Phiếm về Ca Dao Phụ Nữ Ba Miền

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – VĂN HÓA & LỊCH SỬ 2010)

Vẻ đẹp của người phụ nữ là đề tài phong phú nên đã được diễn tả rất tài tình qua nhiều văn, thơ và ca nhạc từ xưa tới nay. Nó vẫn được nhiều người nhắc tới vì tạo hóa đã tô điểm cho họ những nét đẹp duyên dáng, thùy mỵ, những đường cong mỹ miều tuyệt tác, thật là hấp dẫn.

Người phụ nữ Việt Nam tuy khép nép kín đáo, thu mình sau chiếc áo dài duyên dáng, lại phô trương đường nét kiều diễm, dịu hiền như tiên nga. Nó còn thể hiện cho một sức khỏe dồi dào, một sức sống mãnh liệt của dân tộc ta.

Nữ nghệ sĩ Đăng Lan

Cộng thêm vào đó, người phụ nữ ta có cái dáng đi thướt tha ẻo lả, nhưng nhanh nhẹn và gọn gàng hơn chiếc kimono, vừa nặng nề, vừa vướng chân nên phải đi chậm và nhỏ bước khó đi. Chiếc áo dài ta thì nhẹ nhàng thanh tao, mà chiếc áo xường xám tao nhã lại hở hang khó bước, không có những tà áo tung bay phất phơ rất gợi tình, rất ư là quyến rũ… những chàng trai si tình.

Cái hay nữa là thêm vào đó, người phụ nữ Việt Nam lại còn được trang sức bằng chiếc nón lá đặc sắc. Nó là biểu tượng đặc thù, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nó làm tăng them phần duyên dáng, mỹ miều, che đậy rất kín đáo.

Chiếc nón lá tuy mỏng manh nhưng rất thích hợp với hai mùa nắng và mưa của nước ta. Gặp lúc trời mưa hay nắng, nó được dùng che đầu, lúc khí trời nóng bức, nó được dùng để quạt cho mát lòng…

Còn cái hay độc đáo nhứt của chiếc nón lá là nói lên sắc thái đặc thù riêng của từng miền: Bắc, Trung và Nam mới thật ngộ.

  1. Nón lá quai thao (woman’s large fringed hat), bóng láng, to rộng với dây quai màu sắc rực rỡ phất phơ, ngộ nghĩnh rất hấp dẫn và quyến rũ của Miền Bắc.

“Nón em nón bạc quai thao,

Thì em mới dám trao chàng cầm tay”

2. Nón lá bài thơ của Huế (hat made of first quality latania leaves) rất thanh và mỏng vì chỉ có hai lớp lá mỏng ghép lại. Cái thi vị của nó là ở giữa hai lớp có cảnh cô lái đò ngang sông Hương, cầu Tràng Tiền tình tứ, với mây bay bàng bạc.

Các cô gái Huế thấy ai thì điệu hạnh, ra dáng thẹn thò e lệ, tay cầm nón nghiêng qua, nghiêng lại, kín đáo như e thẹn che giấu. Nhưng kỳ thật là để nửa hở nửa che, gợi sự tò mò, mắt đưa tình, nhìn trộm và theo dõi, càng làm đắm đuối, chết mê chết mệt trai anh hùng tứ xứ.

Xưa kia người dân ở vùng nầy trước khi chúa Nguyễn đóng đô là chuyên nghề nón. Khi tới, dân ta cũng làm nghề nầy nhưng với sự khéo léo, óc mỹ thuật mới biến chế thành chiếc nón hôm nay vậy.

“Chợ Dinh bán áo con trai,

Tiều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim”

Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà.

3. Nón lá (hat made of latania leaves, conical straw hat) đơn sơ, không hoa hòe như nón quai thao, không có thấu kính như chiếc nón bài thơ Huế, nhưng nó hấp dẫn như người con gái thùy mỵ, dịu hiền, mộc mạc, dịu dàng chèo xuồng ba lá trên kinh rạch của dòng sông Cửu Long. Hình ảnh quê mùa đó không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm tôi.

Nón lá MN nỗi tiếng chỉ có Tây Ninh và Chợ Ðệm Mỹ Tho vì đặc biệt nơi đây mới có đất đỏ, hạp phong thổ cho cây kè. Lá kè non dùng để chầm nón lá.

