LÀM THẾ NÀO ĐỂ SANH CON KHÔN

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

sanh con khon 01Tài năng, trí thông minh là thiên phú. Tuy nhiên nó cũng do sự cố gắng rèn luyện.

Bởi vì:

“Ngọc kia chẳng giũa, chẳng mài,
Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi.
Con người ta có khác gì,
Học hành quí giá ngu si hư đời…”

Trong văn học và võ thuật cũng vậy:

“Văn ôn, võ luyện”

Phận làm cha mẹ, ai mà chẳng muốn có con khôn ngoan hơn người, bởi vì con thông minh, tài trí hơn cha mẹ là nhà có phúc. Thật vậy, vì:

“Con hơn cha, nhà có phúc”.

Chính vì vậy mà bậc làm cha mẹ, ai ai cũng ao ước con cái mình khôn ngoan. Cái khó khăn là phải làm thế nào, để đạt được cái ước mơ đó, mới là khó.

Ðể giúp quí vị đạt được ước nguyện đó, chúng tôi xin đóng góp chút hiểu biết y học, và cầu mong quí vị phải ráng thực hiện những điều cần thiết, để giúp thêm cho sự nẩy nở trí thông minh của con trẻ.

Lựa chọn dâu rể

Ngày xưa ông bà mình cũng có chút ý niệm về việc nầy, nhưng họ không biết giải thích rõ ràng. Họ thường hay lựa dâu rể, không những khỏe mạnh mà thôi, mà còn không có bịnh di truyền, chẳng hạn như bịnh tâm trí, bịnh thần kinh, bịnh cùi, bịnh ho lao vân vân… Họ cho là:

“Cha mẹ khùng đẻ con điên”.

Ðiều nầy đúng mà cũng không đúng, chẳng hạn như người cha hay mẹ đó bị tai nạn hay tai biến mạch máu não, già cả bị bịnh lẫn lộn. Hoặc những bịnh truyền nhiễm, bất trị vào thời đó, nay có thể trị được một vài bịnh thôi, như:

“Phong, lao, cổ, chướng, tứ chướng nan y”

Bây giờ bịnh lao không còn là bịnh bất trị nữa, chỉ có cái là có đủ tiền để chạy chữa hay không mà thôi. Ở Úc trị dứt dễ dàng, chỉ có điều là bịnh nhân được Bs hay y tá cho uống thuốc tại chỗ, nhân viên y tế theo dõi, tới tận nhà kiếm nếu vắng mặt không uống thuốc.

Phong ở đây không phải là gió mà là cùi, hủi vẫn có thuốc để trị. Ở đây thuốc tuy đắc tiền, nhưng vì là bịnh xã hội nên chính phủ đài thọ. Nếu cần giải phẫu tái tạo, họ vẫn mổ để người bịnh sử dụng tay chân trong công việc sinh sống hằng ngày.

Ở nước ta có rất nhiều trại bịnh nầy, nhưng ở đây không có cho nên người Úc rất lo sợ. Họ không muốn bịnh lây lan ra cộng đồng. Bịnh nhân được điều trị tại bịnh viện lây nhiễm Prince Henry mà chúng tôi có dịp gặp. Hầu hết là người di dân từ Á Châu tới.

Phái nam

Các cụ bà, cụ ông ta lại còn đòi môn đăng hộ đối nữa kia. Việc nầy lại có ý nghĩa lựa chọn gia đình có học thức, đạo đức, giàu sang, coi có xứng đáng cho họ làm sui gia, ngồi nói chuyện hay không.

Họ lựa nòi, lựa giống đấy. Có nghĩa là họ lựa trí thông minh và tài năng của con trẻ đấy.

“Cha nào con nấy”
Tel père tel fils.
Like father like son.
Hổ phụ sanh hổ tử.
“Con sãi ở chùa quét lá đa”.

Còn dâu thì không những đẹp đẻ duyên dáng mà còn khỏe mạnh:

“Mua heo chọn nái,
Cưới gái chọn dòng”

Nhưng xin, cũng đừng quên là có khi cha mẹ có tài trí mà con cái lại bết bát, học hành chẳng tới đâu cả:

“Cha làm thầy, con bán sách”

Gene (gien) rất là quan trọng, vì nó như một nhạc trưởng điều khiển từ tinh thần tới thể chất, tính tình tới bịnh tật. Lựa chọn nòi giống là đúng, nhưng đừng quá khó khăn, nhiều khi làm đôi trẻ xứng đôi vừa lứa phải xa lìa nhau.

