rụng nhẹ nhàng như hối tiếc. Nó là đà, lao chao bay theo chiều gió như tuyết sương mịn màng bay. Nó như đàn bướm vỡ tổ tung cánh bay. Ôi nó tuyệt quá! Nó thơ mộng quá đi thôi! Không làm sao tả cho hết.

 

Người hiệp sĩ đạo

Hoa anh đào cũng tượng trưng cho người hiệp sĩ đạo đất Phù tang: Người hiệp sĩ không màng tới cái chết. Họ coi nó nhẹ như lông hồng. Họ chỉ hành hiệp giúp người yếu thế, chống lại cường hào bạo ngược, trung thành và tôn thờ vua chúa, dầu phải chết vì lý tưởng thanh cao đó. Ðời người trước sau gì cũng phải chết, thì phải anh dũng mà chết. Chết cho oai hùng, cho có nghĩa khí như hoa anh đào chỉ tồn tại có một tuần mà thôi, rồi rơi rụng, xác phủ trắng đất.

Mặc cho đời sống ngắn hay dài, hoa anh đào được trồng, xung quanh các cung điện (shrine) của các hiệp sĩ lãnh chúa. Phù hiệu hoa anh đào chỉ được thêu lên mũ của các Ngự lâm quân mà thôi, vì nó tượng trưng lòng trung thành của họ đối với nhà vua. Họ hết lòng tuân theo mệnh lệnh và bảo vệ nhà vua, cho dầu bị phân thây, bỏ mạng ngoài chiến trường, lúc còn thanh xuân như cánh hoa anh đào.

 

Người phụ nữ đẹp

Hoa anh đào còn tượng trưng cho người đàn bà nữa. Người phụ nữ được ví với hoa anh đào. Tại sao?

Vì hoa anh đào đẹp như tiên nga? Vâng.

Thế có gì phải nói? Phải so sánh?

Vì người con gái đẹp thì không được tồn tại lâu bền, như hoa anh đào sớm gẫy cành thiên hương. Chính cái đó mới đáng tiếc. Bởi vì:

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng

Bất kiến nhân gian hứa bạch đầu!’

Ý muốn nói là người phụ nữ đẹp, giống như một vị tướng. Tướng thì vào ra trận mạc, trước sau gì cũng chết sớm:

‘Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.’

Người Mông Cổ sống trên lưng ngựa, chinh chiến Ðông Tây để rồi:  ‘Da ngựa bọc thây’. Vì lý do đó, mà họ chết sớm.

Người con gái đẹp cũng yểu số. Họ không sống tới lúc bạc đầu. Là một phụ nữ đẹp, họ không thích sống thọ, bởi vì họ không chịu nỗi khổ nhìn thấy dung nhan mình bị tàn phai! Chính họ cũng muốn chết sớm, để giữ mãi mãi nét đan thanh, còn hơn là sống trong niềm đau nỗi khổ dày vò, bởi nhan sắc héo tàn. Có người chỉ cần bị rụng tóc thôi cũng muốn tự tử, bởi họ mất đi cái mái tóc xưa kia:

‘Cái tóc là gốc con người’

Tôi còn nhớ, 35 năm trước, tôi có một bịnh nhân 14 tuổi hết sức đẹp. Cô bị đau đầu gối và thiếu máu trầm trọng đi không được. X quang cho thấy ung thư xương ống quyển phải. Muốn cứu mạng phải cưa chân, cô cự tuyệt và cho: ‘Nếu cắt chân, con thức dậy cắn lưỡi chết. Con thà chết chớ không thể sống tật nguyền’ Thế là ông bố đành bồng cô về!

Cụ Nguyễn Du cho người đẹp Ðạm Tiên có số hồng nhan bạc mệnh:

‘Phận hồng nhan có mong manh,

Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.’