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

Gái Miền Bắc:

Người phụ nữ Bắc phương rất duyên dáng, tình tứ, ăn nói khôn ngoan, dịu ngọt làm những chàng sinh viên Nam kỳ mê tít thòi lòi. Cho nên xưa kia, khi học thành tài hay không ra gì, khi trở về cũng không quên mang về một nường đất Thăng Long, ngàn năm văn vật, gọi là “tình Bắc duyên Nam” đó mà (1). Có nhiều mối tình tay đôi, tay ba choảng nhau ghê gớm lắm đó.

Gái lớn lên mà có người yêu là thư sinh thì còn gì tình tứ, lãng mạn bằng.

Giấc mơ thiên đường sắp thành tựu, ‘võng anh đi trước võng nàng theo sau’, cho nên họ cũng hay đem lời dịu ngọt khuyên lơn chàng ‘hôm sớm dồi mài kinh sử’. Nhưng họ lại vừa khuyên vừa ép buộc vừa hối hả đe dọa. Ðành rằng “văn ôn võ luyện”, nhưng việc thi cử nó tùy thuộc tài trí và số mạng. Việc học tài thi mạng trước mắt là thi sĩ tài hoa nhà ta: Tú Xương. Giỏi như vậy mà đã vác lều chổng sáu lần vẫn trợt vỏ chuối mà.

“Em hằng khuyên sớm khuyên trưa,

Nếu anh chưa đỗ thì chưa động phòng”.

Lời hay ý đẹp, khuyên lơn mà cũng đòi hỏi, mà cũng có điều kiện, ra lịnh phải “bảng hổ đề danh” mới được:

“Võng anh đi trước, võng nàng theo sau”.

Lúc cần thì hiền hòa dịu ngọt, lúc hờn giận thì hơi cứng rắn, không nể sợ ai. Phải thì thôi, không phải là làm liền không vị nể, nhịn nhục một ai cả. Phải chịu khó tìm hiểu họ mới biết rõ tâm họ, may ra mới hòa hợp được.

“Ai ra Hà Nội mà coi,

Con gái người Bắc cầm roi dạy chồng”.

Làm gì mà gớm thế, như sư tử Hà Ðông, ăn hiếp chồng dữ vậy, bộ không sợ người ta cười, không sợ mất người yêu, người chồng sao? Chuyện đâu còn có đó, từ từ mà nhỏ nhẹ khuyên lơn cho nó êm tai, “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” có phải hay hay không?

Thật ra gái Bắc, gái Trung, gái Nam gì đâu đâu cũng vậy, thế nào cũng có người tốt người xấu. Không hẳn là gái Hà Nội rất khôn ngoan lịch lãm, thì càng không có lý do gì họ lại biến đổi thành hung dữ như sư tử Hà Ðông? Thế nào cũng phải có cái gì đó mới làm cho họ nổi tam bành. Nói đúng ra không có lửa làm sao có khói, phải không quý vị?

Nghe đâu, gái Bắc ở đây là Bắc Ninh kia mới nổi tiếng. Họ rất đảm đang, lo mần ăn buôn tảo bán tần, chăm lo việc nhà, nhưng có điều là họ có tật hay lạm quyền bắt nạt mấy ông chồng ngồi chơi xơi nước, nên mới có câu trên.

Về việc nầy nó cũng gần giống như mấy bà Tàu Hải Nam. Vì lúc nhỏ tôi đã từng sống chung với mấy bà, mấy cô Hải Nam nên mới biết rõ. Họ rất đảm đang, nhưng có tật hay lấn lướt, qua mặt đấng phu quân một cái vèo, không kèn không trống.

Quý vị có biết tại sao không? Tại vì đàn ông Hải Nàm chỉ thích hưởng thụ, ăn ngon, chưng diện bảnh bao thôi. Ở Trung Quốc, người ta ví đàn ông Hải Nàm như xác thuốc Bắc. Ý muốn nói họ bị chê là vô dụng vì xác thuốc chỉ có đổ bỏ vào gốc cây thôi.

Nói vậy chớ hiền thê của thi sĩ Tú Xương ngày đêm hết long buôn tảo bán tần, nuôi đàn con mà còn cung phụng cho ông hào hoa phong nhã, rượu chè, mà ông còn đèo bồng hát ả đào, vân vân… kia mà.

“Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được thứ nào hay thứ nấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà!”

(Trong bài Ba cái lăng nhăng)

Cảm thấy mình tội lỗi, nên cụ tú nhà ta đành “nịnh đầm” khen vợ nhà một chút:

“Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò nơi quãng vắng,

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Thấy chưa, thi sĩ ta không bỏ tật hào hoa phong nhã, rượu chè say sưa cả ngày, nhưng bà xã ở nhà vẫn không phiền hà. Thật đúng là hiền thê tốt bụng! Thật là phước đức cho ông có được vợ hiền!

