THIỀN SƯ TUỆ TĨNH

(1330 – ? )

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

Vào thế kỷ thứ XIV, có một nhà tu đã dày công nghiên cứu thuốc Nam, và trở nên một danh y lỗi lạc của nước ta. Ông đã khổ công ghi chép thành sách vở cho hậu thế. Nhưng than ôi! Rất tiếc là những bản di khảo quí giá của ông bị thất lạc hay hủy thiêu, mất mát gần hết. Nay chỉ còn một số ít, đã được người đương thời giữ và dùng nó để trị bịnh cho dân chúng rất hữu hiệu. Nhờ đó mà họ cứu được nhiều người khỏi chết oan uổng và sinh sống với ngành y, nên họ lập đền thờ ông như thánh nhân, cứu nhân độ thế.

Ông thiệt là bất hủ, vì ông có cái nhìn y học khác lạ hơn người khác. Ông không chỉ xem mạch, chỉ chuyên bốc thuốc để kiếm tiền, mà ông lại chịu khó sưu tra tận gốc y học cổ truyền, thuần túy Việt Nam. Ông đã ghi chép thành những bộ sách y học nước nhà.

Ông cho là thuốc Nam ta cũng công hiệu không thua gì thuốc Bắc. Ông quan niệm rằng chúng ta sinh sống trong cùng môi trường, hít thở không khí trong lành, cùng lớn lên với muôn vàn hoa lá cây cỏ thiên nhiên của đất Việt trời Nam nầy. Tâm hồn và con người của chúng ta đã chan hòa với non xanh nước biếc, không khí trong lành tươi mát đẹp đẽ của đất nước ta đó từ tấm bé. Cho nên chúng ta rất hạp với phong thổ nầy. Chính vì thế nên ông khuyên người Nam ta nên dùng thuốc Nam mới hạp:

“Nam dược trị Nam nhân”

Với tinh thần yêu nước, yêu non sông gấm vóc đất nước Việt, và yêu tự do, tự chủ, tự cường không chịu lệ thuộc vào ngoại bang, ông mới bộc lộ tấm lòng mình. Ðây là tinh thần độc lập căn bản trong mọi ngành nghề phải hiểu nó cho từng tận.

Ông là nhà cách mạng y học. Ông tìm đường bứt bỏ gong cùm, xiềng xích để giải cứu ngành Y-Dược học nước nhà không lệ thuộc, và bị thuốc Bắc kềm chế thao túng cùng trục lợi tới tận xương tủy.

Ông cho dược thảo của ta cũng hay, cũng công hiệu, không thua gì thuốc Bắc, chỉ có ta không hết lòng tin tưởng, mang nặng đầu óc cố hữu vọng ngoại, chạy theo thuốc Bắc. Họ nghe theo lời các quan thầy cho rằng thuốc nhập từ bên Tàu mới quí. Ý tưởng vọng ngoại đã vô tình diệt chết ngành Y Dược trong trứng nước của ta!

Ngay cả thời nầy và ngay tại Úc và Tân Tây Lan có rất nhiều trại chăn nuôi nai làm thịt bán. Nhung, gạc non được lấy bán với giá rẻ mạt cho bọn Hoa thương. Họ gói vô hộp, bao kỹ lưỡng, dán nhãn với hàng chữ Tàu quệt quạt, bố ai hiểu, bán lại với giá cắt cổ nhờ cho rằng “há cái nầy là nhung chính cống bên Tàu lá”.

Nhờ thâm sâu Nho học, thấm nhuần Phật học và Nho học, quen đời sống khổ hạnh thư thái không bon chen, ông nổ lực sưu tra, lượm lặt tài liệu y học. Ông ghi chép dược tánh từng cây cỏ trên non, dưới biển, trong rừng rậm, rau thơm cỏ lạ. Ông biến xung quanh chùa, xung quanh nhà thành vườn hoa dược thảo dùng để trị bịnh tật cho dân nghèo.

Ông gom góp phân loại và viết thành những bộ sách quí giá đó là “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hồng Nghĩa Tư Giác Y thư”. Ngoài giá trị Y-Dược, sách còn có giá trị văn chương, văn hóa vào thời bấy giờ.

Về Y Dược

Ông cũng mở lớp giảng dạy dược chất và công dụng cho các tăng ni học, để gặp cơn hữu sự ứng dụng, giúp người, cứu người cùng chăm lo phát huy nó ngày một tiến thêm lên. Ði tới đâu, nơi nào, ông cũng tìm cách xây cất chùa và vườn hoa dược thảo để mọi người sử dụng.

