UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

Người phụ nữ triền miên lo âu hết việc nầy tới việc nọ. Họ lo lắng về gia đình, về con cái, lo sợ sanh nhiều kham không nổi.

Con cái lớn khôn, tuổi tác chồng chất lại lo ngại bịnh nầy, bịnh nọ. Niềm đau nỗi khổ lớn nhứt là ung thư cổ tử cung.

Ung thư CTC được cái lợi là phát hiện sớm hơn ung thư khác, nhờ thí nghiệm pap smear (pap: Papanicolaou, tên của Bs người Hy Lạp đã phát minh ra thí nghiệm này). Hằng năm trên thế giới, có nửa triệu phụ nữ được định bịnh nầy, và có 235 ngàn người chết vì nó.

Úc là nước có tỉ lệ ung thư CTC thấp nhứt thế giới, nhờ có chương trình phòng ngừa bịnh hữu hiệu nhứt. Tuy nhiên hằng năm cũng có tới 800 bà mắc bịnh và 250 bà vắn số. Hiện nay Úc có tới nửa triệu ngưòi đau khổ vì nó, các nhà nghiên cứu ước tính vào năm 2010 có trên triệu người. Ung thư CTC đứng hạng nhì trong các loại ung thư của phụ nữ.

Cứ mỗi 100 ngàn phụ nữ thì có 5-75 người mắc phải ung thư CTC. Phần đông những người mắc phải bịnh nầy, được phát hiện sớm hơn người thường, là nhờ họ kế hoạch hóa gia đình. Họ sử dụng thuốc ngừa thai hay sau khi bế kinh, họ uống thuốc kích thích thay thế (Hormone Replacement Therapy, HRT). Họ được kiểm tra pap smear trước và trong khi uống nó. Nhờ vậy họ được phát hiện kịp thời, và chữa trị ở thời kỳ 0 và sẽ hết luôn. Muốn được vậy, tất cả phụ nữ từ 20 tới 70 phải thử pap smear mỗi 2 năm.

Ung thư CTC được chia ra làm:
• Tiền ung thư, phát hiện trước tuổi 30 (30-39).
• Ung thư xâm nhập, phát hiện từ 40- 50.

• Ung thư CTC từ tiền ung thư tới xâm nhập phải mất nhiều năm.
• Từ xâm nhập tới lan ra xung quanh CTC, rồi lan ra xa tới các ngũ tạng phải mất thêm nhiều năm nữa.
• Phần nhiều ung thư CTC do squanous cell 85%, còn lại là adenocarcinoma, mixed carcinoma hay adenosquamous, hiếm nhứt là sarcomas

Ngừa bịnh UT CTC

• Bịnh ung thư CTC gây ra bởi nhiều nguyên nhân như:
• Giao hợp quá sớm lúc còn nhỏ tuổi.
• Giao hợp với nhiều phối ngẫu.
• Sanh con lúc còn nhỏ tuổi.
• Gia đình bịnh sử có ung thư CTC hay ung thư nơi khác.
• Tùy theo giống dân.
• Vệ sinh và điều kiện tài chánh và xã hội eo hẹp, phong tục và tập quán. Phụ nữ Do Thái ít bị ung thư CTC hơn các dân tộc khác vì hầu hết đàn ông Do Thái đều được cắt da qui đầu lúc còn nhỏ. Nếu da qui đầu còn, bên trong sẽ có ké (Smegma). Người ta nghi ngờ ké là mầm móng của ung thư CTC của người phối ngẫu.
• Các siêu vi trùng gây ung thư CTC: Herpes simplex 2 (HSV 2), mồng gà Human papilloma virus HPV. Phần nhiều ung thư CTC là do HPV. Có tất cả mấy chục loại HPV, nhưng theo nhà nghiên cứu Ðức Zur Hausen thì chỉ có một số HPV mới gây UT CTC mà thôi, như dòng HPV-16 (52%), HPV-18 (18%), HPV-45(6%) và HPV-39(3%). Thật ra còn nhiều dòng khác cũng gây ung thư nữa nhưng ít gặp hơn.

Thử nghiệm tìm UT CTC

Muốn biết coi có bị ung thư CTC, cần phải làm vài thí nghiệm sau:

1. Pap smear. Lấy que bằng cây, quẹt CTC và bên trong CTC bằng loại bàn chải đặc biệt, rồi trải nó lên miếng kiến hiển vi để tìm tế bào ung thư. Hiện nay có tên một loại pap smear cytology, xét nghiệm tế bào học. Kế đến HPV test, xét nghiệm HPV ở bệnh nhân để trị liệu UT CTC.
• Grade I, bất bình thường như C1 N1;
• Grade II: bất bình thường trung bình C1 N2;
• Grade III: bất bình thường nặng C1 N3, ung thư mới bắt đầu (stage 0 = thời kỳ 0). Ung thư:
• Stage I = xâm nhập, chỉ ở trị CTC
• Stage II = bướu ở CTC và ⅓ trên âm đạo
• Stage II = Lan tới ⅓ dưới âm đạo và vách hố chậu
• Stage IV = Lan tới cơ quan vùng châu, bàng quang và trực tràng, có thể xa hơn – Di căn xa như phổi

2. Soi âm đạo (Colposcopy) và sinh thiết (Biopsy)
Khi pap-smear cho thấy có thấy tế bào bất bình thường, phải soi âm đạo, soi cổ tử cung bằng kiến hiển vi. Khi quan sát thấy có chỗ nghi ngờ, tức thì làm Schiller test.