Gái Miền Trung:

Nhân chuyến đi cứu trợ Miền Trung bị bão lụt tàn phá năm 1964, nhóm sinh viên Y khoa chúng tôi có dịp từ Ðà Nẵng ra thăm cố đô Huế. Tuy thành phố có vẻ cổ kính u buồn, nhưng phải nói là chúng tôi thật sự ngẩn ngơ trước sự quyến rủ của các cô nữ sinh Ðồng Khánh tan học ra về.

Họ như tiên nữ vung văng, vung vẳng, tà áo phất phơ, kín đáo mặt úp úp hở hở sau chiếc nón lá bài thơ, dưới bóng mát của hàng cây phượng vĩ khoe những bông hoa đỏ, như làn môi son mộng mơ, lung linh huyền ảo dưới ánh nắng chan hòa… Ôi cảnh tượng đó nó huyền ảo mê hồn làm sao đó! Anh em chúng tôi trở nên ngây ngất và khờ dại. Phải chi hồi đó mà Huế có trường Y, chắc chúng tôi xin chuyển về đây quá. Hèn chi mới có ca dao tục ngữ như sau:

“Quảng Nam hay cãi,

Quảng Ngãi hay co,

Bình Ðịnh hay lo,

Thừa Thiên ních hết!”

Ðộc đáo hơn hết ở chỗ nầy:

“Học trò xứ Quảng ra thi,

Thấy cô gái Huế chân đi không đành”

Nếu như chúng ta là học sinh quê mùa, học hành chưa tới đâu mà mê gái thì thể nào cũng trợt vỏ chuối:

“Học trò ba chữ tèm lem,

Thấy gái mà thèm, ba chữ trôi sông”.

Ca dao Miền Nam

Vì đất kinh thành, nơi mà bao nhiêu phụ nữ đẹp được tuyển chọn mang về đây, cho nên gái Huế rất xinh xắn, mỹ miều, dịu dàng, thùy mỵ đoan trang quyến rũ.

Nhưng ở đây là các bậc nho sinh “môn đồ cửa Khổng sân Trình”, học cao hiểu rộng đi thi Ðình chớ phải chơi. Trước sau vì họ cũng là quan to, bởi ngày xưa chỉ có ba trường thi: thi hương, thi hội và thi đình. Nó tương đương với tú tài, cử nhân và tiến sĩ.

  • Nếu đậu thủ khoa triều đình Huế sẽ được gọi là Trạng nguyên (người đậu đầu),
  • Thám hoa người đậu kế còn
  • Bảng nhãn đậu thứ ba.
  • Còn những người khác là Phó bảng. Tên họ được khắc vào bia đá, được phong chức tước cao sang.

Còn may mắn nữa là lúc vinh qui về làng, đậu thêm bằng thứ hai tức hai niềm vui trong đời là vừa mới đậu lại được vua gả công chúa hay quận chúa!

“Thế thì võng anh đi trước võng nàng theo sau.”

Ðó mới đúng là hai cái niềm vui, hai niềm vui gọi là song hỉ. Xin đừng lầm tưởng với chữ “xong hỉ”, tức hết rồi hả của bà con ta ở “Huệ” nha.

Gái Huế đẹp đến đỗi ông Nguyễn Hữu Ðộ nhờ có ba cô “nường” duyên dáng, xinh đẹp tuyệt trần, mà trở thành bố vợ của ba nhà vua: Ðồng Khánh, Hàm Nghi và Thành Thái. Thật là nhà phúc đức!

Ðàng sau những đức tánh đó, xin hãy hiểu rõ là trai gái xứ Huế nổi danh là rất khỏe về việc phòng the mặc dầu, núi không cao và sông không sâu.

“Non bất cao, thủy bất thâm

Nam đa trá, nữ đa dâm”.

Thật ra câu nầy được chính chúa Nguyễn Ánh lúc bị Nguyễn Huệ đánh bại phải bôn đào vào Nam lẩn trốn. Trong khi đó có bà phi sanh con. Nhưng vì bịnh hoạn yếu đuối nên không đủ sữa cho con bú mới nhờ người giúp cho. Vì bị quân binh Nguyễn Huệ cấm đoán, nên không ai dám giúp đỡ cho bú thép. Cũng vì mất con, mất ái phi nên ông có lời phàn nàn:

“Non bất cao, thủy bất thâm

Nam vô trí, nữ vô tâm”.