Khác với Tây Âu và Trung Ðông, ông bà ta nghiêm cấm bà con dòng họ không được lấy nhau. Nền đạo lý của tổ tiên ta theo Khổng giáo và Nho giáo nên cho là loạn luân, không
có luân thường, đạo lý, kỷ cương gia đạo gì hết. Thật là khổ! Miệng đời sẽ khinh khi cái gia đình bất hạnh nầy.

Bỏ đạo đức qua một bên, chúng ta chỉ nhìn dưới khía cạnh y khoa thôi thì ông bà ta rất có lý. Chắc quý vị lấy làm lạ. Thử để hai đôi trẻ đều có mang bịnh di truyền nào đó, tỉ như:

1. Nếu chỉ một người mang bịnh thiếu máu Thalassemia minor hay trait, thì còn sanh con cái được.

2. Nếu cả hai đều là Thalassaemia trait, thì việc sanh con đẻ cái rất khó và tử vong rất cao, vì con sinh ra sẽ mắc Thalassaemia major mà chết yểu. Kết quả của việc nầy đưa tới tuyệt tự. Hỏi coi còn ai nữa mà nối dòng, hương khói thờ phụng tổ tiên đây? Mồ mả tổ tiên ai trông coi đây?

Vua chúa mà không con, thì ai sẽ nối ngôi đây?

Như vậy chắc chắn tổ tiên mình, hay nền y lý, y đạo cổ truyền có hiểu biết chút ít di tín, di truyền nên bài ra tục lệ cấm đoán trên.

Phái nữ

Ðàn bà, con gái cũng có thể lựa chọn người thanh niên khôi ngô tuấn tú, đức độ, tài năng, xứng đáng với mình, mà mình hằng mơ ước, mới ưng chịu, chớ ngu dại gì bạ đâu lấy nấy
kiểu cũ xưa, cha mẹ đặt đâu ngồi đó. Mình phải có lý tưởng, tự quyết định, tự chọn lấy người mình thương yêu, ưa mến, mới đáng cho mình nâng khăn sửa áo, phải không quý cô? Chớ ai mà chịu như:

“Gái thuyền quyên mười hai bến nước,
Trong nhờ đục chịu, không biết về tay ai?”

“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

Bởi vì

“Mua thịt thì chọn miếng mông.
Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi.”
(Ca dao)

Nhưng thanh niên ngày nay lấy vợ, lấy chồng là tùy theo sở thích chớ không có những ý nghĩ như ông bà ta ngày xưa. Yêu nhau là lấy nhau, không nghĩ gì tới gia đình bên vợ hay chồng, hoặc tương lai gì hết vì:

‘Le coeur a ses raisons que la raison ne connait pas’
“Lòng người có những lý lẽ, mà lý trí không hiểu nổi”.

Nếu mình không có cái may mắn về “gien”, thì mình phải tìm cách khác, cũng được dễ dàng. Còn như mình có sẵn, mà còn áp dụng những điều được chỉ dẫn dưới đây, thì càng tăng thêm phần hữu hiệu, càng tốt đẹp cho người Việt Nam trong tương lai ở quê người hay quê nhà.
Ðể giúp qúy vị tìm cách sanh con khôn, xin lượm lặt những điều cần thiết sau đây, để qúy vị áp dụng hầu sanh con theo ý muốn.

Chất Folic acid

Phôi thai rất cần chất Folic acid trong ba tháng đầu sau khi thụ thai. Còn muốn dễ thụ thai và luôn có sẳn Folic acid khi thụ thai để nuôi phôi thai thì phải dùng ba tháng trước khi thụ thai.

Sau khi trứng thụ tinh, nó sẽ phát triển thành phôi thai. Trong ba tháng đầu phôi thai tạo ra xương cốt. Ðốt xương sống được tạo ra là do hai mảnh xương hợp lại. Nếu chúng không hàn gắn lại, kẽ hở nhỏ sẽ làm đứa bé sau nầy đau lưng kinh niên, còn kẽ hở lớn sẽ làm cho nước tủy sống chảy phù ra, thành khối u tật nứt đốt sống (spina bifida).

