Về qua Văn Khoa Saigon nhớ Thầy tôi

 Phan Văn Thạnh

ve qua van khoa 02

Mỗi bận về ngang Văn Khoa Saigon xưa (nay là trường Đại Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh), tôi thường đưa mắt nhìn phía trái cổng ra vào. Dãy phòng học mái fibro xây dựng trong khuôn viên trường nằm cặp bên hông đài truyền hình Saigon số 9 chỉ còn là cái bóng nhạt nhòa – Nơi in dấu vết những ngày đi cours Chứng chỉ Ngữ học Việt Nam – cái Chứng chỉ với tôi thật hóc búa, phải đánh vật 2 năm (khóa 1 năm 2) mới đạt Bình Thứ! Tất cả lùi xa dễ chừng gần nửa thế kỷ (1970). Tôi nhớ vô cùng những buổi học với GS LM Lê Văn Lý. Thầy đến lớp rất đúng giờ. Chiếc xe Volkswagen đưa đón, hình ảnh thầy trong bộ áo chùng trắng cổ cồn, khoan thai nghiêm cẩn, thần thái thông tuệ thu hút sự cung kính từ phía sinh viên. Ngoài công tác thỉnh giảng, thầy còn đảm đương trọng trách Viện trưởng Viện Đại Học Đà Lạt nên thời khóa biểu dành cho Văn Khoa SG được bố trí cuốn chiếu từng đợt ngắn. Bọn sinh viên chúng tôi không dám chểnh mảng bỏ cours. Bởi bộ môn Âm vị học luôn được chọn ra thi hoàn tất chứng chỉ – cùng với bộ môn Chính tả Việt ngữ của Gs Lê Ngọc Trụ (*).

ve qua van khoa 01.pngThầy sinh năm 1913 trong một gia đình nông dân chất phác tại Lệ Thủy, huyện Duy Tiên, Hà Nam – được rửa tội với tên thánh Phanxicô Xaviê . Năm 1920, lên bảy tuổi tập tu trong nhà xứ, giáo xứ Trác Bút. Sau đó lần lượt theo học Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên (năm 1928) – du học tại Saint-Pol-de-Léon, Finistère, miền Bretagne ở Tây Bắc nước Pháp (năm 1930) – học lên Đại chủng viện ở Issy-les-Moulineaux Paris (năm 1936). Thầy được tấn phong linh mục ở nhà thờ Notre Dame de Paris (năm 1941) – Tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương Trường Đại Học Paris (Sorbonne năm 1944) – Đậu Tiến sĩ Quốc Gia Văn Chương Pháp (năm1948) với luận án “Le Parler Vietnamien” – chuyên ngành nghiên cứu Ngữ Học dưới sự bảo trợ của GS André Martinet (1909-1999), trường Cao Học Thực Hành Paris (École Pratique des Hautes Études de Paris tức là IVème Section de la Sorbonne).

– Năm 1966 Thầy được cử làm Phó Viện Trưởng Viện ĐH Đà Lạt, kiêm Khoa Trưởng Trường Đại Học Văn Khoa; giai đoạn 1970 đến 1975 Viện Trưởng Viện ĐH Đà Lạt.

– Năm 1980 nghỉ hưu tại Paris – Pháp, sau đó chuyển qua Hoa Kỳ từ 1983. Thầy qua đời ngày 10/10/1992. Nghi thức tiễn đưa lần cuối chẳng khác gì cuộc đời của một vị Linh Mục. Có lúc cũng trang trọng (với nhiều Linh mục đồng tế trong thánh lễ ở nhà thờ chính tòa Springfield, Missouri). Có lúc cũng lẻ loi (như khi mọi người tản mát ra về, cỗ áo quan đặt trên miệng huyệt chờ người tới chôn).

Giáo trình ngữ học của thầy chủ yếu là khai triển phương pháp phân tích cấu trúc ngữ học áp dụng sáng tạo vào cấu trúc tiếng Việt. Thuyết cấu trúc xuất hiện ở châu Âu những năm 1950. Các công trình ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure đã chỉ ra “ngôn ngữ là hình thức chứ không phải chất liệu”, nó là một hệ thống kí hiệu, mà kí hiệu là một thực thể kết hợp giữa “cái biểu đạt” với “cái được biểu đạt”. Người đề xuất chủ thuyết cấu trúc trong nghiên cứu ngữ pháp, là GS André Martinet ở Đại Học Sorbonne.