Nhưng không biết sao ngày nay người đời ghen ghét như thế nào đó, đem sửa lại thành câu trên, cho nên ta chỉ biết có câu trên thôi.

Ngoài ra vua Thành Thái (?) cũng có những câu khác như:

“Núi Ngự không cây, chim đậu đất,

Sông Hương vắng khách, đĩ kêu trời!”

“Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,

Sông An Cựu nắng đục mưa trong”.

Thật là trái ngược vì nước sông lúc trời nắng không bị khuấy động lại đục, còn lúc mưa nước lũ lại trong. Thật ra ý câu nầy muốn nói tánh tình thay đổi, khi vầy khi khác, không bất nhứt giữ lời.

Ðàng sau hậu cung có cả tam cung lục viện, cung phi mỹ nữ biết bao nhiêu mà kể, thế “bệ hạ” nhà ta lại trốn qua bên kia Thành Nội, “du hành” tới xóm Kim Luông (Long) chơi. Tại vì nơi nầy tụ tập những giai nhân tuyệt sắc nhứt đất Thần Kinh? Những kỹ nữ đó làm đắm đuối biết bao chàng trai anh hùng. Trong đó có cả bậc đế vương hào hoa phong lưu nữa, cho nên mới có ca dao:

“Kim Luông con gái mỹ miều,

Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi”

Vua Thành Thái

Mặc dầu là thiên tử của một nước, là khuôn vàng thước ngọc để mọi thần dân noi theo mà cũng đam mê tửu sắc?

Thế gian ba thứ chẳng chừa,

Rượu nồng dê béo, gái vừa đương tơ.

Tú Xương

Có phải chính vì họ quá đẹp, chim sa cá lị, đến vua cũng mê cầm lòng không nổi nên hằng đêm cũng “leo rào dạ hành”? Như vậy, các bậc vua chúa cũng có khác chi ai? Họ cũng là con người, tức cũng có thất tình lục dục như ai chớ, phải không quý vị?

Thật ra ở đây không phải vậy:

Vua Thành Thái lấy cớ ăn chơi, nhưng kỳ thật là chiêu mộ các phụ nữ vừa đẹp vừa khỏe đem vào hậu cung tổ chức, luyện tập đoàn nữ binh để chống Pháp. Ông là nhà vua thật lòng yêu nước, muốn làm một cái gì cho đất nước chớ không phải ăn chơi, như ta tưởng. Hành động yêu nước không đạt, vì không che mắt được bọn tay sai theo dõi. Vì hành động kín bị đổ bể, nhà vua bị Tây bắt.

Tuy lên ngôi lúc 7 tuổi, Vua Duy Tân đã có ý chí quật cường, làm cách mạng chống Pháp, cứu dân lầm than vì đã thấy Tây truất phế và đày ải vua cha Thành Thái. Lòng ông rất đau khổ, uất hận không kham nổi nhục đất nước mất tự do.

Khi thấy tay ông chơi cát dơ, tên cận vệ đem nước cho ông rửa. Ông hỏi người cận vệ:

“Tay nhớp lấy nước rửa. Thế nước nhớp lấy gì rửa?

Anh ta lúng túng không biết sao trả lời. Ông nói:

“Nước nhớp thì phải lấy máu mà rửa. Nhà ngươi hiểu chưa? (2)

Nền triết lý Ðông phương đã ăn sâu vào đầu óc, tâm hồn nhà vua tí hon. Nhà vua thích sang Kim Luông (Kim Long) là vì nơi đó cô gái xinh đẹp Mai Thị Vàng mà ông nhứt quyết cưới, là muốn tỏ lòng biết ơn thầy Mai Khắc Ðôn, thầy dạy Hán văn và văn chương, đã rèn ý chí cho Ngài. Ðiều nầy cho thấy Ngài rất trọng nghĩa khí và đầy tinh thần Nho giáo”tôn sư trọng đạo.”

Chuyện Ngài “dạ hành” như vua Càn Long du Giang Nam, là để liên lạc với Việt Nam Quang Phục Hội của Trần Cao Vân. Tây phát giác vì bọn mãi quốc cầu vinh làm bộ bảo hoàng hơn vua phản bội, phản chúa Nguyễn Văn Trứ đưa đi trốn, rồi điềm chỉ cho Tây, nên ông và đồng chí bị bắt.

Khi gặp tên Trứ ở tòa Khâm sứ, ông mắng “Ðồ phản quốc”. Tuy bị đe dọa khuyến dụ yên thân làm vua, Ngài vẫn một lòng bất phục nên bị đày cùng vua cha Thành Thái sang Phi Châu. Còn Trần Cao Vân và mấy chí sĩ khác bị xử tử.

