Vinh Danh Người Lính.
Captovan (Tô Văn Cấp)
Trong một nước, một xã hội có trăm thứ giai cấp, trăm thứ thành phần, ai cũng được hưởng quyền lợi tuỳ theo nhiệm vụ. Nhưng có một thành phần quan trọng nhất mà lại hưởng quyền lợi thấp nhất, chịu thua thiệt đủ đường, vậy mà không than phiền, trái lại còn hãnh diện nhận trọng trách, đó là:
Quân đội nói chung, người lính chiến nói riêng.
Xưa – từ thời phong kiến, người ta sắp xếp thứ tự ưu tiên: sĩ, nông, công, thương. Người lính… bị bỏ ra ngoài.
Nay – ngoài đời, người ta xưng tụng nhau “ông nọ bà kia”, “ông thông bà phán”, nhưng lại gọi… “thằng lính”.
“Thằng lính” chịu thiệt thòi nhiều nhất: thiệt thòi gia đình, đời sống, tuổi trẻ, và sau cùng là mạng sống.
Thượng Đế công bằng ban cho mỗi người một mái nhà, một đời sống yên bình như nhau. Nhưng người lính phải hy sinh cái yên bình của mình để giữ an bình cho người khác. Người ta ngủ ngon vì có người lính thức gác suốt năm canh. Người ta được sống để vinh thân phì da vì đã có người lính chấp nhận cái chết.
Vậy có cần vinh danh người lính không?
Không phải là cần, mà là bắt buộc phải.
Vinh danh như thế nào?
Một sư đoàn, một tiểu đoàn được tuyên dương vì chiến thắng, vì giữ vững trận tuyến. Điều đó đúng. Nhưng đọc vài câu: “Vinh danh các anh hùng tử sĩ… Vinh danh các chiến sĩ vô danh…” mà không nêu tên cá nhân thì đó là thiếu trách nhiệm.
-Danh dự của đơn vị được xây bằng máu của từng người lính.
-Chiến thắng của tập thể là do cái chết của từng cá nhân.
Chỉ ghi những con số vô hồn: “12 tử trận, 37 tổn thất” mà không trả lại cái tên cho người đã chết, bắt họ “vô danh”, là vô trách nhiệm và vô lương tâm.
Một sự cố tình thì đúng là của kẻ “bàng quang”, kẻ bên lề cuộc chiến điên dại lại hỗn hào, bảo người tuẫn tiết vì mất nước là chuyện bên lề!
Sử xanh nước Việt vinh danh các anh hùng tuẫn tiết theo thành như các Danh Tướng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và “Ngũ Hổ Tướng Quân”.
-Hạm Trưởng John Smith chìm theo tàu Titanic,
-Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà “chìm” theo HQ10.
Người lính nhận lệnh hành quân với 5W.
Vậy khi người lính tử trận cũng phải trả lại họ 5W:
Who – What – When – Where – Why.
Người lính tử trận có tên, có số quân, có cấp bậc, chức vụ, đơn vị. Họ đã chiến đấu rồi bị đạn AK xuyên qua màng tang, không kịp ngáp, không kịp nhìn máu và óc mình văng sang mặt thằng bạn nằm bên cạnh vào ngày N, giờ G tại Kinh Cái Thia, quận Cai Lậy, đạn xuyên ngực tại cây số QL1 Phong Điền Thừa Thiên, mất xác tại Động Ông Đô Quảng Trị, cụt đầu tại Đồi 10 Quảng Ngãi, gãy chân tay tại Kinh Cán Gáo Chương Thiện, tử trận tại mọi chiến trường từ Bến Hải đến mũi Cà Mau.
Đó mới là vinh danh.
Đó là trả lại tên cho người lính đã mất tên.
Người lính đã hy sinh mạng sống.
Người hậu phương-người có quyền lực, “có chức”,chỉ cần hy sinh… vài phút để ghi tên người lính tử trận vào sử xanh.
Vậy mà cũng không làm, vì ngại khó, ngại nhớ tên “thằng lính” đã chết để mình được vinh thăng.
Không ngại khó mà ngài mải mê với con số “vạn cốt khô” để mình được công thành. Rồi ngài hỏi: “Tại sao phải vinh danh mấy thằng lính chết trận?”
Quan hỏi thật thông minh!
Tại sao phải vinh danh người lính chết trận?
Vinh danh để người người biết ơn đã được cứu sống.
Vinh danh để người chết được yên mồ.
-Người sống biết mình đang hưởng điều gì.
Gia đình tử sĩ biết cái chết của chồng, cha, con họ không bị bỏ xó.
Và người đã nằm xuống được yên lòng, vì tên họ còn được nhắc, còn được nhớ, còn được gọi lên giữa trời đất — làm gương sáng cho thế hệ mai sau.
Vinh danh người lính không phải một nghi thức. Đó là bổn phận của cấp chỉ huy, của từng người dân đang sống trong hòa bình.
Hòa bình không tự nhiên mà có.
Hòa bình được đổi bằng những người lính đã không còn trở về!
Thế Còn Người Trở Về Trên Đôi Nạng Gỗ?
Vinh danh người lính tử trận thì dễ.
Họ đã nằm xuống, không cần nén nhang, không cần chén cơm trái trứng.
Người lính đã về Thiên Quốc, họ có tất cả thì có cần chi đâu.
Nếu ta có đốt nén nhang, cúi đầu cũng chỉ là cho phải phép.
Nhưng còn những người lính chưa chết!
Anh “chưa chết đâu em”, chỉ mất một cái chân, một cánh tay, một con mắt, hoặc bi đát là mất cả hai, nên bị xã hội tặng cho chữ “phế”!
Vết thương đã đau, còn kèm theo “phế”- phế thải thì ê chề biết bao!
Thương phế binh già không sợ chết, mà sợ chết không được, vì vẫn còn cửa khẩu, cửa hậu đòi quyền sống.
Phế binh không còn tự lo cho bản thân thì lấy gì giúp cho xã hội?
Không đúng.
Họ giúp xã hội bằng chính cái phần thân thể đã mất đi.
Phế binh mất chân để ta được đi lại.
Phế binh mất tay để chúng ta được ôm ấp hạnh phúc, ôm vợ con.
Phế binh mất đôi mắt, suốt đời chịu tối tăm để chúng ta được nhìn nét đẹp duyên dáng, nụ cười tươi, ánh sáng mặt trời.
Chúng ta-những người đầy đủ mọi thứ, nếu không muốn nói là dư thừa mà vẫn được nước Mỹ trả phụ cấp cho chữ hiếu-con săn sóc cha mẹ già.
Vậy chúng ta nghĩ gì với phế binh nửa tinh nửa mê, nửa sống nửa chết?
Trách nhiệm của chúng ta là phải trả lại cho phế binh những gì mà họ đã cho chúng ta mượn.
Phế binh đã “trả nợ Tổ Quốc” xong, Tổ Quốc là của chung, trừ phi quý vị không cùng chung Tổ Quốc với phế binh.
Phế binh không cần nhang khói, không cần vòng hoa, họ chỉ cần một chút oxy để thở, một chút nước cho đỡ khát, và một “chút gì để nhớ để thương” cái bao tử.
Trả lại cho thương binh tử sĩ sự trân trọng là thái độ công bằng và nhân bản của người Việt tử tế./.