 

Hội hoa anh đào

Không phải chỉ có du khách mới đến đây, để thưởng thức hoa anh đào nở mà thôi. Chính người Nhựt, họ cũng lặn lội đi xem hoa anh đào nữa. Ðây là truyền thống ngày hội. Chỉ có những nơi nầy, mới có cảnh trí xinh tươi rộn rịp như vầy. Việc ngắm xem hoa anh đào được gọi là hanami. Nó chỉ trồng nhiều ở các cung điện, đền chùa, xung quanh các cổ thành của các lãnh chúa (Samurai).

Ngày hội hoa anh đào gọi là Sakura. Người ta đã hành lễ sakura hằng năm từ nhiều thế kỷ qua. Nó đã ăn sâu vào nền văn hóa Nhựt và tâm hồn người Nhựt từ lâu. Nó là những áng văn thơ, những bức tranh tuyệt mỹ, của đất Phù tang từ xưa tới nay. Nó tượng trưng vẻ đẹp mỹ miều và thiên nhiên huyền diệu. Mỗi vùng có loại anh đào của vùng mình. Thí dụ: Ở núi Phú sĩ thì có loại Prunus  serrulata ‘Mount Fuji’ hay Kojima.

Người Nhựt thích nhứt loại Yoshino được ghép giống năm 1879. Hoa nở từ 15 tháng Ba tới 8 tháng Tư. Riêng năm nay, nó nở từ 15/03/04 tới 28/04/04.  (Ðến mùa hoa anh đào, chính phủ cho phát thanh dự đoán thời tiết và hoa nở từng ngày, từng giờ và từng vùng để du khách tiện bề dự phòng cho cuộc du ngoạn ngắm hoa).

Trong vườn hay ngoài đường, lẻ tẻ có vài cây anh đào cũng xinh nhưng không thể nào bằng những vườn anh đào với hằng trăm, hằng ngàn cây lận quý vị ơi. Melbourne được mệnh danh là thành phố của vườn hoa của Úc, có hoa anh đào trồng hai bên vệ đường cũng không bằng. Cả vườn hoa Nhựt ở Sydney chỉ bằng 1/10 hay nhỏ hơn nữa. Ngay như vườn hoa anh đào ở Washington chứa tới 3000 cây, do Thị trưởng Thành phố Tokyo tặng năm 1912 cũng không thể sánh được.

xu anh dao 01

(Ảnh Bs Liêu Vĩnh Bình)

Vườn hoa anh đào ở Ðền Vàng (Golden Pavilion) của chùa Gindakuji. Chùa có bốn khu trồng cây cảnh như rừng thiên nhiên, vườn anh đào, hồ với mặt nước phẳng lặng, với vài lá sen cùng cá lý ngư. Giữa hồ có cái đền thờ ba từng bọc toàn bằng vàng lá óng ánh, rực rỡ, phản chiếu mặt hồ như tấm thảm vàng. Xung quanh toàn là loại hoa anh đào buông mành, rũ xuống. Ðây là loại pendula. Nó tuyệt vời quá đi thôi!

Y như:

‘Lơ thơ tơ liễu buông mành…’

Nhưng ở đây lại bằng hoa anh đào mới đẹp, mới nên thơ.

Xa xa nhìn thấy nó tuông thòng như nước thác Prenn hay pháo bông đêm giao thừa của cầu Harbour Bridge.

Không tới đây, không bao giờ thấy cảnh thần tiên nầy được.

Khi bước qua cổng Torii là phải bỏ đi các ưu tư sầu muộn, phải vào đây với một tâm thần siêu thoát thầm lặng. Ði thêm một đoạn đường tùy theo chỗ chừng 50-100m, sẽ có chòi nhỏ với giếng nước hay vòi phun nước, có gáo cho ta rửa tay trái rồi tay phải, đoạn hứng một bụm nước súc miệng. Xong mới tới đền thờ, muốn cúng bái phải vỗ tay hai cái mới khấn, tuyệt nhiên không được vào trong. Chỉ có hội viên mới vô.

Thật ra bên trong Shinto Shrines không có thờ Phật. Hên là khi tới đó được xem đám cưới đang hành lễ.