3. Schiller test: Phết lên CTC dung dịch Lugol iodine. Chỗ nào có tế bào ung thư, nó sẽ chuyển sang màu tím thì làm sinh thiết mới chính xác.

4. Punch biopsy: Nếu nghi ngờ, bấm lấy mẫu đem xét nghiệm tìm bịnh.

5. Nhiều khi không thấy, phải cắt hình nón CTC, làm sinh thiết. Cách nầy chỉ thực hiện khi CTC quá hẹp, không quan sát được hay không có làm colposcopy.

6. Tam pap Úc vừa sáng chế ra phưông pháp mới gọi là Tam pap hay tampon và pap smear. Nó cũng gọi là Tampon HIP test, tức là loại tampon để vô cửa mình, rồi lấy ra gởi tới phòng xét nghiệm thử. Nếu âm tính thì thôi, còn dưông tính nên thử lại pap smear kiểm chứng.

7. Papsmear với phưông pháp cổ điển CC (cervical cytology) không chính xác bằng phưông pháp mới:
TPI (ThinPrep Imaging) : Phưông pháp nầy ít sai hơn CC.

Sở dĩ nó chính xác nhờ mẫu nghiệm được để trong chai LBC (liquid based cytology). Nó được lọc rửa để loại trừ tế bào hồng cầu, đồ dơ và nhớt. Người ta dùng computer rọi to ra cho dễ nhìn. Tuy vậy vẫn kèm theo một mẫu nghiệm CC, vì thử nghiệm TPI phải trả thêm $40.00

Với phưông pháp TPI, dễ phát hiện được ung thư nhiều hơn xưa. Ngay cả vết lở của tuyến cổ tử cung, như ung thư hiếm mới bắt đầu tại chỗ (cervical glandular lesion such as adenocarcinoma in situ)

a. Vết lở biểu mô hạ đẳng (Low grade squamous lesions)
• Biểu mô bất bình thường squamous atypia
• HPV bất bình thường
CIN 1 +/- HPV (CIN, cervical intraepithelial neoplasia là tiền ung thư biểu mô) (precursor of squamous carcinima of cervix)

b. Vết lở không rõ rệt inconclusive lesions

c. Vết lở biểu mô nặng (high grade squamous lesions)
• CIN 2
• CIN 3 (1)(2)

8. Theo The Lancet Oncology (2010), DNA của HPV giúp ngừa ung thư cổ tử cung hay hơn pap smear. Tốt nhứt là trên 35 tuổi.

Triệu chứng

1/ Ở thời kỳ sơ khởi hay tiền ung thư, bịnh nhân không hề có triệu chứng chi hết (C1N3 hay stage 0). Chỉ có papsmear mới phát hiện nó mà thôi..

2/ Thời kỳ 1-4(stage 1-1V):
• Có huyết trắng còn gọi là huyết bạch…
• Có chút nước, rồi sau đó có màu hồng hay nâu,
• Có chút máu sau khi giao hợp.
• Làm băng một cách bất thường.
• Đau chằng bụng dưới, đau lưng. Đau chạy dài xuống chân là do nó lan qua xưông sống làm ép dây thần kinh tọa.
• Đau nhức xưông cốt là do nó lan tràn sang xưông mà gây ra.
• Đau đớn, tiểu khĩ, nước tiểu có máu là do nó lan qua bọng đái.
• Bón hay tiêu chảy là do nó lan sang ruột.
• Tế bào UT theo dòng máu mang đi nơi khác gây UT gan, phổi v.v…

Biến chứng

Biến chứng có thể do bịnh phát tán ra mà cũng có thể do điều trị.

Phát tán làm nghẹt ống thoát tiểu, thận có túi nước, nghẹt đường bạch huyết ở háng làm phù thũng chân. Nếu nặng nữa, nó sẽ phát tán tới gan, phổi, xưông, óc.

Xạ trị cũng gây viêm ruột già, viêm bàng quang. Nó có tánh cách tạm thời, vài tháng sau sẽ hết.

Giải phẫu cũng có thể gây vài trở ngại như nghẽn tim mạch, thủng ruột, âm đạo…

Điều trị và phòng ngừa ra sao?

Trước khi điều trị, bịnh nhân được giải thích tường tận, phân tích lợi hại và xét nghiệm thêm phổi, thần kinh, xưong…coi có lan ra xa chưa.
• Xạ trị liệu: đặt kim phóng xạ vào CTC.
• Giải phẫu tồn vẹn tử cung (hysterectomy).
Tiêu Lượng:
Kết quả điều trị: Stage 0 = hết;
Sống 5 năm : stage 1 =85-90%;
stage 2 = 70-75%;
Stage 3 =30-40%;
stage 4 = 10-20%.