Ông rất đố kỵ việc mê tín dị đoan, chống đối việc dùng bùa chú mà không dùng thuốc Nam điềøu trị để bịnh chết oan uổng. Ông cũng chỉ dạy các cách châm, xoa bóp, hơ, xông, ăn uống để phòng ngừa và chống bịnh tật thông thường. Ông cũng không quên nói về tạng phủ kinh mạch…Những bộ sách soạn thảo của ông như “Dược tính chỉ nam” và “Thập tam phương gia giảm”. Phần nhiều di khảo của ông thất lạc do binh lửa của nhà Minh phá hủy vào thế kỷ thứ XV, khi chúng xâm lăng nước ta.

Ông cho tình dục là bản tánh của con người. Ông cũng khuyên lơn không nên lạm dụng phí hao tinh khí trong tình dục. Ông cũng khuyên lơn về vệ sinh và dinh dưỡng cho điều độ.

Tinh khí rất quí báu. Nếu ta giữ tinh đầy đủ, ta sẽ có đầy đủ sức khỏe để sống lâu. Còn như lao lực quá sức, hoang dâm vô độ, tinh lực phung phí sẽ hại cho sức khỏe, sẽ sinh ra bịnh hoạn, chết sớm.

Sinh khí là trọng yếu phải giữ gìn vì lạm dụng sẽ hao mòn. Làm việc quá sức lực, hoang dâm vô độ hao tổn tinh khí, mất hết sức lực chỉ có nước chết non.

Gìn giữ một tinh thần bình thản, nội tâm không lo âu sầu muộn, ngoại tâm không bị xáo trộn bởi ngoại cảnh, thì đời sống sẽ thảnh thơi an lành. Không có thất tình, lục dục khuấy phá tâm hồn yên tịnh sẽ không bệnh tật (lên máu, đau bao tử, nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ…), lại sống lâu.

Thiền sư đúc kết thành câu sau đây:

“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần,

Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”

Ông cũng ghi chép các toa thuốc và cách điều trị bịnh tật cho họ. Có tất cả 500 vị thuốc Nam. Ông cũng có công nghiên cứu về thú vật, cách chữa trị. Tuy ít ỏi, nhưng nó cũng là nền tảng của khoa Thú Y sau nầy.

Về văn chương

Tại sao người ta coi ông như một văn nhân? Bởi vì ông viết sách y, dẫn giải bằng thơ văn chớ không phải văn xuôi, nhứt là thơ Ðường luật mới lạ. Hơn nữa lại bằng chữ Nôm.

Thiền sư là người đầu tiên đem hết tâm huyết vun xén vườn hoa dược thảo nước ta. Ông đã can đảm đứng lên làm cách mạng chống lại Bắc phương, dành lại nền độc lập tự chủ cho ngành Y-Dược nước nhà.

Còn nữa, cái hay của ông là, ngoài việc tìm đường giải thoát ngành Y-Dược, còn can đảm chống đối lòng mê tín dị đoan, u mê thần quyền, dùng bùa chú nhảm nhí rất tai hại.

Người tài đức có tinh thần yêu nước, trí sáng tạo, khai hóa và giải phóng ngành y dược cổ truyền Việt Nam, đó không ai hơn là:

Thiền sư Tuệ Tĩnh

Thiền sư là người thuộc thôn Nghĩa Phú, huyện Dạ Cầm, tỉnh Hải Hưng tức Hải Dương ngày nay. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân. Cha là Nguyễn Công Lý và mẹ là Hoàng Thị Ngọc. Ông sanh vào năm 1330, dưới thời nhà Trần, vua Trần Dụ Tông. Tên thật của ông là Nguyễn Bá Tĩnh. Con nhà nghèo lại mất cha lẫn mẹ lúc lên sáu. Thân côi cút, cậu bé đành vào cửa Phật nương tựa để sống qua ngày.

Nhà sư chùa Hải Triều, sau gọi là Nghiêm Quang ở Cẩm Sơn nuôi và cho cậu bé ăn học. Nhưng vì đất lở mất chùa, cậu bé nay là chú tiểu lên 10 được đưa về nhà sư chùa Giao Thủy ở Sơn Nam, Nam Ðịnh. Sau lại được đưa về nhà sư chùa Dũng Nhuệ với tên là Tiểu Huệ cùng biệt danh là Huệ Tĩnh. Từ đây ông được chuyên chú học văn chương nghĩa lý và thuốc để phụ giúp chùa chữa trị bịnh nhân.

Năm lên 22, ông dự thi và được cho làm quan, nhưng ông từ chối trở về chùa tu luyện và chuyên chú nghiên cứu y-dược và chữa bịnh với danh hiệu là Tuệ Tĩnh. Năm 30 tuổi, ông trở về trụ trì chùa ở Sơn Nam và tu bổ xây 24 chùa khác trong vùng. Tuy nhiên ông không quên mở lớp, giảng giải, huấn luyện cho các tăng ni hiểu biết y lý và dược tánh cây cỏ, để chữa trị làm phúc.