Cảnh trí thanh tịnh nầy rất thích hợp cho thiền tu. Chỉ tới đây cũng thấy vơi đi nỗi ưu phiền, lòng trần lắng dịu, tâm hồn thảnh thơi…muốn ở lại đây tu theo kiểu Shinto, ‘tu sĩ áo đen!!!’ Khu nầy rất được du khách viếng quanh năm, vì các dàn wistera đang trổ nụ chờ đơm bông tua tủa rũ thòng xuống đầy một rừng màu tím hoa cà.

xu anh dao 02

Ảnh Bs Liêu Vinh Bình

Ngoài ra còn có rất nhiều cây maple, lá nho nhỏ mịn màng xanh tươi kỳ lạ. Nó khác hơn Japanese dissecting maple ở Úc. Maple trident của Úc hay Canada không sánh nổi. Ðây là loại đặc biệt Japanese mà.

‘Ai lên xứ anh đào không mang về một cành hoa…’

Thật tình mà nói, muốn lắm chứ. Muốn loài hoa biết hàm tiếu kia, bởi vì trong đời người ai cũng mơ ước:

‘Ở nhà Tây, ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhựt’

Nhưng… xin đừng cười, không có gan to đành ngậm thèm, bởi vì sợ chết cháy! Nóng lắm các bạn ơi!

Sau khi đến xứ anh đào rồi, mới thấy ước mơ trên trở nên vô nghĩa:

1/ Nhà Tây, tuy nguy nga lộng lẫy lại không đủ tiện nghi như ở đất nước của con cái Thái dương Thần nữ.

2/ Cơm Tàu rất hạp khẩu vị, lại quá nhiều dầu mỡ, cholesterol cao chỉ tổn hại sức khỏe. Chết không kịp ngáp. Cơm Nhựt thanh đạm, nhiều rau cải, nhiều đậu hủ, cá nhứt là sushi, trà xanh tinh khiết, giúp phòng ngừa bịnh tật.

3/ Cưới vợ Nhựt để được ‘phu xướng, phụ tùy’, điều nầy xin xét lại vì ngày nay người phụ nữ Nhựt muốn chen chân ngoài xã hội hơn là hoàng hậu ở xó bếp vân vân… Xin đừng ước mơ các kiều nữ Geisha, nhìn mát mắt, nâng khăn sửa túi, săn sóc chu đáo chỉ để lắt hầu bao du khách mà thôi. Ðừng có mơ!

Hiện nay có tin đồn, Công nương Masako, nói được 6 thứ tiếng, từng tốt nghiệp Ðại học Harvard và Oxford (tức thứ trường đào tạo làm ngoại giao, chánh trị và nhứt là lãnh đạo) mà chôn vùi đời mình trong hoàng cung thật là khổ ải còn hơn là cá chậu, chim lồng… Ngoài ra Công nương còn bị áp lực tinh thần nặng nề, với nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của Hoàng gia là phải sanh một Hoàng nam, để nối ngôi báu vì chưa sửa đạo luật cho công chúa lên ngôi. Ðể giải thoát áp lực này, Công nương không bị buộc phải ly dị mà được sống riêng với Công chúa. Chính Hoàng Thái Tử Naruhito đã nói:

‘Vợ tôi là tù nhân trong hoàng cung’

Dân chúng Nhựt thương tâm cho Masako, đã biểu lộ:

‘Liệu Hoàng gia có thể cho họ thêm một chút tự do không?’

 

Núi Phú Sĩ

Chuông ngân

mây trắng, hoa đào

Trúc lâm Phú sĩ

Chốn nào là duyên?

Thi sĩ Basho (Trong Cổng thiền quét mây/LVV)

Núi Phú Sĩ là ngọn núi lửa linh thiêng, đã lôi cuốn biết bao nhiêu người hằng năm đến đây hành hương. Nó cũng là những áng văn thơ, những bức tranh tuyệt tác của xứ Phù Tang nầy. Nó là ngọn núi cao nhứt ở Nhựt.