Trẻ có tật nầy, đầu sẽ to lớn kinh khủng, mắt luôn nhìn xuống như mặt trời lặn, khó nuôi và sẽ không khôn:

“Lớn đầu mà dại”.

Người ta cho là đầu nó có hạt ngọc, thật ra không có chi cả, chỉ có nhiều dịch não tủy, còn khối óc thì rất nhỏ không phát triển: Não thủy thủng.

1. Muốn ngừa trường hợp nầy cần phải uống folic acid ba tháng trước để có sẳn dự trữ khi thụ thai, nó nuôi bào thai. Hơn nữa đâu biết ngày nào đậu thai đâu mà lường. Cứ mỗi ngày phải uống 0.5mg sẽ ngăn ngừa tới 70% trường hợp.

2. Muốn trị não thủy thủng phải giải phẫu não, để chuyền dịch não tủy xuống bụng, để não phát triển.

3. Bé có não thủy thủng đã không thông minh, học hành khó khăn mà còn khó nuôi vì cứ bịnh hoạn hoài. Cứ 500 trẻ sinh ra, thì có 1 đứa mắc phải bịnh não thủy thủng.

Ở đâu có Folic acid?

Thuốc bán với tên là Folic acid hay folic acid với chất sắt: FGF và Fefol. Thuốc phải uống suốt thời kỳ thai nghén. Thuốc có tác hại phụ là làm cho bón, cho nên có nhiều bà mẹ bỏ thuốc, chạy uống thuốc Bắc hay nghe lời bạn bè chỉ uống thuốc bổ. Thuốc Bắc hoàn toàn không có chất folic acid và sắt, còn thuốc bổ không đủ liều lượng các chất trên để bồi bổ cho bà mẹ lẫn con.

Thuốc bổ phụ nữ cũng không có tác dụng mong muốn cho bà bầu và bà mẹ cho con bú qúy vị ơi. Nhiều khi nó lại nguy hiểm cho thai nhi và hài nhi, nếu nó có chứa chất nữ kích thích tố.

Vì trí thông minh của con cái mình, xin các bà hãy kiên nhẫn và năng uống Megafol, FGF hay Fefol. Tuyệt đối không uống thứ khác.

Rau cải xanh và trái cây có chứa chút folic acid. Tốt nhứt là uống thêm thuốc mới đủ. Mấy năm gần đây, các cuộc nghiên cứu ở Úc cho thấy hàm lượng folic acid của các thai phụ rất thấp. Ðể giúp phụ nữ có đủ lượng folic acid, chính phủ dự định bỏ nó vô bánh mì có số lượng là 80-180 mcg cho mỗi 100g bánh mì.

Chất Sắt

Nếu thai phụ bị thiếu máu sẽ đưa tới tình trạng nguy ngập kỳ lạ là “thèm ăn đồ ăn bậy bạ kỳ cục”. Chứng nầy gọi là Pica.

Trên 50-60 năm về trước, chúng tôi từng chứng kiến cảnh mấy bà bầu ăn như vậy. Họ thường ăn:

• Nắp nồi đất (geophagia),

• Cơm cháy hay gạo sống (amylophagia),

• Nước đá cục (pagophagia).

Ở đây chúng ta không còn thấy cảnh nầy nữa. Gần đây các cuộc nghiên cứu cho biết chất sắt rất cần cho việc thụ thai. Vậy muốn có con phải dùng thêm chất sắt và folic aid chớ không phải riêng folic acid như người ta tưởng.

Ở đâu có chất sắt?

Bầu sữa mẹ ấm áp đượm đầy tình mẫu tử, lại là nguồn cung cấp chất sắt không những cần thiết cho trẻ thơ mà còn giúp nó dự trữ nữa. Nên cho con bú tốt nhứt là từ sáu tới mười hai tháng.

Theo Gs trẻ sơ sinh John Whitehall thì trẻ con sanh non cần sữa mẹ tới 12 tháng. Chúng cũng cần cho thêm chất sắt ít nhất là 3mg/kg/ngày. Trái lại 1mg/kg/ngày cho trẻ sanh đủ tháng. Gs cũng nhận định là trẻ Trung Ðông, Việt Nam và Thổ dân bị thiếu chất sắt rất trầm trọng (MO 27/7/07)

Sữa tươi và sữa bột không chứa đủ chất sắt. Cần cho ăn dậm để có chất sắt. Fe có trong sữa, thịt cá, gan, huyết, tròng đỏ hột gà. Riêng rau cải chỉ có loại cải Spinach trong siêu thị Úc mới có bán.

