Xác Ướp Ông Phật Dừa Trên Đảo Hột Lúa (*)
Ngô Nguyên Dũng
Lời tác giả:
Trích đoạn tiểu thuyết nầy của tôi được chính tôi phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ, không sử dụng bất cứ trợ sức nào của công cụ trí tuệ nhân tạo AI theo nguyên tắc sáng tác của tôi:
“Nói không với AI, không ẩn giấu tông tích, không dùng bút danh khác giới tính, không sử dụng ảnh chân dung giả.”
Trân trọng.
*
Cha Bốn đi cùng Thầy Thông, người thông dịch, bằng xuồng sau một tiếng rưỡi đồng hồ thì tới đảo Hột Lúa, hòn đảo lớn nhất trong quần đảo được phù sa bồi đắp, chỗ có xây ngôi chùa cùng tên. Bất cứ đứa trẻ nào trong làng đều biết nguồn gốc tên đảo.
Chuyện kể, một trăm năm trước, nơi đây là thiên đường hạ giới. Trên đảo nầy có một người đàn ông giàu có, nhân từ tột bực và học thức quảng bác, được dân chúng gọi là “ông Phật Dừa”, bởi vì thực phẩm dinh dưỡng của ông không có gì khác hơn nước cốt và nước dừa tươi. Vào rằm tháng chạp mỗi năm, dịp cận Tết, dân chúng lại kéo tới đảnh lễ ông, để nhận được của bố thí là một bao gạo. Đổi lại, họ biếu ông đá ong và gạch Tàu cho ông Phật Dừa xây chùa. Sau khi một điện thờ giản dị được xây xong, ông nhập thất trong tư thế liên hoa thiền tọa. Chuyện rằng, ông đã chủ tâm tìm về cõi tử bằng thiền định và đạt được giác ngộ. Từ dạo ấy, vì hiếu kỳ cũng như mộ đạo, dân chúng những vùng lân cận và ngay cả những nơi xa xôi lũ lượt tìm tới viếng cảnh chùa được đặt tên Hột Lúa, nhằm tạ ơn và tán tụng công đức ông. Trong chánh điện chùa, trên điện thờ lung linh ánh nến và khói nhang nghi ngút, nhục thân ông lúc viên tịch được trưng bày trong tủ kiếng trông vẫn tươi tắn, dẫu thời tiết ẩm nóng.
Nhà sư trú trì đón lấy món quà gồm một lon bơ mặn và một ổ bánh mì ba-ghét nóng giòn. Ông đưa quà cho chú tiểu đem cất và chắp tay xá tạ ơn. Ông mời hai người khách, một người đàn ông da trắng cao lớn và một nam thanh niên bản địa mảnh khảnh, ngồi xuống cạnh chiếc bàn thấp, tránh chỗ nắng hắt qua nhiều rãnh cửa hẹp, càng lúc càng nóng. Vị giáo sĩ, với hai chân và hai tay dài ngoẵng, ngồi bệt một cách khó khăn xuống tấm chiếu trải trên sàn lót gạch nung. Trái lại, cậu thanh niên ngồi tréo chân một cách thuần thục. Trong không gian tĩnh lặng một sáng sớm, thảng hoặc bị dấy động bởi tiếng ruồi vi vu, lan tỏa một mùi hương lạ kỳ, pha trộn đằm đằm mùi nhang khói và ẩm mốc.
Hai người khách cất tiếng tự giới thiệu và giải thích lý do cho buổi thăm viếng nầy.
“Dạo gần đây đức thầy có vài thay đổi”, sư trú trì nói với Cha Bốn và Thầy Thông, thoáng ném tia mắt đầy vẻ lo âu qua chỗ trưng bày nhục thể ông Phật Dừa trong tủ kiếng.
“Khuôn mặt thầy hằn thêm nhiều nếp nhăn. Tóc và móng tay thầy bắt đầu mọc dài”, nhà sư nói thêm và rót trà vô tách.
Cha Bốn và Thầy Thông đưa mắt nhìn nhau giây lát. “Có phải ông muốn nói, ông Phật Dừa vẫn còn tại thế?”, Cha Bốn không giấu được vẻ ngạc nhiên.