Nói về người phụ nữ cũng hay trách móc bọn tu mi:

“Họa hổ họa bì, nan họa cốt

Tri nhơn tri diện, bất tri tâm.

May mô may chút nữa em lầm

Khoai lang khô xắt lát, tưởng Cao Ly sâm bên Tàu”

“Ðứng trên cầu Tràng Tiền ngó xuống dưới nước

Xanh như tàu lá, ngó về Ðập Ðá, phố xá nọ nghinh ngang,

Kể từ ngày Tây lại, sứ sang anh ham ba đồng xu,

Bạc giá bỏ nghĩa nàng bơ vơ.”

“Nước sông Gianh chảy quanh sông Vinh,

Ông trời kia đã định, nước chảy vòng cung

Nào ai thương khó với cùng,

Kẻo chim khôn lỡ lứa, trai anh hùng lỡ đôi”

Gái Miền Trung tuy xinh dẹp, ngoan hiền mà tại sao lại có câu nầy:

“Ai về Bình Ðịnh mà coi,

Con gái cỡi ngựa, ra roi đi quyền”

Hay:

“Ai về Bình Ðịnh mà coi,

Con gái Bình Ðịnh bỏ (ra) roi đi quyền.”

Ca Dao

Phải chăng con gái Miền Trung cũng hung hăng, đấm đá chưa hết nư, còn cầm gậy gộc nện mấy anh chồng tham lam, đèo bồng? Nếu vậy họ ăn đòn cũng đáng kiếp! Nhưng kỳ thật, ở đây không phải vậy. Câu nầy có ý, con gái Bình Ðịnh luyện tập võ nghệ cao siêu lưu truyền, một bí quyết côn, quyền và cước đặc biệt của tỉnh nầy.

Họ học võ để làm gì? Họ học võ nghệ để chia xẽ cùng chồng, bảo vệ non sông gấm vóc của ông cha ta dựng nên bằng xương, bằng máu. Họ cũng khuyên chồng gia nhập cuộc khởi

nghĩa như vầy:

“Chàng ơi đưa gói thiếp mang’

Ðưa gươm thiếp vác để chàng đi không

Một trong những người phụ nữ anh hùng tài danh đáng nể nhứt là nữ tướng Ðô Ðốc Bùi Thị Xuân:

“Hoa đào đôi má thắm tươi,

Lưng cài song kiếm, tay thời cầm cương…”

Cây gươm mà bà đeo là kỷ vật của nội tổ của bà, Thái sư Bùi Ðắc Tuyên, cha của Bùi Ðắc Kế. (3)

Ðô đốc đã cùng chồng là Tướng Trần Quang Diệu, đã đem tài đức giúp anh em nhà Tây Sơn, thống nhứt sơn hà và đánh đuổi bọn xâm lăng Trung Hoa chạy cong đuôi về Tàu. Cũng vì vậy mà người đời mới tặêng cho bà câu ca dao sau đây:

“Ai về Bình Ðịnh mà coi,

Con gái Bình Ðịnh cưỡi voi diệt thù”

(Vì bà cũng luyện tập và dạy các nữ binh của bà cỡi voi ra trận)

Vậy câu “Ai về…” nầy nói người phụ nữ luyện tập võ nghệ để kề vai chia xẻ cùng chồng, theo tiếng gọi non sông, đầu quân diệt giặc. Họ theo Quang Trung Nguyễn Huệ để khôi phục đất nước và chống xâm lăng.

Ðại thắng họ chiếm một vùng Vân Nam. Nhưng vua ta rất khôn khéo, muốn sống trong hòa bình an cư lập nghiệp, nên không những rút lui mà còn gởi sứ thần giảng hòa. Ðây là một nghĩa khí anh hùng mã thượng hết sức là “quân tử Tàu”, mà còn chơi trội đàn anh Ba Tàu, rõ ràng ta đây tuy nhỏ mà không dễ bị bắt nạt. Hãy coi chừng ta nhá!

Còn Gái Miền Nam thì sao?

Gái MN mỹ miều, thùy mỵ, xinh đẹp lại không đanh đá, mà quê mùa chất phác, sống với ruộng vườn, bên sông cái nước.

“Trúc xinh trúc đứng đầu đình,

Bậu xinh bậu đứng một mình cũng xinh”

Ca dao

Ðẹp nổi tiếng nhứt là gái Nha Mân cho nên mới có câu ca dao:

“Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân.”

“Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân.”

“Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu.

Anh thương em chẳng ngại sang giàu,

Mứt hồng đôi lượng, trà Tàu đôi cân.”

Thật ra theo như má tôi cho biết thì gái tỉnh Ðịnh Tường (Mỹ Tho, Gò Công) không những đẹp mà phong thủy làm sao đó lại vượng phu. Ai mà lấy được vợ ở Mỹ Tho dễ thăng quan, tiến chức lắm?

Nè nha, Nguyễn Phan Long, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Văn Lộc, Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu cưới con gái của thầy lang ở Mỹ Tho phát lên như diều. Gặp may lên làm tổng thống luôn. Bác sĩ họ Phạm nhờ “tái giá” ùvới cô con út thầy lang, phát lên Ðại tá, nhảy lên Cục trưởng Quân Y, rồi lên tướng luôn.

Phải chi hồi đó, từ Ðại đội Quân Y 9 ở Sa Ðéc chuyển sang Ðại Ðội Quân Y 7 ở Mỹ Tho (1966-68), nghe lời má tôi, không biết bây giờ nó ra sao nữa? Ngu thiệt há!

Nhìn lại lịch sử nhà Nguyễn, các vua ta thường hướng về Miền Nam tìm mệnh phụ phu nhân. Cho nên các hoàng phi đều thuộc tỉnh Gò Công (hay Ðịnh Tường vì trước kia chỉ có Nam Kỳ Lục Tỉnh thôi). Nè nha:

• Vua Bảo Ðại cưới bà Nguyễn Thị Lan, thuộc tỉnh Gò Công, vì mến vẻ đẹp duyên dáng phương nam của bà nên đặt cho tên là Nam Phương Hoàng Hậu và hủy bỏ luôn Tam Cung Lục Viện. Uổng quá!

• Vua Thiệu Trị cưới bà Phạm Thị Hằng tức Bà Từ Dũ cũng dân Gò Công.

• Vua Minh Mạng cưới bà Hồ Thị Hoa, người Biên Hòa.

Ngoài ra còn các cung phi khác của triều Nguyễn cũngthuộc Miền Nam như:

1. Vua Minh Mạng có ba bà thứ phi:

• Thục Tấn Nguyễn Thị Bảo, người Gia Ðịnh

• Hòa Tấn Nguyễn Thị Khuê, người Gia Ðịnh

• Cung Tấn Nguyễn Thị Xuân, người Gia Ðịnh

2. Vua Thiệu Trị còn có một bà phi nữa là

• Lệnh Phi Nguyễn Thị Nhậm, người tỉnh An Giang

3. Vua Tự Ðức có bà phi là

• Học Phi Nguyễn Thị Hường, người tỉnh Vĩnh Long

Gái Miền Nam không biết dối trá mánh mung, gian xảo. Họ thật thà, chất phác, bình dị và rộng rãi… Không thua con gái Huế bởi vì

“Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muôùn về”

Nhiều cô khôn ngoan, lấy lời dịu ngọt khuyên lơn người yêu, chăm lo học hành chờ khóa thi. Họ không ngại khó nhọc, chắt chiu lo cho chồng, miễn là chồng thành công là họ mãn nguyện. Mùi mẫn quá đi thôi!

‘Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ,

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.’

Tuy món quà nhỏ, nhưng nó gói ghém mối tình quê lãng mạn, chung thủy của người thôn nữ, chất phác. Mối tình nghèo đơn sơ, nhưng rất đậm đà mới chết!

‘Hai tay bưng quả bánh bò,

Giấu cha, giấu mẹ cho trò đi thi.’

Ðây mới là tấm lòng chung thủy, chân thật, mộc mạc, ngọt ngào dễ thương, nghe nó bùi tai quá chừng. Nghe nó nhớ nhà đứt ruột đi, quý vị ơi!

Vì lo ngại người yêu ham mê ăn chơi, không lo ăn học cho tới nơi tới chốn, bảng hổ đề danh, nên nàng khuyên:

“Ðèn Sài gòn ngọn xanh, ngọn đỏ

Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.

Anh về anh học chữ nhu

Chín trăng em đợi, mười thu em chờ!”

Nàng ta nhắc nhở người yêu có lên Sài gòn hoa lệ, thấy gái Saigon đẹp lả lơi làm cho anh dễ bị cám dỗ, mong anh đừng có học thói đua đòi, cố gắng lo tu luyện đèn sách để thành công. Ở tỉnh Mỹ Tho mình có người con gái tuy quê mùa, chất phác nhưng sẵn sàng chờ đợi anh, dầu cho chín tháng hay mười năm, lòng em cũng không phai!