Muốn phòng ngừa

1- Không gì bằng làm pap-smear. Phụ nữ trên 27 tuổi phải làm pap-smear. Cứ mỗi 2 năm làm lại một lần, tuy nhiên Bs gia đình có thể cho thử sớm hơn nếu thấy cần. Các cụ bà trên 70 tuổi không cần thử nữa. Tránh và đừng giao hợp sớm lúc nhỏ tuổi, hay với nhiều phối ngẫu.

2- Thuốc chủng ngừa vừa được phát minh bởi Gs Ian Frazer, Ðại học Queensland. Ông vừa được vinh danh Người Úc xuất sắc năm 2006, nhân ngày Quốc khánh Úc (26/01/2006). Thuốc có tên là Gardasil do viện bào chế Merck sản xuất.

– Tất cả nữ sinh trung tiểu học tuổi từ 12 tới 18, đều được chích miễn phí tại nhà trường từ năm 2007.

– Còn sinh viên, phụ nữ từ 18 tới 26, cũng được chích miễn phí tại các phòng mạch Bs gia đình.

– Tới 2009 sẽ dứt cho lứa tuổi 18-26. Tuy nhiên nữ sinh từ 12 đến 16 tuổi vẫn được chích miễn phí ở học đường. Chương trình này chấm dứt kể từ ngày 30/6/2009. Sau đó ai muốn chích ngừa phải tự túc trả cở $450 cho ba mũi thuốc.

Có nhiều nữ sinh chưa chịu chích ngừa vì muốn chờ cho qua 15 tuổi, vì lý do đạo đức và tôn giáo. Ước mong trở ngại nầy sẽ không còn nữa vì thiếu hiểu biết vì HPV dương tính ở 30s (types, 16 và 18), đàn ông 40s (types 11 và 16) còn 50s (types 16 và 18).

Từ hai năm qua, các nhà nghiên cứu nhận thấy bịnh mồng gà thuyên giảm rõ rệt. Trong tương lai Úc sẽ có chương trình phòng ngừa ở nam giới như bên Mỹ để tránh bịnh lây truyền qua phụ nữ.

Thuốc ngừa Cervarix do GlaxoSmithKline sản xuất. Thuốc dùng cho phụ nữ từ 27- 45 tuổi. Cũng chích làm ba mũi: ngày thứ nhứt, hai tháng sau và 6 tháng sau.

Thuốc ngừa ung thư cổ tử cung, cửa âm hộ và âm hộ, mà cũng ngừa luôn bịnh mồng gà. Nó được pha chế từ siêu vi mồng gà HPV (Human Papilloma Virus) loại 6, 11, 16 và 18. Thuốc ngừa chỉ bảo vệ 100% cho các loại trên mà thôi. Nó không bảo vệ cho các loại khác, như vậy, chỉ có khoảng 70-80% tổng số ung thư cổ tử cung thôi.

Cũng vì vậy, xin đừng ngủ mơ đã chích ngừa rồi không cần lo sợ nữa. Thật ra phải thử Pap smear mỗi hai năm như thường lệ, chớ đừng tưởng lầm mà không thử cổ tử cung sẽ mang bịnh chết mà không hay.

Nếu đang chích ngừa HPV, lỡ mang thai thì sao? Theo Bs Julia Brotherton, thuộc Trung tâm Chích ngừa Quốc gia cho biết, nếu lỡ có thai thì ngưng chích. Ðợi sau khi sanh hãy tiếp tục chích thêm, không cần phải bắt đầu chích lại 3 mũi.

Thuốc ngừa ung thư cổ tử cung được phát minh và sáng chế do Gs Ian Fraser, thuộc Viện Ðại học Queensland. Hy vọng Gs Ian Fraser, sẽ mang về cho Úc giải Nobel Y khoa trong tương lai.

Trong khi chờ đợi, Gs Frazer vừa được trao tặng giải Balza Milan, trị giá 1 triệu Swiss (AU$1,2) vào tháng 9/2008.

Tin mừng mới nhứt là trong Ðại hội Quốc tế kỳ VII Âu Châu về phụ khoa và ung thư, ở Monte Carlo, cho rằng thuốc ngừa Gardasil có 38% khả năng phòng ngừa các loại siêu vi khác không có chế. Như vậy, Bs Luisa Ville, Giám đốc Viện Ludwig nghiên cứu ung thư ở Brazil cho thuốc có khả năng choàng qua, trị thêm các siêu vi khác. Gs Ian Frazer cho cả hai đều có công dụng như nhau.

Tài liệu tham khảo

(1) Dr Annabelle Farnsworth, The future of Cervical cytology in Australia. BMJ 2007,335:31 dol:10.1136/bmj.55 (published 29 June 2007)
(2) Jennifer Mrobert, Julia K Thurloe Lverty Pathology. 2002 June