HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

(1720-1791)

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

Thế kỷ XVIII là một khúc quanh lịch sử về mọi mặt như:

a. Về văn học thì có Nguyễn Du với quyển Kim Vân Kiều bất hủ.

b. Về thiên văn địa lý thì có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

c. Về Y học cổ truyền tinh túy, thuốc Nam mà ngày nay lại gọi là y học dân tộc, với sự xuất hiện một nhân tài hiếm có trong nền văn hóa và y học Việt Nam. Ông là ngôi sao sáng của Y học cổ truyền nước ta sau Thiền Sư Tuệ Tĩnh.

 (Theo Gs Bs Nguyễn Văn Thang: Hải Thượng Lãn Ông, Nhà Y học, Văn hóa lớn)

Người đó không ai xa lạ, chính là Hải Thượng Lãn Ông, vị Tổ sư Nam Y, tên thật là Lê Hữu Trác. Ông còn có nhiều tên như Lê hữu Huân, Chuẩn và Chiêu Bảy vì ông là người con thứ bảy, yếu đuối trong gia đình đông con. Ông sinh ngày 12 tháng 11 Âm lịch năm Giáp Thìn (1724) đời vua Lê Dụ Tông thứ 5, tại làng Liêu Xá, huyện Ðường Hào (nay là Mỹ Vân), tỉnh Hải Dương. Ðây cũng là quê hương của Thiền Sư Tuệ Tĩnh và nhiều danh tài như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn… Nhưng theo cụ Lê Trần Ðức thì cho là ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý 1720 (trong “Thân thế và sự nghiệp Y học của Hải Thượng Lãn Ông”).

Ông sinh ra trong một gia đình thế phiệt trâm anh, khoa bảng. Có tất cả 7 người đậu Tiến sĩ không kể những người đậu cử nhân. Cụ thân sinh của ông là Thượng thư Lê Hữu Mưu. Mẹ là Bùi Thị Thưởng, con quan Tham Ðốc.

Em rể của ông không ai xa lạ là Bảng nhãn Lê Quý Ðôn (1726-1784), người chỉ 10 tuổi đã nổi danh với bài thơ “Rắn đầu biếng học”. Mỗi câu thơ mang tên một loài rắn mới tài tình. (xin xem bài Rắn độc trang 193)

Tuy con nhà khoa bảng, lúc nào cũng muốn nối nghiệp ông cha, nhưng mộng không thành, ông chỉ có đậu tam trường. Tuy dồi mài đèn sách, kinh sử thâm sâu, vì đường quan lộ công danh lại quá chông gai, nên ông đành quay sang nghề thuốc. Nhưng ông cũng chưa được thanh thản trong y nghiệp như ước mơ.

Ông lập gia đình với bà Lê thị Khoan lúc còn lo ăn học, sau ông vớ thêm bà Hoàng Thị Hợp. Ông có 9 con nhưng chết non chỉ còn hai người. Ông cho số không may, con cái bịnh tật chết non chỉ vì ông cho “khí bẩm của tôi vốn yếu ớt, sinh con càng yếu ớt hơn”.

Ngoài ra, ông còn vương vấn một mối tình đầu, sầu muộn làm ông ray rứt suốt đời không quên. Ông có người bạn được gia đình hứa hôn, nhưng vì cha mất sớm, cảnh nhà suy sụp, loạn lạc ly tán lúc 20 tuổi. Sau trở về gặp lại cô nàng, nhưng bị từ chối vì cho mình bị hứa hôn với người khác…làm ông đau lòng.

Xã hội bất ổn, ô tạp, lại gặp loạn lạc vua Lê chúa Trịnh, ông phải phiêu bạt giang hồ. Cái nghèo và cơn bịnh hoạn dầy xéo tâm hồn và thân xác ông. Nhân lúc chăm sóc mẹ già bịnh hoạn, nhờ đó ông mới có duyên gần gủi thuốc men. Từ đó ông hết sức thích thú cái kỳ diệu của y học. Ðoạn ông say sưa nghiên cứu và đào sâu y học của nước nhà.

Các cuốn sách Thượng Kinh ký sự, Mông trung giác đậu, Ấu ấu tu tri… cũng có trình bày cho biết nỗi niềm tâm sự của ông. Ông cho các bậc tiền bối khái luận y lý chưa tới nơi tới chốn, nhiều điều rải rác khó hiểu… Ông cố sưu tra, biên soạn, dẫn giải theo hiểu biết và kinh nghiệm cho nó rõ ràng, mạch lạc, xắp xếp thành từng chương. Ngoài các quyển trên, ông còn viết rất nhiều sách khác, tuy nhiên rất ít người biết tới và thất lạc theo thời gian.