Có lẽ chúng ta quên đi thửa ruộng bờ ao ở quê nhà có thứ sâm độc đáo, làm dưa, ăn sống, nấu canh chua vân vân… đó là rau muống ta. Nó có rất nhiều chất sắt. Nhờ đó mà thai phụ hay sản phụ ta ăn mà nuôi dưỡng con cái lớn khôn đó quý vị.

Có thể cho các thai phụ và bà mẹ cho con bú uống chất sắt như: FGF, Fefol. Trẻ con dùng Ferro-liquid, con hươu cao cổ Incremin. Các thuốc bổ cho phụ nữ mang thai và cho con bú không chứa đủ hàm lượng cần thiết cho họ. Nên nhớ là thuốc gây táo bón, phải ăn nhiều rau cải và trái cây.

Chất Iodine

Bịnh thiếu iodine, được gọi là giảm năng tuyến giáp trạng (hypothyroidism) hay nôm na là ‘bướu tuyến giáp hiền’. Trẻ con bị bịnh nầy, vừa lùn, mặt mày tròn trịa như trăng rầm, khờ khạo chậm chạp, mắt thấy không rõ, tai nghe không rõ, ngu đần gọi là cretinism. Không biết sao cụ Nguyễn Du lại tả người đẹp Thúy Vân như vầy:

“Khuông trăng đầy đặn nét ngài nở nang?”

Không lẽ cô ta mắc bịnh giảm năng tuyến giáp hypothyroidism sao?

Cũng có thể lắm vì Thúy Vân, ngoài việc hiền hậu, nết na thôi, cô cũng không có cái khôn ngoan của Thúy Kiều?

Tiểu bang Tasmania của Úc trước đây cũng có bịnh nầy, nhưng nhờ chương trình bỏ iodine vô muối, mà bịnh nầy không còn nữa từ 2-3 thập niên qua. GS Creswell Eastman, Giám đốc của chương trình nầy, cho rằng hiện nay số lượng iodine của Úc kém đi. Ông kêu gọi BS gia đình nên khuyên thai phụ và các bà mẹ cho con bú nên dùng thêm iodine (MJA 2006,184, 165).

Mỗi ngày người thường cần 100mg (microgram), còn sản phụ hay bà mẹ cho con bú thì cần tới 150-250mg.

Mới đây các nhà nghiên cứu định bỏ iodine vô bánh mì.

Muốn có chất iodine phải làm sao?

Phải ăn loại muối đặc biệt có trộn iodine, muối nầy không hạp với khẩu vị, vì nó hơi tanh tanh mùi cá.

1. Loại nầy có bán ở siêu thị, với tên table salt màu xanh lá cây (green: iodined salt), sữa tươi có muối.

2. Tốt nhứt là ăn nhiều đồ biển: cá, tôm cua, sò ốc.

3. Nếu ăn chay nên ăn thêm phổ tai, rong biển.

GS Steven Boyages, chuyên khoa nội tuyến vùng Tây Sydney kêu gọi các BS gia đình nên khuyên các thai phụ dùng thêm iodine. Theo sự nghiên cứu của nhóm ông thì các thai phụ ở Bảo sanh viện công có hàm lượng iodine ít hơn Bảo sanh viện tư, có lẽ vì họ ít ăn cá và các món ăn phụ khác do tình trạng xã hội và tài chánh eo hẹp. (MJA 06,184,167)

Vào tháng Ba 2004, Nha Bảo vệ Thực phẩm an toàn Úc-Tân Tây Lan (FSANZ), khuyến cáo thai phụ và trẻ em dưới sáu tuổi không nên ăn nhiều cá bị ô nhiễm chất thủy ngân. Bác sĩ
Marion Healy cho biết các loại cá đó là: cá mập, swordfish, marlin, broadbill. Các loại cá nầy sống lâu năm mới chứa nhiều độc tố. Nếu ăn các cá đó một tuần một lần thì không sao. Việc ăn cá rất cần cho thai phụ. Họ phải ăn ít nhứt là 340g một tuần. Tốt nhứt vẫn là nên ăn cá thu, tuna.