Năm 45 tuổi, ông đậu Hoàng Giáp. Năm 55 tuổi ông bị đi sứ qua Trung Quốc và bị Minh triều bắt giữ lại để làm việc trong viện Thái y. Ðây cũng được coi như Hàn Lâm Viện Ðông Y của Trung Hoa. Nhờ tài năng siêu hạng, ông rất nổi danh tại đây, và cũng vì vậy mà đây là nấm mồ chôn hồn xác của nhà cách mạng Y-Dược đại tài Việt Nam tại Trung Quốc mới là lạ!

Trung Quốc vĩ đại lúc nào cũng tự cao tự đại, lại bắt giữ người Nam ta để nghiên cứu cho Ðông y của họ.

(Theo việc triều cống, ngoài đồ vật quí giá còn phải giao nạp gái đẹp, nghệ sĩ, thợ mộc giỏi, thầy thuốc vân vân…Nghe đâu Cung Ðiện mùa hạ là do nghệ sĩ điêu khắc Việt Nam thiết kế và kiến trúc, người đó là thái giám Nguyễn An)

Và ngành Y-Dược cổ truyền Việt Nam mất đi một ngôi sao sáng, để Y-Dược nước nhà bị mai mọât và trở về thời tiền sử sơ khai què quặt… trong nhiều niên kỷ sau. Cũng tại “bề tôi dân ta” quá ươn hèn, chỉ biết bảo vệ quyền lợi, chức vụ, chễm chệ ăn trên ngồi trước hưởng lôïc. Họ mặc cho đất nước đen tối, thần dân đau khổ không có thuốc thang chữa trị. Họ là đám ăn hại, chỉ biết cầu vinh, phì da ấm cật, không lo gì cho tổ quốc và dân tộc.

Họ không dám đòi quan thầy cho Thiền sư về xây dựng và phát triển ngành thuốc nước nhà, mà để đánh mất một thiên tài… làm giàu cho nền Ðông Y Trung Quốc. Theo gương Thiền sư Tuệ Tĩnh danh y lỗi lạc tiền bối của Trung Hoa, nhà dược học Lý Thời Trân (1) suốt đời lặn lội rừng sâu, tìm kiếm cây cỏ hoa lá đem về nghiên cứu dược tánh, để ghi thành pho Bách khoa Từ Ðiển Dược Học Trung Hoa.

Thiền sư bị đưa đi sứ, chẳng khác nào bắt nhân tài nước ta làm giàu cho ngành Ðông Y Trung Quốc và diệt ngành Y Học ta từ trong trứng nước. Tội nghiệp cho nước nhỏ bị chèn ép, bốc lột trắng trợn, thô bạo như cá lớn ăn hiếp cá nhỏ. Thật đau lòng cho quốc gia nhỏ bé!

Cho tới nay, không ai biết rõ Thiền sư viên tịch lúc nào và ở đâu cả? Theo sử sách ghi chép dưới thời nhà Nguyễn thì ông viên tịch ở vùng Giang Nam, nhưng mộ phần ông ở đâu, không ai biết?

Noi theo truyền thống y học cổ truyền mà Thiền sư Tuệ Tĩnh đã mở đường khai hóa, để sau nầy có những danh y lỗi lạc noi theo như: Hoàng Ðôn Hòa, người tỉnh Hà Tây, Lương Dược hầu đời vua Lê Thế Tông, đã sử dụng thuốc Nam của Thiền sư Tuệ Tĩnh mà cứu được dân chúng qua những trận dịch năm 1533 và 1574. Ông cũng dùng phương pháp dưỡng sinh của Tuệ Tĩnh để đề ra thuyết

Thanh tâm tiết dục”, “Tịnh công hô hấp

Hải Thượng Lãn Ông sử dụng 500 vị thuốc của Thiền sư với 3.874 bài thuốc. Lãn Ông cũng noi theo phương pháp dưỡng sinh suy diễn thành phép trường sinh Gìn giữ tinh khí để sống lâu”.

Nói tóm lại, thiền sư Tuệ Tĩnh không những là nhà lý thuyết y học truyền thống “Nam dược trị Nam nhân”, mà là nhà nghiên cứu y dược, đã giữ một vai trò quan trọng trong việc phát huy, nền tảng của ngành Y-Dược nước nhà.

Hiện nay, tại Cẩm Văn, Hải Dương, chùa Hải Triều nơi ông tu luyện và hành y, có dựng lên pho tượng của ông vì người đời kính trọng, coi ông như thánh nhân. Tại đền có câu đối sau đây:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh

Sống nhờ cửa Phật, ơn cứu người lớn tựa Cẩm giang”

Ghi chú:

(1) Lý Thời Trân (Li Shih Chen 1518-1593) là nhà khảo cứu dược học Trung Hoa. Ông đã hy sinh suốt đời tận tụy sưu tầm, thử nghiệm và biên soạn ra bộ Bản thảo thật ra là Cương Lĩnh Dược Học Trung Hoa (Chinise Encyclopedia Pharmacopy). Năm 1556, ông được chọn làm Thái Y Viện.