Lần giận dữ phun lửa chót vào năm 1707, rồi từ đó nó đi vào giấc ngủ triền miên đã hai thế kỷ qua, và sẽ mãi mãi luôn giữ vẻ đẹp huyền bí: khi ẩn, khi hiện dưới lớp mây huyền ảo, như tiên giáng trần, một tòa thiên nhiên như Eva e thẹn, lấy rừng xanh làm chăn che tấm thân ngà ngọc, sau những áng mây bao phủ. Nàng đẹp tuyệt trần, đầy quyến rủ, nghiêng mình soi bóng dáng xuống ngũ hồ nhứt là hồ Ashi, như bức tranh thiên nhiên tuyệt tác. Ngồi trên du thuyền ngắm hằng giờ không biết chán đó quý vị ơi!

Theo huyền thoại, thì núi Phú Sĩ thấp hơn ngọn Haku, tượng trưng cho phái nam. Phật Amida mới đặt ống dẫn nước từ ngọn Haku xối xuống đầu ngọn Fuji. Nàng nổi cơn thịnh nộ đập đỉnh Haku, làm nó tan vỡ thành 8 ngọn núi là là dưới chân nàng.

Tương truyền ngày xưa, có nhiều vị tu sĩ đến đây hành hương và dựng lều thiền. Chỉ có nam tu sĩ mới được tu. Nữ tu sĩ không được phép bén mảng tới. Sau nầy nam hay nữ đều được đến đây thiền, không có sự kỳ thị chi cả. Người Nhựt có tục lệ tắm suối nước nóng chảy ra từ núi Phú Sĩ. Nước nóng, trong xanh nhưng nặc nồng mùi hôi thúi của lưu huỳnh. Nó có cái lợi là sát trùng, nhưng người Nhựt cho nó tăng cường sinh lực và sống thọ. Chính vì thế không biết bao nhiêu du khách đỗ xô về đây trầm mình trong các hồ trong hotels. Cái đặc biệt truyền thống là phải trở về thời cổ đại của Adam và Eva. Tắm ‘uổng trờ’ nam theo nam, nữ theo nữ nầy gọi là “onsen”, nó ngộ nghỉnh vui thú lạ kỳ. Suối nước sôi sùng sục, tỏa mùi lưu huỳnh khó chịu có thể luộc hột gà được. Hột gà sẽ đen. Người Nhựt cho ăn nó rất bổ dưỡng và trẻ trung lại mấy tuổi?

 

Nguồn gốc nước Nhựt

Vị thần mặt trời hay Thái dương thần (Amaterasu) truyền cho cháu Ngài là Niningi đến Nhưt với hạt ngọc tượng trưng hoàng tộc. Niningi lại thương Công chúa Ko-no-hana, vị công chúa nở hoa. Cha nàng, thần chủ các núi, Oho-yama lại muốn Niningi cưới cô chị cả Iha-naga, hay Công chúa trường sinh như núi. Nếu lấy cô, con cháu sẽ trường thọ. Vì không nghe lời tiên tri, nên con cháu họ mới rơi rụng sớm như hoa anh đào vào mùa xuân.

Cháu của Niningi lấy con gái của Long Vương. Trước khi lâm bồn nàng bảo chồng cất cho cái chòi và đừng nhìn nàng lúc khai hoa. Nóng lòng chàng lén nhìn. Nàng biến thành rồng, trở về Long Cung và phái người chị lên chăm sóc cháu bé. Bà cũng biến đất nước Nhựt ra hình rồng giống như thân thể bà. Lớn lên nó lại thương dì nó và cưới làm vợ. Họ sanh mụn trai trở nên vị Hoàng đế đầu tiên của nước Nhựt.

