UNG THƯ VÚ

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

Người phụ nữ đẹp không những chỉ có khuôn mặt duyên dáng mỹ miều, mà còn phải có thân hình cân đối với những đường cong tuyệt vời. Đường cong tuyệt mỹ đó là nhờ ở bộ ngực nẩy nở đều đặn.

Bộ ngực là niềm hãnh diện của người phụ nữ. Nó tượng trưng cho nữ tính, vẽ đẹp duyên dáng, sức khỏe dồi dào, tình dục sung mãn tràn đầy nhựa sống. Thật là…nồng nàn!

Nó cũng nói lên tấm lòng vị tha bao la của người mẹ dịu hiền. Nó nói lên sự nhiệm mầu, nghĩa vụ thiêng liêng gắn bó tình mẫu tử, bởi vì bộ ngực còn là bầu sữa ấm nuôi dưỡng con cái cho khôn lớn, không ngại khó khăn gian lao khổ cực… Chính vì vậy mà hình bóng của bà mẹ hiền, bà mẹ quê, quê ngoại không bao giờ xóa nhòa trong tâm trí của chúng ta.

Nhưng than ơi! Nó cũng là niềm đau nỗi khổ, vì nó là nơi phát sinh ra rất nhiều bịnh tật, giày vò thân xác họ, nguy hiểm nhứt là bịnh ung thư.

Ung thư vú (UTV) chiếm 20% tổng số tử vong của phụ nữ. Bịnh UTV có nhiều ở Mỹ hơn các nước Á Châu như Nhựt Bổn và Ðài Loan tới 5 lần. Năm 2005, có trên 200.000 phụ nữ mắc bịnh nầy. Cứ 100.000 phụ nữ thì có 27 người mắc phäi bịnh và hàng năm có 43.000 người vong mạng.

Ung thư vú đứng hàng đầu ung thư của phụ nữ tại Úc. Theo Viện Sức khỏe và Phúc lợi Úc năm 2006, thì hằng năm có them 13.260 phụ nữ đau khổ vì nó. Riêng tiểu bang Victoria, có tỷ lệ ung thư vú rất cao. Cứ 14 người phụ nữ có 1 người mắc bịnh nầy. Tỷ lệ tử vong là 20.7%.

Ðàn ông cũng không tránh khỏi bịnh nầy. Tuy nhiên có rất ít người mắc phải nó, chí có 1% tổng số ung thư vú mà thơi. Tỉ lệ là một cho 1250 ông.
Như vậy hằng năm có cả 100 người đàn ông được định bịnh là mắc bịnh UTV. Con số này cao gắp đôi 20 năm về trước. Số phụ nữ trẻ dưới 40 tuổi mắc phải nó cũng gia tăng. Hiện nay là 6% tổng số bị ung thư vú. Càng trẻ bịnh càng phát triển nhanh và kết quả cũng tồi tệ hơn.

Nhưng nhờ phương pháp tân kỳ, máy móc tối tân, thuốc men hay và đầy đủ, cùng phối hợp với việc điều trị tận tình, tỉ lệ sống quá 5 năm nhảy vọt từ 71 lên 86%, sống quá 10 năm lên 80%, sống quá 15 năm lên 71%.

Có mấy loại ung thư vú?