Ông được vào làm thầy thuốc cho chúa Trịnh Sâm năm 1770, tức 12 năm sau khi ông hoàn thành bộ Lãn Ông Tâm Lĩnh. Ông mong đây là cơ hội cho ông in được sách nầy. Nhưng than ôi, nó cũng vẫn không được xuất bản. Ông nghiên cứu viết thêm nữa, Y Trung Quan Kiện (1780) vân vân… nhưng vẫn nằm êm rải rác đây đó phủ đầy bụi bậm thời gian trong xó tủ!

Từ từ chúng mai một đi. Mãi tới 115 năm sau, tức 100 năm sau khi ông mất, người ta mới biết giá trị và tìm tòi cho in ra thành sách! Vì sách thất lạc, nên cần có công lao của nhiều người cố gắng sưu tầm như Vũ Xuân Hiền, Ts Lê Cúc Linh, Hòa thượng Thanh Cao ròng rã trong 6 năm trời. Có phải thiệt là người ta quên lãng hay vọng ngoại, tôn vinh thuốc Bắc, miệt thị thuốc Nam rồi cố tình quên luôn?

Về Văn học

Cụ Lê hữu Trác viết văn, ký sự, làm thơ rất hay nói lên nỗi niềm tâm sự rất thực tế. Nó bày tỏ lòng nhân từ, đạo hạnh của con người của ông.

Vì hoàn cảnh gia đình và chiến tranh loạn lạc, ông đánh mất mối tình xưa bằng cách từ hôn. Nhưng sau gặp lại thì nàng ở vậy, ông giận mình và ôm hận suốt đời. Nó ray rức không nguôi trong lòng. Ông bày tỏ nỗi lòng mình qua bài thơ sau đây:

“Vô tâm sự xuất ngô nhân đa,

Kim nhật tương khan khổ tự ta.

Nhất tiếu tình đa lưu mãnh liệt,

Song nâu xuân tận, hiện hình hoa.

Thử sinh nguyệt tác càn huynh muội,

Tái thế ưng đồ tốn thất gia.

Ngã bất thụ nhân, nhân thụ ngã,

Tinh thiên như thử nại chi hà?”

Phan Võ dịch

“Lầm người, sự bởi vô tâm,

Nhìn nhau hay những luống thầm thở than.

Một cười giọt lệ chứa chan,

Mắt trông, xuân hết hoa tàn thương thay.

Anh em kết nghĩa kiếp này,

Kiếp sau cầm sắc bé dây họa là.

Trót vì người phụ lòng ta,

Ôi thôi, đành vậy biết là làm sao!” (2)

Có sống trong cung đình, ông mới bày tỏ rõ ràng tánh tình, tật xấu của Trịnh Sâm, Trịnh Cán và bọn a tòng. Vì đây không phải phần chánh, xin cho qua, để tìm hiểu về y học thâm sâu của Hải Thượng Lãn Ông.

Về Y học

Mặc dầu ông noi theo và phát huy y lý cổ truyền, nhưng vì ông đã dầy công nghiên cứu Phật giáo, Khổng giáo, Nho giáo, nhập tâm đạo lý và y lý đó, rồi phát huy ghi lại thành những bộ sách y học bao gồm sinh lý bịnh học, chẩn đoán, điều trị, dinh dưỡng… kể cả nội, ngoại, phụ và nhi khoa.

Chính vì nó thấm nhuần triết lý Ðông phương sâu sắc, mà nó có đạo lý rất thâm cao, quý giá cho hậu thế. Ðó là bộ sách tâm huyết hay nhứt đời ông gồm 28 tập, 66 quyển như bộâ Bách khoa toàn thư Y học cổ truyền Ðông phương của nước ta: “Lãn Ông Tâm Lĩnh”, còn gọi là”Hải Thượng y tông Tâm Lĩnh”.