Chính vì vậy, mà Nhựt được coi như hậu duệ của Thủy Long cung, mà cũng có thể là con cái của Thái Dương thần, vân vân… Cũng vì quá nhiều huyền thoại như Việt Nam, mà nguồn gốc của nước Nhựt rất mơ hồ, mà họ không chấp nhận gốc từ Trung Hoa như trong chuyện sau đây:

Lúc nào Tần Thủy Hoàng cũng mơ ước được trường thọ, để tận hưởng ngôi báu, vì vậy ông ta cho người tìm thuốc trường sinh bất lão. Ông nhờ Lư Sinh Từ Thức tìm thuốc cho ông. Vì sợ một ngày nào đó, Tần Thủy Hoàng sẽ chôn sống mình như

các nho sĩ, nên ông ta cho trên hải đảo ở bể đông có thuốc trường sinh. Ðể ra đó, ông xin nhà vua cho 100 chiếc tàu lớn, với ngàn thanh nam, thanh nữ khỏe mạnh cùng hạt giống và gia súc vân vân…Thế rồi họ đi luôn biền biệt 250 năm trước Công nguyên.

Người Nhựt cũng không chấp nhận nguồn gốc từ Ðại Hàn nữa. Dân tộc thiểu số Ainu như Aborigines của Úc gốc Caucasoid đến từ Bắc Á, cơ hàn lần lần diệt chủng. Chỉ còn người Nhựt sanh sản và phát triển mà thôi. Họ tự cho họ là con cái của Thái Dương Thần tức từ Mặt Trời và Long Vương Thần Nữ như huyền thoại ở trên.

Cờ Nhựt tượng trưng cho vừng hồng, mặt trời đang lên cũng như mãnh lực, phú quí đang hưng thịnh. Họ cho là đất nước nầy ở thật xa từ phương đông, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, đứng riêng một mình, ngoại vi ảnh hưởng của Trung Hoa!

Nước Nhựt là một tập họp mấy ngàn hải đảo. Tuy nhiên có 4 đảo chính là: Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku. Người thiểu số từ từ diệt chủng. Người Nhựt mới phát sinh. Nhưng núi non chiếm gần 85% đất đai, không có tài nguyên, nhứt nhứt phải nhập cảng, nên không đủ nguyên liệu và thực phẩm, cho 125 triệu dân sinh sống. Ðã vậy mà còn có nhiều núi lửa nữa chớ. Chính vì muốn bành trướng đất đai mới nẩy sinh xâm lăng để rồi thảm bại hồi Ðệ Nhị Thế chiến.

 

Thành phố

Ðất nước nhỏ, thành phố to lớn. Ðất không đủ thì lấn chiếm bờ biển như ở Osaka. Nhà chọc trời cũng nhiều. Siêu thị rất nhiều, đồ đạt nhứt là high-tech rất rẻ. Nhà hàng cũng nhiều không mắc lắm, chỉ có thịt bò của Nhựt là mắc vì họ cho nó mềm, ngon ngọt, bổ dưỡng và không bị ô nhiễm, bởi nó sống trên đồi cao nguyên thủy. Vận kimono ngồi bẹp dưới sàn, ăn uống xoay trở khó khăn lắm nếu có cái bụng ocker (bụng phệ do uống nhiều bia).

Ðâu đâu cũng có máy vendor machines bán nước ướp lạnh hay snack đã đành, có chỗ bán luôn đồ ăn nóng nữa. Mua gì, làm gì cũng phải đổi ra tiền kẽm rồi đúc cho máy ăn, để lấy đồ hay phiếu, vân vân…

Ðường sá dưới đất, trên không chằng chịt như mắc cửi lại rộng, sạch sẽ, an toàn và yên tịnh có hàng cây hai bên: chỗ thì cây anh đào, chỗ thì loại tùng, loại ginkgo bibola, vân vân… Có điều là họ cắt cụt nhánh chớ không um tùm như ở Úc. Ðường xe lửa rộng lớn, xe lửa tốc hành trên không chạy rất êm và không lắc lư nên đi lại rất dễ dàng. Nhà, phố san sát, nho nhỏ, xinh xinh với mảnh vườn bỏ túi trước hay sau, với một vài bông hoa hay bonsai cao lớn trên 2m, chớ không rộng lớn đầy bông như ở Úc.