Trước hết xin sơ lược về cơ thể học
Vú cấu tạo bởi:
• Chừng 20 thùy tuyến sữa, ống dẫn sữa kết chùm lại tại núm vú. Núm vú được bao quanh bởi quầng vú. Nơi đây có nhiều sợi thần kinh cảm giác nên dễ bị kích thích khi sờ tới.
• Vú nẩy nở là nhờ kích thích tố nữ oestrogen trước rồi tới progesterone.
Trong lúc dậy thì, oestrogen giúp tế bào phân hóa, gia tang và tăng trưởng để thành các đường ống dẩn sữa. Cuối cùng vú lớn lên có hình dạng tuyệt mỹ.
• Vú không có cơ thịt mà chỉ cấu tạo bởi mô mỡ và mô liên kết
• Ngoài ra còn có nhiều mạch máu, hệ thống bạch huyết và dây thần kinh rất nhạy cảm.
• Vú lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào lớp mỡ nhiều hay ít, mà cũng tùy thuộc theo sự tiết chế của kích thích tố lúc dậy thì và thai nghén.
• Vú nằm giữa da và xương sườn thứ 2 tới thứ 6. Nó được nâng cao, nhọn và không xệ nhờ các dây chằng. Khi dây chằng nhão giãn, vú sẽ xệ xuống mất đi vẻ thẩm mỹ.
Ung thư vú có hai loại
• Ung thư ống dẫn sữa chiếm 90%
• Ung thư tuyến vú và mô sợi liên kết chiếm 10% còn lại.

TẠI SAO BỊ UNG THƯ VÚ?

Ung thư vú thường gây ra do:

A. Những rủi ro gây ra gồm có:

• Tuổi tác từ 30-80, nhiều nhứt từ 45-65. Rất hiếm dưới 35 và nhiều nhứt là ở tuổi trên 60.
• Có thể do di truyền, di tính. Nếu mẹ hay chị trong gia đình bị ung thư vú thì con, chị hay em gái có nhiều nguy cơ bị ung thư vú.
• Tiền sử có ung thư một bên vú hay nơi nào khác.
• Ðột biến gene của vú thay đổi nếu không có tiền sử gia đình.

B. Những nguy cơ đưa tới ung thư vú.

• Ảnh hưởng kích thích tố đưa tới như có kinh nguyệt sớm trước 12 tuổi hay mãn kinh trể sau 50 tuổi.
• Vì đời sống văn minh, ngày nay phụ nữ có con đầu long muộn, sau 30 tuổi và không cho con bú, để vú chịu ảnh hưởng của kích thích tố một thời gian lâu dài hơn xưa.
• Có thể do dùng thuốc ngừa thai lâu năm và dùng kích thích tố thay thế lâu năm. Từ ngày bớt dùng nó, bịnh ung thư vú giảm rõ rệt.
• Xạ trị ung thư nơi nào khác trước.
• Nhà ở gần cột hay dưới đường dây điện cao thế.
• Phì mập,
• Rượu và thuốc lá cũng làm gia tăng nguy cơ UTV.
• Thực phẩm cũng dự một phần nào trong nguyên nhân của bịnh ung thư vú. Ðồ ăn có nhiều mỡ dầu làm gia tăng sự nguy hại UTV. Theo các tài liệu nghiên cứu cho thấy người Nhật ở Nhật, ăn rau cải, đậu hủ và rất ít dầu mở. Trái lại người Nhật ở Mỹ ăn dầu mở rất nhiều. Chính vì vậy mà tỷ lệ UTV cûa họ cao hơn người Nhật ở quê nhà.
• Thực phẩm thiếu chất selenium để xúc tác men seleno glutathione peroxidase (GPx-1).
Những ai có những nguy hại trên, cần phải được kiểm tra kỹ và theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm, sẽ trị hết luôn.

• Những di dân từ các nước có một tỷ lệ ung thư rất thấp, sau khi sinh sống trên đất Úc trở nên có một tỷ lệ ung thư vú cao gần bằng người Úc. Thí dụ: Người Ý và Nam Tư có tỷ lệ là từ 5 tới 10 ở xứ họ, sang Úc nó tăng lên tới 17 cho 100.000 người.

• Gần đây người ta phát hiện, những ai có đời sống cao, nhàn rổi, không năng động, không thể thao, thể dục cũng dễ bị ung thư vú.
• Nghèo khổ, bị thiệt thòi trong xã hội, nhưng cũng là cái may đó quý vị! Vì theo các nghiên cứu cho thấy giới thượng lưu bị ung thư vú nhiều hơn những người tài chánh eo hẹp, nấc thang xã hội thấp kém! Trời thương người nghèo, luật bù trừ đó mà!