Các cô gái quê thật thà chất phác, chỉ khuyên người yêu dầu có thế nào đi nữa, dầu có phải chờ đợi tới bao lâu đi nữa, họ cũng nhẫn nại cam tâm chịu đựng, không hề oán trách ai cả:

“Quyết lòng chờ đợi trò thi

Dầu ba mươi tuổi lỡ thì cũng ưng”

Ðây là một tấm lòng chung thủy, cao cả, keo sơn không phai nhạt dầu cho mười năm hay ba mươi năm, nàng cũng ưng bụng đợi chờ, không sờn lòng. Ðã yêu thì hết lòng yêu, không gì sờn lòng đổi dạ.

Ðã thương thì thương cho trót, nghèo giàu, cực khổ ăn mắm muối dưa gì cũng được, cùng nhau chia xẻ nổi khổ cực:

“Ði đâu cho thiếp đi cùng,

Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”

Nhưng người phụ nữ miền Nam thẳng thắn, không hẳn rập khuôn cúi đầu chấp nhận cuộc nhân duyên đầy khổ ải, khi cơm không lành, canh không ngọt thì thôi cho rồi.

Khi tình nghĩa không còn nữa, thì để thiếp ra đi về nhà má thiếp, thiếp không cần lấy cái chi hết:

“Ví dầu tình có dở dang,

Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về”

Hay là:

‘Ví dầu tình bậu muốn thôi,

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra…

Mà bỏ chồng ra đi để làm gì đây, đi theo tiếng gọi con tim, đi theo người yêu… Không, là không, mà thiếp sẽ…

‘Bậu ra bậu lấy bông câu,

Bậu câu cá bóng chặt đầu kho tiêu.

Kho tiêu kho mỡ kho hành,

Kho ba lượng thịt để dành má ăn’

Nghĩa là bỏ chồng nhưng không đi tái giá, mà về nhà phụng dưỡng mẹ già trong cảnh cơ cực, còn hơn là chịu đắng cay, sống trong nộâi tâm khổ não, mà phải chìu lo cho chồng. Còn nữa:

“Một mai thiếp có xa chàng,

Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin”

Tiếc gì đôi vàng mà xin? Ở đây, lúc thôi chồng, cô nàng trả đôi bông lại là có ý muốn chàng dùng nó để cưới vợ khác. Riêng nàng, nàng cố giữ đôi vàng là có ý nói, mình luôn luôn đeo nó như gái có chồng, và sẽ không tái giá.

Ấy vậy mà lúc ở Cao Lãnh (1966), có ôngï thầy thuốc Bắc cho tôi câu nầy mới lạ chưa:

“Ai về Ðồng Tháp mà coi,

Con gái Ðồng Tháp cầm roi, dạy chồng”

Mèn đét ơi! Nghe sao mà ghê quá, thật là ớn tóc gáy chứ phải chơi. Hay là ông già trên 70 tuổi nầy muốn dằn mặt, sợ mình dê, rồi cuỗm đứa cháu nội của ổng? Thật ra:

Phụ nữ Miền Nam nổi tiếng hiền lành, mà sao câu nầy nó giống y như câu ngoài Bắc, na ná câu Miền Trung vậy? Vậy nghĩa sao đây?

Thật ra nó có ý muốn nói người phụ nữ hiền hòa bưng biền tỉnh Ðồng Tháp, khuyên lơn chồng nên đứng lên chống thực dân Pháp xâm lăng, bọn cường hào ác bá trục lợi, hãm hại bóc lột, sống trên mồ hôi nước mắt, xương máu dân lành, a dua theo Tây hại dân, hại nước.

Ngoài ra họ còn khuyến dụ chồng, chống lại một loại thuế nhục nhã mà người dân phải chịu, đó là thuế thân, coi dân ta như trâu bò phải đóng thuế cho chúng vơ vét về mẫu quốc.

Chỉ riêng thuế ruộng đất, thuế lợi tức đã trả không nổi rồi, nói chi là thuế người. Lại còn bị chánh quyền các cấp trấn lột trắng trợn thì tình cảnh người dân đen sống trên đe dưới búa, thật là thảm thương biết là bao! Chính vì vậy mới có ca dao như sau:

“Năm nay trời bão mất mùa,

Khi trời hạn hán, khi mưa dầm dầm.

Khi thời bão gió ầm ầm,

Ruộng nương thóc lúa, mười phần được ba.