Dân sinh, dân trí cũng cao nên họ sống thọ nhứt thế giới, nhứt là người ở đảo Okinawa. Phần đông họ sống trên 100 tuổi.

Tới Nhựt, chúng tôi đi từ ngạc nhiên nầy tới ngạc nhiên khác. Vừa ra khỏi phi cơ ở phi trường Osaka, đến phòng hải quan, chúng tôi lấy làm lạ sao có cô gái Nhựt trưng bảng tên Phan Q. chúng tôi hết hồn. Không biết ông bạn vàng làm gì, mà bị mời. Thời buổi khủng bố nầy ghê gớm quá! Ông bạn chỉ vô văn phòng là trở ra ngay, mặt tươi rói, không rõ cô có đón tiếp nồng nàn, bằng nụ hôn theo lối Tây phương hay không mà sao anh ta vui thế? Thì ra ông bạn bỏ quên túi đựng máy quay phim và máy ảnh trên phi cơ. Cử chỉ trên thể hiện một quá trình công dân giáo dục, lòng ái quốc và tự hào dân tộc. Có như thế nước mới tiến bộ.

Khi ăn sáng, trẻ con kêu “bố ơi! Bố mang cái cầu tiêu về nhà đi bố”. Thiệt hết chỗ chơi, chúng đòi gì mà kỳ lạ vậy? Tuy còn nhỏ, chúng cũng biết nhận xét cái hay, cái mới lạ.

Thật vậy, cái cầu nó tân thời quá. Ngồi xuống nó ấm mông, nó đã quá. Ði cầu xong bấm nút, nó sẽ rửa mông bằng nước ấm. Còn nữa, muốn xịt nước có vòi hay như bông sen cũng được nữa. Tội nghiệp cho Úc thòi lòi, đúng là Kangaroo ngơ ngáo như Lý Toét ra thành!

Người Nhựt triệt để tuân hành lịnh trên, ít khi phản đối đình công bãi thị. Nền kinh tế Nhựt bị xuống dốc mấy năm nay. Ðể nâng đở kỹ nghệ, công nhân hiện giờ vẫn chấp nhận làm thêm giờ KHÔNG ĂN LƯƠNG! 

Chuyện nầy không thể nào có ở Úc được. Hãng máy bay Ansett vừa mới khá là công nhân đình công đòi tăng lương mặc cho khuyến cáo dẹp tiệm. Ansett dẹp tiệm thiệt. Họ không lo, bởi chính phủ phải bồi thường phụ cho họ. Thất nghiệp có chánh phủ trợ cấp, ở không mà ăn lương. Sướng quá!

 

Giáo Dục

Trên xe lửa, thầy thợ gì cũng đọc sách báo, học sinh không phá phách mà ghì đầu đọc sách hay làm bài tập thật là chăm chỉ. Phải chăng tinh thần hiếu học và tranh đua làm cho họ cận thị, theo như người hướng dẫn cho biết. Cha mẹ rất chú trọng vào việc học vấn của con cái.

Tuy Công giáo không được phổ biến, nhưng trường đạo lại thu hút học sinh rất đông, mặc dầu nó rất đắt. Học sinh cũng không có dùng điện thoại cầm tay như ở Úc.

Muốn vào Ðại học rất khó, phải dự tuyển. Sinh viên phải luôn luôn kiên trì học để đậu. Ngay năm nay 2004, sinh viên ra trường khó kiếm được việc làm, nhiều khi phải xin làm thí công, chỉ cần được nuôi ăn là đủ.

 

Chữ viết

Chữ viết cũng y như Trung Hoa, nhưng họ lại biến chế thành chữ mana vào thế kỷ thứ V: Kanji và Kana: theo giọng.

Về sau họ lại cải cách thành chữ riêng. Còn chữ ta lại không tiến hóa sau khi chế ra chữ nôm, phải đợi tới các nhà ngữ học truyền giáo như Alexandre de Rhodes phát minh ra chữ quốc ngữ mà ta dùng tới ngày nay.