Công trình ngữ học của thầy có ảnh hưởng lớn lao trong giới học giả ngữ học và sinh viên. Các sách Ngữ pháp cổ điển (Văn phạm), kể cả trong tiếng Việt, đều có xu hướng viết theo khuôn mẫu ngôn ngữ Ấn Âu, trên nền tảng La Ngữ, từ thời Platon (427-347 trước Công nguyên) đến trường phái Port Royal (Port Royal Logic thế kỷ 17). Mãi đến khi Noam Chomsky – một nhà ngữ học Hoa Kỳ mới,h oàn thành luận án tiến sĩ “Transformational Analysis” ở Trường ĐH Pennsylvania năm 1955, chiều hướng lý luận “cấu trúc thuyết” được xác định rõ hơn trong nghiên cứu ngữ học.

Âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh được sử dụng nhằm truyền tải ý nghĩa trong bất cứ một ngôn ngữ nói nào của con người. Một ngôn ngữ,bên cạnh cú pháp và từ vựng, còn có hệ thống âm vị tác động đến thính giác. Khác với ngữ âm học nghiên cứu cách tạo ra, truyền tải và nhận thức âm thanh một cách vật lý, âm vị học nghiên cứu chức năng hoặc cách ký hiệu âm thanh trong một ngôn ngữ nhất định. Thuật ngữ “âm vị học” được dùng trong ngôn ngữ học thế kỷ 20 có thể bao gồm cả âm vị học và ngữ âm học.

GSLM Lê Văn Lý được đánh giá: “là một nhà giáo dục kiệt xuất, một nhà ngữ học độc đáo, một vị linh mục đầy lòng nhân áí đối với bạn đồng nghiệp và đối với học trò. Về Quản Lý Giáo Dục Đại Học, Cha Viện Trưởng Lê Văn Lý có một con đường, một đạo quản lý đơn sơ, khiêm nhu mà rất hiệu năng”. (Gs Nguyễn Đình Hòa trong Tuyển Tập Ngôn Ngữ Văn Tự Việt Nam).

Theo người viết Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm: “GSLM Lê Văn Lý là một con người điềm đạm, tận tụy và thụ hưởng trọn vẹn những gì được phép theo nhận thức tu hành Công giáo thuần thành của cha, nhưng không bao giờ để lòng dính bén bất cứ ai hay thứ gì. Ngài thường hay nói “Giả trá!” vừa tủm tỉm cười. … Ngài vẫn luôn nói câu này khi đứng trước tất cả nhưng biến cố vinh hoa trần thế. Có lúc ngài còn thêm: “Giả trá! Vanitas, Vanitas Vanitatum et Omnia Vanitas!” – (Tiếng La Tinh – Hư không của sự hư không – thế sự hư không!)

Với tôi, Văn Khoa Saigon trôi tuột về phía  sau mất hút! Bạn đồng khóa tứ tán, bạc trắng mái đầu. còn mất … Nhìn về thăm thẳm – lố nhố những bóng hình loang lổ. Đúng là Vanitas Thầy ơi !

Phan Văn Thạnh

(Saigon,18/12/2017) – (Tham khảo nguồn vdhdalat.wordpress.com)

 (*) GS Lê Ngọc Trụ (1909-1979)Gần nửa thế kỷ nghiên cứu Ngôn ngữ học và Văn hóa Việt Nam,ông đã để lại nhiều công trình biên khảo,bài viết về ngôn ngữ,sử học – Đáng kể nhất là 3 tác phẩm: – Chánh tả Việt ngữ (I, II), Nxb Nam Việt, 1951 (tái bản thành một cuốn – Nxb Trường Thi,1960) – Việt ngữ chánh tả tự vị, Nxb Thanh Tân,1960, tái bản,1971(Giải thưởng văn chương, bộ môn biên khảo) –Tầm nguyên tự điển Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.