Lấy gì nạp thuế nữa mà,

Lấy gì đóng góp cho nha, cho làng”.

Cũng vì làm việc đầu tắt mặt tối mà không có miếng cơm manh áo che thân thì chỉ còn có chết đói rét mà thôi. Vậy mà còn phải đóng thuế, đút lót làng xã nữa! Nỗi khổ nầy được diễn tả bằng câu ca dao sau:

“Chèo ghe bán cá lòng tong,

Cặt dái lòng thòng chẳng thấy ai mua”.

Nghèo sạch sành sanh, đến đi buôn bán gì mà để lộ liễu tòa thiên nhiên còn tệ hơn Trần Minh khố chuối, giống như người tiền sử thì làm sao các bà các cô dám tới mà mua. Ế là cái chắc!

Phải chăng việc nầy xẩy ra dưới thời Minh Mạng? Tại vì vào thời ấy phụ nữ khổ sở không biết mặc quần hay váy?

Ðàn bà Ðàng trong thời vua Lê chúa Trịnh phải mặc như Tàu:

“Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em” nên mặc quần.

Vua Minh Mạng lại ra lịnh sửa đổi:

“Tháng tám có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng

Không đi thì sợ chợ không đông

Ði thì bắt lột quần chồng sao đang?

Việc nầy không biết xẩy ra thời nào (1828?), nhưng chắc chắn các vị bô lão “thất thập cổ lai hy” đều thấy năm 1945 có nhiều người phải mặc quần bố. Bố ở đây là bao bố. Vì không tiền mà cũng vì không có bông đánh chỉ để may đồ mặc.

Tình trạng nầy do bọn quân phiệt Nhựt vơ vét hết, còn lấy lúa thế than đốt chạy máy xe lửa ngày đêm vận chuyển quan nhu gây nạn đói thảm thương. Họ đành lấy bao bố hay bao chỉ xanh may đồ mặc. Cái khổ là rận ơi là rận!

Cũng vì vậy họ mới đêm đêm thỏ thẻ khuyên lơn chồng, đứng lên tranh đấu để khử trừ bọn người hôi tanh, tán tận lương tâm, ỷ quyền cậy thế, đàn áp bóc lột dân chúng trắng trợn để vơ vét cho đầy túi tham.

Vì ý nghĩa nầy, mà miền Nam, ngoài chữ Nam Kỳ Lục Tỉnh còn được gọi là Nam Bộ kháng chiến. Chính Hồ chí Minh phải nói:

“Miền Nam đi trước về sau”.

Tại sao? Tại vì người phụ nữ Miền Nam biết làm cách mạng chớ không biết làm chánh trị gì hết.

Người phụ nữ Việt Nam không những xinh đẹp, dịu hiền với chiếc áo dài, áo bà ba, nón lá mà còn cương trực, mạnh mẽ, tinh thần cao cả của bà mẹ hy sinh cho gia đình, cho quốc gia dân tộc. Từ nghìn xưa, còn có biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã kề vai gánh vác giang san cứu nước, đem lại tự do độc lập?

Xin hoan nghinh tinh thần bất khuất của người phụ nữ xưa. Hy vọng hồn thiêng các liệt nữ phù trợ cho phụ nữ ngày nay luôn luôn tiếp nối tinh thần cao cả đó để đem lại tự do, độc lập, dân chủ đất nước phú cường, để không hổ thẹn với các anh linh liệt nữ đã hy sinh, để gìn giữ non sông gấm vóc cho ta ngày nay.

Có như vậy mới đáng mặt gái nước Nam.

Xin kết thúc bài nầy bằng câu ca dao sau:

“Phấn son tô điễm sơn hà

Làm cho nở mặt đàn bà nước Nam”

Ghi chú

(1) Theo nhạc sĩ Xuân Tiên, tác giả của bài ca “Khúc hát ân tình”, thì tình Bắc duyên Nam, hoàn toàn không phải tình yêu nam nữ. Nó nói về tình người Bắc di cư vào Nam thời 1954, “sinh trên đất Bắc mà sống dưới trời Nam”.

(2)Theo Thi Long: Nhà Nguyễn, chín chúa mười ba vua, tr 199.

(3) Nguyễn Xuân Nhân, Văn Học Nhân Gian Tây Sơn, NXBT, 1999, tr 151 Xin cám ơn tất cả quý vị đã cho tôi ý kiến, những câu ca dao và nhứt là bà Tôn nữ Ly và Tôn nữ Lang.