 

Y tế  & Xã hội

Như Trung Hoa và Việt Nam, Ðông và Tây y đều được dùng ở đây. Công nhân công chức đều có bảo hiểm tư, nhưng nó chỉ chịu bồi hoàn có 70% thôi. Phòng mạch và nhà thuốc Tây không nhan nhản như ở đây. Học Y-Nha rất lâu, khó và rất tốn kém.

Rượu và thuốc lá được bán tự do, ai mua cũng được không có hạn chế tuổi tác. Thanh thiếu niên hút thuốc như ống khói. Nghe nói vấn đề ma túy rất ít? Xã hội đen có nhóm thanh niên chuyên mặc đồ đen, rất nguy hiểm nhứt là về đêm gần các vũ trường.

 

Tôn giáo

Tôn giáo chánh là Phật giáo du nhập vào Nhựt vào thế kỷ V Phái Theravada từ Ðông Nam Á, Mahayana từ Trung Hoa qua ngã Mông Cổ và Triều Tiên, Vijrayana từ Tây Tạng. Có 80% dân theo Phật giáo. Còn lại là Shinto, đạo Khổng, Lão và Thiên Chúa rất khiêm nhượng chiếm dưới 1%. Ðạo Phật lo phần hồn sau khi chết. Cho nên kỳ thực người dân theo Shinto nhiều hơn, bởi vì Shinto chủ yếu là chăm lo cho đời sống hiện hữu, cưới hỏi… Nó lấy ý niệm như sống theo con đường của thần thánh. Minh Trị Thiên Hoàng cũng theo Shinto. Ðền thờ nổi tiếng là Meiji Jingu.

Shinto là đạo nguyên thủy của Nhựt. Nó mang tánh chất thần quyền (sect và folk religion) đầy mê tín lúc ban đầu. Ðến thế kỷ thứ V, nó có vẻ như một sự hòa họp tư tưởng Khổng và Lão (Zen thiền) để có đời sống chân mỹ. Dần dần nó xa lìa dị đoan và ngã theo thiền từ khi các hiệp sĩ xaâm nhập vào. Cũng từ đó họ biến mất trên chính trường và nhường lại Minh Trị Thiên Hoàng canh tân đất nước!

Sau 1945, Shinto trở thành Hội Shinto Shrines Association, chỉ có họâi viên mới được vào trong. Nó gần như là trung tâm văn hóa như: thiền, trà đạo, văn chương, thi phú, nghệ thuật cắm hoa: thiên-địa-nhân (trung), bonsai, vườn hoa Nhựt và cách ăn uống với nếp sinh sống thanh cao quí phái.

 

Âu hóa

Người Âu Châu đầu tiên cập bến Nhựt vào năm 1542, nhà truyền giáo Francis Xavier du nhập Thiên Chúa vào năm 1544. Sự bành trướng đạo Thiên Chúa cũng gặp những trở ngại y như ở nước ta. Cũng vì vậy mà có các cuộc xaâm chiếm các hải  cảng Osaka, Nagasaki…

Lãnh chúa dòng Takugawa đánh đuổi ngoại bang ra khỏi nước, và dẹp hết các lãnh chúa sứ quân, để thống nhứt đất nước dưới tay mình. Ông dời đô từ Edo về Tokyo. Tokyo có nghĩa là phương đông, hướng của phát đạt và thịnh vượng. Ông cũng tôn trọng và trung thành với nhà vua. Thực ra ông nắm hết quyền hành và nhiều tài sản hơn nhà vua. Dòng dõi Takugawa ngự trị suốt 200 năm (1603-1868). Ðây cũng là thời kỳ yên ổn nhờ bế môn tỏa cảng như nước ta.