LÀM SAO BIẾT ÐƯỢC BỊ UTV?

Trên 90% cûa bịnh UTV phát hiện được bởi chính bịnh nhân, chớ không phải BS.
• Phải tự ngắm ngực mình coi có thay đổi gì không.
• Phải tự khám ngực lấy theo như hình…
• Tìm thấy những hạch nhỏ nơi vú hoặc ở vú, nách.
• Chảy nước ở núm vú.
• Núm vú lộn vô trong, núm vú lở,đỏ, vú lệch một bên, vú rút lên trên, vú to hơn bên kia, vú
có hột cứng.
• Da vú dầy lên, trơng giống như võ trái cam.
• Trong vú có hạch cưng cứng không đau, nách bên vú đó có hạch.
Bệnh nhân có thể than đau lưng, xương, đừng nghĩ là họ đau bịnh loãng xương (osteoporosis). Nếu đau xương cộng với mất cân phải nghĩ ngay tới bịnh ung thư lan tràn đi nơi khác. Nó có thể lan tới gan, xương, phổi…

Trường Hợp UTV Ðặc Biệt

1-Bịnh Paget vú:
Bịnh Paget vú hay UTV Paget chiếm 1% của UTV. Bịnh phát sinh từ ống dẫn sữa. Có điều là nó phát hiện ra ngoài da của núm vú, quần xung quang núm vú giống như chốc lở (eczema), đỏ, lở loét, đau đầu vú. Có khi nó phát tán vào nách như bướu sờ được.
Muốn định bịnh cho chính xác, phải làm sinh thiết để tìm tế bào Paget. Ðây là tên vị Bs tìm ra nó năm 1874, Sir James Paget.

2-Viêm UTV:
Bịnh nầy chiếm 3% tổng số UTV. Ðây là loại độc hại nhứt, nhanh nhứt và đau nhức hơn hết. Nó phát sinh thành lở đỏ 1/3 làn da của vú, đôi khi bướu đau dưới da, có khi không có bướu mới là khó. Nếu thử trị bằng trụ sinh 1 tới 2 tuần mà không hết, phải làm sinh thiết.

3- Bịnh UTV tái phát lúc mang thai hay cho con bú:
Tỉ số chừng 1-2% mà thôi. Nhiều khi khó biết vì sự biến dạng của vú lúc mang thai.

LÀM THẾ NÀO ÐỂ TÌM BỊNH UNG THƯ VÚ?

Muốn biết đúng là bịnh UTV, cần phải làm thử nghiệm sau:

1. Quang tuyến vú (mammography).

• Chụp hình vú có thể phát hiện được ung thư 2 năm trước khi tay sờ được cục bướu nhỏ.
• Chụp hình vú cũng có thể phát hiện các bướu ở bịnh nhân phì mập, mà tay không phát hiện được
• Tuy nhiên cũng có thể sai, cần xác định lại bằng phương pháp khác.
• Cứ trên 2 năm, tất cả phụ nữ trên 27 tuổi cần phải chụp quang tuyến vú một lần.
Chính phủ có chương trình dò tìm ung thư cho phụ nữ trên 50 tuổi được chụp miễn phí đến 70 tuổi, sau đó không cần chụp nữa.
Hiện nay có trường phái khuyên nên làm mammogram hằng năm cho những người có nguy cơ bị ung thư vú và cho các cụ cao niên trên 70-80 để tránh phát hiện trễ.

2. Siêu âm vú.

Siêu âm có cái lợi trong trường hợp nghi ngờ. Siêu âm phát hiện các túi hay hơn chụp hình vú. Nhớ khi đi siêu âm vú, không nên tắm bằng xà bông thơm, thoa dầu hay dầu thơm, có thể làm
hình sẽ mờ mờ tưởng lầm ung thư?