“Phật tử chúng tôi tin rằng, sau khi chết vong hồn con người lìa khỏi xác và lơ lửng đó đây”, nhà sư ngưng lời chốc lát. “Rồi sau đó, tùy chướng nghiệp, vong hồn sẽ được tái sinh trong một thân xác thiện hay ác. Thật vậy, cũng có khi là xác thân loài cầm thú”, ông mau mắn tiếp lời, giọng đầy tự tin.
Hai người khách lấp liếm nét mặt ngờ vực, bằng cách nâng tách trà lên miệng. Vị trà đắng chát, nhưng hậu vị ngọt đằm dễ chịu trong cổ họng.
“Vậy ông nghĩ chuyện gì đã xảy ra với nhục thể của ông Phật Dừa?”, Cha Bốn thắc mắc.
“Là người phàm, tôi nghĩ mình khó lòng biết được, thưa ông…”, nhà sư ngập ngừng. “Bấy lâu nay tôi cứ cho rằng, ngài đã tự nguyện tìm về cõi tử bằng thiền định, nhằm thoát vòng luân hồi. Tuy nhiên, những biểu hiện của nhục thân ngài lúc gần đây cho thấy, đó là trạng thái rữa nát thông thường. Các ông nhìn kỹ đi! Tóc và móng tay ngài dài ra và da thịt teo tóp lại.”
Cha Bốn và Thầy Thông bước lại tủ kiếng, ngắm nhìn kỹ lưỡng thi thể người chết. Trong vũng sáng yếu ớt hắt ra từ vài chân đèn cầy và ngọn đèn dầu, nhục thể với mớ tóc dài lơ thơ ngó như một xác ướp được quấn trong nhiều lớp vải phai màu bạc phết. Mép môi ngài nhênh nhếch như mỉm cười, khiến người xem liên tưởng những tượng đá mặt người tại thánh tích Đế Thiên Đế Thích, tồn tại vĩnh cửu trong tư thế liên hoa thiền tọa với hai lòng tay mở ra đặt trong lòng.
“Biết đâu chừng tôi chỉ hoang tưởng xằng bậy”, nhà sư trú trì thốt lời. “Nhưng mà thực tế là như vậy. Tất cả đều vô thường”, giọng ông nghe như tiếng thở hắt.
*
“Chào Cha Bốn”, tiếng ai rụt rè vang lên bằng Pháp ngữ với âm giọng địa phương.
Vị giáo sĩ giật mình, ngẩng đầu. Một đứa con trai, trên người vỏn vẹn chiếc quần xà lỏn và tấm lá chằm khoác vai, đang đứng trong mưa, miệng ngỏn ngoẻn ngượng ngùng. Từ hai lỗ mũi cậu thập thò dòng nước trắng hếu, ngó tựa hai con đuông dừa. Lập tức, cậu hít mạnh, thu hai con đuông trở vô mũi.
“Chào cậu nhỏ. Cậu là ai vậy?”, ông đáp lại bằng tiếng An-nam.
“Con đây, Lan-đi, đứa dộng chuông ngày thứ hai”, thằng con trai nhấn giọng chậm rãi và rõ ràng từng chữ một. “Ông biết con mà. Con là đứa rút thăm trúng ngày thứ hai và được ông đặt cho con cái tên nầy.”
Hai con đuông trắng hếu lại bò ra, thập thò hai lỗ mũi cậu nhỏ.
“Á, sao ta nhớ nổi. Lâu quá rồi”, Cha Bốn loay hoay nhớ lại. “Cậu vô đây trú mưa dưới mái hiên, không thôi trúng lạnh.”
Cậu nhỏ hít một cái rột, nuốt trửng hai con đuông vô bụng. “Bữa nay con không rảnh, thưa ông. Con còn phải đi học nữa.” Vừa dợm chân bỏ chạy, cậu nhỏ dừng lại ngập ngừng rồi nhanh nhảu: “Con suy nghĩ lại rồi và sẽ để cho ông gội đầu.”
“Ý cậu muốn nói cậu sẽ để cho ta ‘rửa tội’, đúng không?”