Cũng như Thiền sư Tuệ Tĩnh, Lãn Ông cũng chủ trương cần phải tiết độ trong tình dục. Tinh khí rất quí giá cần phải bảo tồn:

“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

Tinh không háo tán thì thần được yên”

Mặc dầu ông là đệ tử của cái tư tưởng bài ngoại, vang danh và làm sống lại nền y học cổ truyền của Thiền Sư Tuệ Tĩnh, nhưng lại được sự thờ kính, tôn sùng như tổ sư của Y học Việt Nam. Mặc dầu ông không có viết ra “lời thề The Hippocratic Oath” như Tổ sư Hippocrate (460-356 BC), của Tây y, nhưng ông được danh hiệu nầy, vì ông đã mở trường giảng dạy y lý, viết thành châm ngôn về y đạo, đơn sơ dễ hiểu khác hơn Hippocrate, để hậu thế noi theo. (1)

Ông chủ trương, người thầy thuốc cần lo cứu sinh mạng con người, không phải chỉ chứa đầy bụng y lý thôi, mà phải có nền tảng đạo đức, tức y đạo mới được. Một trong những câu tràn đầy lòng từ bi bác ái, thốt ra tự đáy lòng đó là:

“Ðạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải có cái lo của con người, vui cái vui con người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi kể công”

Giáo huấn

Lãn Ông có đưa ra 9 lời huấn dụ được kể như “y huấn cách ngôn”. Những lời nầy tới ngày nay cũng còn giá trị thực tiễn. Cần được duy trì và noi theo.

Ðây là lời giáo huấn chớ không phải là lời thề. Nó là những lời khuyên dạy cho người hành y cần phải noi theo mà ông chỉ dạy cho các đệ tử ông.

Nhưng thật ra nó còn có ý nghĩa như y đạo. Theo ông:

“Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạng con người, sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành động không thận trọng mà làm liều lĩnh học đòi cái nghề cao qúy đó chăng”.

“Phàm có người mời đi thăm bịnh, nên tùy bịnh kịp hay không mà sắp đặt thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau, hoặc bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém”.

“Khi đến xem bịnh ở nhà nghèo túng, hay những người mồ côi, góa bụa hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt; vì những người giàu sang không lo không có người chữa; còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời, còn những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bịnh, ngoài việc cho thuốc mà không có ăn, thì vẫn đi đến chỗ chết”.

“Khi chữa bịnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà cáp, vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta cần giữ khí tiết cho trong sạch”

Ông khuyên người thầy thuốc nên tránh 9 điều sau đây:

Xem xét bịnh rồi mới cho toa, vì ngại đêm mưa vất vả không chịu thăm mà đã cho phương. Ðó là tội lười.

Có bịnh cần dùng thuốc nào đó mới cứu được nhưng sợ con bệnh nghèo túng không tiền trả được vốn nên chỉ cho thuốc rẻ tiền. Ðó là tội bủn xỉn.

Khi thấy bịnh chết đã rõ, không báo thực lại nói lơ mơ để làm tiền. Ðó là tội tham lam.

Thấy bịnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta để lấy nhiều tiền. Ðó là tội lừa dối.

Thấy bệnh khó, đáng lẽ nói thực rồi hết lòng cứu chữa, nhưng lại sợ mang tiếng không biết thuốc, và lại chưa chắc chắn đã thành công, không được hậu lời nên không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết. Ðó là tội bất nhân.

Ngày thường người bịnh có bất bình với mình, khi mắc bịnh phải nhờ đến mình, liền nghĩ ra ý nghĩ oán thù không chịu chữa hết lòng. Ðó là tội hẹp hòi.

Thấy kẻ mồ côi góa bụa, người hiền con hiếm mà nghèo đói, ốm đau cho là chữa mất công vô ích không chịu hết lòng. Ðó là tội thất đức.

Lại như xét bịnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bịnh. Ðó là tội dốt nát.

 Khi xem bệnh cho phụ nữ, phải đứng đắn, phải có ngườ bên cạnh (tức người thứ ba) mới bước vào phòng thăm bệnh.

Tuy là hai vị Ðông y cổ truyền, Tuệ Tĩnh và Lãn Ông thật đáng cho ta tôn sư với tất cả lòng kính trọng và tôn vinh như tổ sư mới được. Những lời giáo huấn đầy đạo đức cao minh, thanh cao hơn lời thề Hippocrates.

Phải nói là chỉ có người dầy tâm đạo, mới phát ra được những lời vàng ngọc, những lời giáo huấn đầy đạo đức cao minh, thanh cao hơn lời thề Hippocrate. Ðáng kính thay!.

Ghi chú

(1) Hippocrates Ông là ai? trong “Tuyển Tập PGS 1, tr. 190

(2) Gs Bs Nguyễn Văn Thang: Hải Thượng Lãn Ông, Nhà Y Học, Nhà Văn hóa lớn