3. Mơ bịnh học (histopathology)

Rút nước ở núm vú chäy ra đem đi thí nghiệm. Có thể lấy kim đâm (fine needle biopsy FNB) vô túi nước (cyst) hay bướu, rút nước hay tế bào ra rồi xét nghiệm.

4. Sinh thiết.

Sinh thiết là chính xác hơn hết. Có làm gì đi nửa cũng không bằng mổ lấy cục bướu đem đi thử nghiệm.
Trong tương lai sẽ sử dụng Herceptin, DNAGS John Hopper, ÐH Melbourne đề nghị cho xét nghiệm di tính để kiểm soát UTV. GS Ian Olver cũng đồng ý theo Hopper, nhưng thí nghiệm
nầy của Úc, hiện nay còn quá đắt. Hi vọng nó sẽ được sử dụng trong nay mai cho mọi phụ nữ.

Làm sao Trị và Ngừa Bịnh UTV?

Ngày nay việc điều trị ung thư vú rất dể dàng và có nhiều kết quả hơn xưa. Điều trị ung thư vú bằng nhiều phương pháp:

A. Giải phẩu:

• Chỉ mỗ lấy hạch ra thôi.
• Cắt một phần vú.
• Mỗ trọn vú và một phần bắp thịt ngực.
• Mỗ trọn vú và hạch trong nách mà không cắt bắp thịt ngực.
• Giải phẫu tái tạo vú

B. Xạ trị:

Dùng quang tuyến phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư.

C. Hóa trị:

Thuốc: Melphalan, Fluorouracil.
Tamoxifen: thuốc chống lại kích thích tố nữ (antioestrogen)
Herceptin (Trastuzumab) được dùng trong thời kỳ chót, nay được sử dụng sớm, có nhiều kết quả hơn. Theo Gs Ian Olver, thuốc có thể giảm nửa số bịnh nhân sẽ tái phát. Có thể dùng nó sau khi dùng hóa trị. Thuốc gây độc hại cho tim và làm suy tim. Như vậy phải cẩn thận theo dõi để ngăn ngừa suy tim nếu có.
Theo Gs Liz Lobb có thể dùng thuốc mới PARP-inhibitors để giảm tế bào hư hại bởi bịnh ung thư.

D. Hổn hợp:

• Giải phẫu với xạ tuyến.
• Giải phẫu với hĩa trị Tamoxifen.
• Ðối với bịnh nhân trẻ và quan tâm tới vóc dáng người phụ nữ, giải phẫu tái tạo có thể tạo cho họ có bộ ngực cân đối như xưa.

Nếu sau 5 năm mà:
• Bịnh không tái phát, kể như hết.
• Bịnh chưa vào hạch: 75% sống quá 5 năm
• Vào hạch: 50%
• Ðã phát tán xa rất khó được 5 năm. Tin mừng là hiện nay số bịnh nhân sống trên 10 năm rất nhiều.

Muốn ngăn ngừa UTV không gì tốt bằng:
• Nên có con sớm và cho con bú để tránh bị ung thư vú.
• Tất cả phụ nữ phải tự khám ngực mình, có gì nghi ngờ phải đến BS gia đình khám xét, xác nhận và cho chụp hình ngực.

Hầu hết ung thư vú được phát hiện bởi bịnh nhân chớ không phải Bs.
• Trên 40% ung thư vú được phát hiện sớm nhờ lâm sàng và chụp hình vú.
• Tất cả phụ nữ từ 20-50 tuổi có thể cứ 2 năm chụp một lần. Tuy nhiên phụ nữ nào có nguy cơ ung thư, sẽ được chăm sóc và chụp gần hơn, tùy theo từng trường hợp.
• Tài liệu mới của Hội Ðồng UTV NSW đưa ra (6/2008) cho thấy từ năm 2001-2003, vì HRT giảm đi phân nửa, bịnh UTV giảm đi rõ rệt. Vậy theo Gs Rod Barber thì nếu cữ được HRT thì cữ, còn không thì nên xài loại thật nhẹ trong một thời gian ngắn thôi.
• Thuốc Tamoxifen để trị UTV cũng có thể dùng để ngừa ung thư vú cho người có nguy cơ bị bịnh nầy.
• Feroma: Sau khi mãn kinh, buồng trứng ngưng không còn tiết estrogen nữa.