“Người ta nói, đó là cách trừ chí có hiệu quả của ông. Ngứa quá trời luôn”, cậu lớn giọng nhằm át tiếng gió rít ngang rồi biến dạng trong không gian nhá nhem một sáng mưa dầm, không lời từ giã.
Khi Thầy Thông đem khăn và thau nước ấm vô cho ông, ông thuật lại cho thầy nghe mẩu chuyện mới nãy và lên tiếng phàn nàn việc dân làng hiểu sai ý nghĩa bí tích thanh tẩy một cách nực cười.
“Thưa ngài, cần phải giải thích cho họ hiểu nhiều hơn nữa…”, Thầy Thông ngưng một đỗi, để khỏi bật tiếng cười lớn, rồi nhấn mạnh từng chữ một: “Nếu kiếp nầy không xong, thì kiếp sau.”
“Con có lý”, vị giáo sĩ thở dài. “Ta đã hoàn thành nhiệm vụ của Chúa Trời giao phó bằng văn bản. Giờ đây chỉ còn mỗi việc tìm cách thuyết phục người dân nơi đây”, Cha Bốn ám chỉ xấp văn kiện chất chồng trên bàn.
Lúc nầy, Thầy Thông mới thật sự ý thức ra những thành quả của vị giáo sĩ, nhọc nhằn đêm từng đêm, cả thập niên dài tại một xứ sở do chính ông lựa chọn, mùa mưa cũng như mùa nắng, không quản ngại công lao cũng như những bất trắc tại miền đất xa lạ. ‘Ai hay điều gì đã thúc đẩy ông hoàn thành việc làm ngoài sức tưởng tượng đó?’, thầy tự hỏi.
“Con chúc mừng cha”, Thầy Thông tán dương.
Giáo sĩ chậm chạp đứng lên, dang rộng hai cánh tay cho Thầy Thông cởi giúp ông áo quần và lau rửa thân thể. Người ông thoảng men rượu vang, mùi chua của mồ hôi và ốm thấy rõ, trông như rậm lông hơn hẳn. Thầy Thông thận trọng lướt tấm khăn nhúng nước ấm lên phiến lưng vị giáo sĩ hằn vết roi tự hành xác. Giáo sĩ dằn cơn đau, bằng cách kể lại những chuyện thoáng qua đầu, từng chữ một bằng tiếng An-nam, như người ngủ mớ.
“Đức cha Carzardieu, giảng sư thần học của ta thuở đó, là một người dễ mến, nhưng tính khí thất thường. Mối liên hệ giữa ta và ngài mật thiết đến nỗi có thể bàn luận về mọi đề tài. Ta coi ngài như một người cha tinh thần. Là một người mộ đạo xác tín, nhưng ngài lại quan niệm rằng, nhân loại được Thiên Chúa tạo dựng không bình đẵng nhau. Ngài từng nói, có những chủng tộc được sinh ra để phục tòng những chủng tộc khác. Giống như loài người chúng ta tòng phục thượng đế, những giống người được Thiên Chúa tạo ra ở những nước bị đô hộ, hiện hữu chỉ để lệ thuộc người Pháp.”
“Ngài muốn nói, thưa cha, rằng chúng ta không ngang hàng nhau?”
“Không phải ta nói, mà là ông ấy, đức cha của ta”, giáo sĩ cao giọng, rồi nhỏ nhẹ trở lại. “Con trai yêu quý của ta ơi, nếu không thì làm sao thế giới nầy có được tôn ti trật tự, đã có lần đức cha hỏi ta như vậy. Lúc ấy ta không biết cách phản đối ngài, cho dù có điều gì đó lấn cấn trong ta. Theo thời gian ta nhận ra, điểm lấn cấn nằm ở vấn đề ‘trật tự thế giới’ được ngài nhắc tới. Cho loài người chúng ta, thứ trật tự nầy đã và vẫn còn là một đẳng cấp cao độ mà chúng ta không thể nào sắp xếp cho ngay hàng thẳng lối được. Tại sao? Rất đơn giản, chỉ vì chuyện đó không hiện hữu. Chúng ta có thể hiểu được vũ trụ và những hành tinh trong đó. Chúng ta có thể đo đạc và phác họa bản địa đồ thế giới cùng ngũ đại dương, sông ngòi, núi non, rừng sâu và sa mạc. Chúng ta có thể khảo cứu thấu đáo mọi hoạt động của cơ thể con người, mọi bệnh tật, cũng như những bệnh nan y để tìm cách chữa trị. Nhưng mà, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được, chúng ta từ đâu tới.”