 

Minh Trị Thiên Hoàng

Chiến thuyền Mỹ đến Nhựt, thuyền trưởng Matthew C. Perry ép buộc ký hiệp thương bất tương xứng, nên đưa đến xung đột. Trước hỏa lực tân tiến, nhóm hiệp sĩ sụp đổ. Nhà vua trẻ mới 14 tuổi lên ngôi lại sáng suốt, thấu đáo sự tiến bộ khoa học kỹ thuật. Gươm dáo không thể nào chống nổi với súng đạn của Âu-Mỹ, nên học theo Mỹ, Âu hóa đất nước.

Ông buộc vị thủ lãnh Hiệp sĩ chót (The last samurai), coi về quân sự và quốc phòng phải từ nhiệm năm 1867, và các samurai phải gác kiếm năm 1876.

Nhà vua non trẻ nắm hết quyền bính, dời cung điện từ Kyoto về Tokyo năm 1868. Minh Trị Thiên Hoàng nổ lực cải cách và Âu hóa đất nước, hầu đem lại phú cường no ấm cho dân:

1/ Tập trung quyền bính về một mối ở Tokyo.

2/ Loại bỏ phong kiến của hiệp sĩ.

3/ Cải cách giáo dục, đưa sinh viên du học các kỹ năng, khoa học tân tiến để phát triển công kỹ nghệ nước nhà.

4/ Lọc lừa văn hóa và xã hội: Hủy bỏ tàn tích cổ lỗ sĩ.

5/ Cải cách y tế và sức khỏe

6/ Tạo nếp sống mới, gây tinh thần yêu nước, độc lập tự cường

Chính ông mang đất nước Phù Tang đến chỗ vinh quang xán lạng phú cường mới đánh đổ được Nga năm 1905 và tạo nên nền tảng cho nước Nhựt tân tiến về mọi mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật ngày nay với các giải Nobel trong mấy năm qua. Hàng hóa tối tân của Nhựt ngự trị trên thị trường quốc tế.

Ông qua đời vào năm 1912. Thần dân rất cảm mến ông và tôn sùng ông như quốc phụ vĩ đại trong lịch sử Nhựt. Cùng thời đó vua quan ta không nghe lời canh tân của phái bộ Phan Thanh Giản. Vua Tự Ðức đang khốn đốn bị Pháp xâm chiếm Nam Kỳ lục tỉnh như Vĩnh Long 1867, cụ Phan Thanh Giản phải tử tiết.

Các nho sĩ Âu hóa hiểu biết tinh thần cấp tiến của Lương Khải Siêu ở Trung Hoa hay Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật, gây phong trào ái quốc, đòi độc lập tự do, chống ‘bồi Tây’ chỉ biết ‘Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò’.

Phong trào Ðông du rồi Ðông Kinh Nghĩa Thục của cụ Phan Sào Nam, Dương Bá Trạc, vân vân… để đào tạo nhân tài, nhân lực, các cụ kêu gọi:

‘Phen nầy cắt tóc đi tu,

Tụng kinh Ðộc Lập, tu chùa Duy Tân’.

Trong số đó có Cường Ðể. Ông có bí mật lén về hoạt động tại Vĩnh Long. Phong trào nầy bị Tây cấu kết với kẻ phản quốc phát hiện và phá vỡ. Vua Hàm Nghi chống Pháp nên bị bắt năm 1888 và bị đày đi Algérie. Vua Thành Thái lên ngôi lúc 10 tuổi, thông minh, sáng suốt có thật lòng yêu nước, chống đối Pháp, lại bị an trí ở đảo Reunion. Vua Duy Tân anh dũng cũng không thành công.

Tinh thần các sĩ phu và vua ta có nghĩa khí từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, nhưng đáng tiếc là một số tay sai hại dân hại nước, ham phú quí, bán rẻ lương tâm, hiệp cùng thực dân Pháp đánh phá vỡ các tư tưởng độc lập tự do từ trong trứng nước! Ôi đây là điều đáng tiếc, âu cũng là vận mạng của đất nước ta vậy!

 

 Sách đọc thêm 

Juliet Piggott, Japanese Mythology, 1969