Tuy nhiên có cơ thể tiết ra estrogen qua một men gọi là aromatase phân hóa từ androgen thành estrogen. Feroma chận đứng không biến cải androgen thành estrogen.

Thuốc Evista (Raloxifene) để ngừa loãng xương cũng dùng được. Theo GS Boyages thì không biết thực sự nó ngừa hay chỉ làm chậm tiến trình ung thư vú. Livial, tibolone dùng cho hậu mãn kinh một thời gian ngắn và ngừa loãng xương.

Nếu người bịnh còn trẻ bị UTV mà muốn có con, thì phải đợi sau khi trị hết bịnh hai tới ba năm. Gần đây nếu muốn có con sớm hơn cũng được, nhưng phải có Bs phụ khoa đặc biệt theo dõi vì sợ kích thích tố gây ảnh hưởng làm bịnh tái phát.

Ðể ngăn ngừa hữu hiệu, cần phát động nhiều hơn nữa, qua cơ quan truyền thông, để phụ nữ, nữ sinh hiểu biết thêm về tai hại UTV, mà tự lo phòng ngừa, tự khám, cứ 2 năm phải chụp hình vú.

Ước mong qúy vị ý thức được sự nguy hại của bịnh UTV mà lo phòng ngừa cho bằng cách:
• Hãy tự khám vú lấy mỗi khi đi tắm, nếu nghi ngờ mới nhờ BS gia đình khám, cho đi chụp quang tuyến vú, siêu âm vú, dò tìm ung thư tàng ẩn hầu kịp thời chữa trị.
• Nên nhớ là ung thư vú còn có thể phòng ngừa bằng cách:
• Ăn kiêng: nhứt là nên cữ dầu mỡ. Kiêng cữ rượu và thuốc lá.

• Nên ăn nhiều rau cải và trái cây, đậu, đậu hũ, flavinoids, anti-oxidant. Uống thêm sinh tố BDEC, selenium.
• Nếu không bị biến chứng mãn kinh hành hạ, xin tránh dùng kích thích tố thay thế.
• Tránh đừng để phì mập bằng cách thường xuyên tập thể thao, thể dục, đi bộ, tai chi.
• Theo sự nghiên cứu của Eva Lee, Ðại học California, thì trong tương lai có thể ngừa ung thư vú bằng thuốc milepristone có tên là Ru 486, thuốc dùng để phá thai. Bà cho chuột uống thuốc kháng progesterone, milepristone thì chuột già 1 tuổi có gene BRCA-1 cũng không mắc bịnh ung thư. Trái lại chuột có BRCA-1 mới 8 tháng tuổi lại bị ung thư vú. Hy vọng ngày nào đó thuốc sẽ được áp dụng cho công chúng để phụ nữ khỏi phải đau khổ, lo âu vì bịnh ác ôn nầy nữa.

Herceptin là loại thuốc trị ung thư khi nó chuyển qua dạng HER2. Nhưng nếu herceptin không còn hiệu lực phải dùng Tykerb, của viện bào chế Glaxo SmithKline, phối hợp với Xeloka kết quả rất là tốt. Nó có tội là quá đắt, vì thuốc chưa được bảo trợ.

Tài liệu đọc thêm
1- Breast cancer: reflexion on its etiology, Surgeon Mr John Fitzherbert,
Complementary Medicine May/June 2006 p 43-48.
2- Breast cancer in the young patient, Dr Katrina Moore, The Royal North
Shore Hosp. St Leonard, NSW. MO 15/9/06, p 25.
3-Breast cancer prevention not reaching those at highest risk. MO.
4- Breast cncer risk, A. Prof. John Boyages and Dr. Georges Biro, MO 23 Oct
2009