Trong lúc Cha Bốn thốt ra những điều nầy, ông khép mắt nhớ lại những hình ảnh quá khứ trong tâm tưởng.
“Ta đang nói về người giảng sư của ta, không phải về bản thân ta. Con nghĩ lại coi, cuộc đời con sẽ ra sao, nếu như ông bà Lacroix không tới viện mồ côi, đem con về nuôi?”, ông tiếp lời, như người vừa tỉnh mộng. “Ấy, con làm ta lạc đề mất rồi! Đức cha và ta cũng đã nhiều lần bàn luận về những vấn đề thầm kín trong đời tu sĩ. Ta muốn ngài cho ta biết, người tu hành kiềm chế dục vọng ra sao. Ngài nói, họ có thể đọc kinh cầu nguyện Thiên Chúa. Nếu không xong, chỉ còn mỗi cách phải chịu đau đớn bằng phương pháp tự hành xác mà thôi.”
Thầy Thông đưa mắt ngó trân trân những đường roi hằn dấu trên phiến lưng giáo sĩ. Chúng còn rướm máu tươi rói. Thoáng chốc, trông chúng tựa loài ký sinh trùng ngọ nguậy theo từng nhịp thở của giáo sĩ. Thầy Thông tưởng như chúng là những con rắn tội lỗi vừa lột xác, đang tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa của thân xác Cha Bốn. Chúng khiến thầy liên tưởng những bức tranh của họa sĩ phương Tây vẽ những vết tích để lại trên thân chúa Giê-su và những động tác của Cha Bốn trong phòng ngủ đêm nào, thầy đã có lần lén thấy qua khe ván. Trong đêm lặng gió, âm thanh rên xiết cố nén nhắc thầy nhớ lại tiếng la hét ngày ấu thơ của Kim An. Trong những khuya lẻ loi dằn vặt, không như âm giọng pha lê trong trẻo thường ngày, tiếng gào thét của cô bé dội vang từng chặp, tựa như tiếng thú rú rống đau đớn vọng lại trong chiêm bao của Thầy Thông. Thầy giật mình bật dậy, mồ hôi ướt đẫm. Hai mắt thầy đăm đăm trâng tráo soi nhìn bóng tối. Mớ hình ảnh vang vẳng âm thanh, sống động đến nỗi tưởng như giơ tay bắt được.
Chưa lần nào thầy kể cho Cha Bốn nghe về những chương đời thơ ấu buồn thảm nầy. Thầy không biết tại sao.
Thầy giơ tay lau sạch vài giọt nước mắt rơi xuống lưng giáo sĩ và bảo ngài quay người lại.
“Khổ đau là phương pháp duy nhất nhằm đè nén dục vọng thể xác một cách hiệu quả”, Cha Bốn thều thào như độc thoại.
“Đúng vậy, thưa cha”, Thầy Thông hờ hững tán đồng, trong lúc đưa khăn ướt lau ngực giáo sĩ. Những động tác của thầy không gây cho ông chút cảm hứng nào. Những thớ thịt thư giãn và nhũn nhão như thể linh hồn cũng như sinh lực ông vừa rời khỏi xác.
“Con có lời chúc mừng về việc hoàn tất công trình dịch thuật, thưa cha”, Thầy Thông lặp lại, cầm bô vệ sinh lên và rời phòng.
Ánh đèn dầu nhàn nhạt soi bóng thầy mỏng mảnh in lên vách ván, chừng như run rẩy. Thầy cảm nhận một nỗi khắc khoải liên kết quá khứ với hiện tại, tưởng mình già nua thêm vài thập niên.
(07.2026)
(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.