Calcium và sinh tố D

Calcium và sinh tố D cũng rất cần, không những cho sự tăng trưởng cho thai nhi, mà còn giúp cho mẹ khỏi bị hao mòn calcium trong cơ thể và tránh được tiền kinh giựt do lên máu.

Xương của người mẹ sẽ hao hụt vì phải nuôi bào thai. Chính vì vậy họ dễ bị loãng xương hơn nam giới.

Còn nữa các bà có nhiều con móm sộm? Họ rụng răng vì cứ sanh hai ba đứa con thì bà ta mất hết một cái răng. Thật đáng thương và tội nghiệp cho các bà mẹ Việt Nam phải hy sinh đời mình cho con cái! Không biết lớn lên nó có báo hiếu lại không? Hay là nó sẽ có hiếu với vợ nó?

Ở đâu có Calcium và sinh tố D

Calcium có nhiều trong sữa mẹ và sữa tươi, sữa bột. Thai phụ cần uống thêm sữa để tránh thai nhi thiếu ký, tránh trường hợp thoái hóa như trên.

Nhớ lại xưa kia ở Việt Nam, sữa mắc quá, có đâu mà uống hay cho con bú thêm! Người nhà quê chỉ bắt cua, bắt còng, bắt tép rang ăn luôn vỏ. Tép luộc cuống rau thơm, rau ghém chấm nước mắm tỏi ớt một cách ngon lành. Nhớ tới mà thèm.

Hiện nay có nhiều trẻ sơ sinh thiếu sinh tố D vì mẹ chúng thiếu sinh tố nầy, nhứt là các bà Trung Ðông bao trùm kín mình và đội veil. Trẻ sơ sinh nên cho ra nắng, tốt nhứt là vào buổi ban mai từ 7 tới 9 giờ. Cần nhứt là vào mùa đông giá lạnh, các bà mẹ lại càng kín cửa cao tường nữa mới tai hại. Vì sức khoẻ của mẹ lẫn con, xin bỏ tập tục nầy đi.

Máu sản hậu là gì?

Ông bà ta cho sau khi sanh đẻ mà ghen tương thì máu sản hậu lên chận cổ chết! Tại sao?
Thai phụ mất rất nhiều chất calcium cho bào thai và sữa cho con bú, mà không bồi dưỡng bằng sữa tươi sẽ đưa tới tình trạng thiếu chất calcium.

Thiếu calcium dễ bị vọp bẻ, co cứng cơ (tetany, spasm và twisting), tay chân co rút không cử động được y như “bàn tay bà mụ” (main d’accoucher). Nếu bị kích động họ dễ bị tetany, không những tay chân co cứng mà nhứt là cơ thanh âm bị co cứng nên nói không ra lời, thở không được (spasm of larynx). Bị ngạt thở mà chết.

Phụ nữ cho con bú cũng nên uống nhiều sữa để tránh tình trạng nầy, đồng thời ngăn ngừa loãng xương.

Rượu

Từ trước tới nay ai cũng biết mấy ông uống rượu hũ chìm, tuy là con của Lưu Linh, Ngọc hoàng thượng đế gì không biết, nhưng biết chắc là con của họ đần độn.

Phụ nữ uống rượu nhiều trong thời gian có thai, tuy chỉ uống 350ml beer hay 118ml rượu chát cũng hạ chỉ số IQ xuống 2 điểm. Dầu có uống ít hơn cũng có tác hại lâu dài trong việc phát triển thể chất và tâm linh của trẻ thơ. Chỉ cần say một lần thôi, cũng có thể sanh con không khôn, vì rượu phá hoại thần kinh hệ bào thai, làm nó nẩy nở chậm trễ. Có thể sanh non, sanh con thiếu ký và dễ bị ốm đau sau nầy.

Bà mẹ cho con bú, cũng không nên uống rượu. Nếu cho con bú sữa mẹ, xin các ông đừng cưng vợ chơi sang kiểu Tây, cho dùng rượu chát đỏ ngọt của Pháp, hiệu con mèo Dubonnet hằng ngày sau khi sanh, hay rượu bổ Quinquina như 60 năm trước, vì tin là nó giúp cho ăn ngon, có nhiều sữa cho em bé bú, nhứt là ngăn ngừa bịnh sốt rét. Thật ra nó rất tai hại, vì rượu vào máu rồi qua sữa, sẽ không tốt cho trí não non nớt của trẻ sơ sinh đang lúc phát triển.

Thuốc lá

Thuốc lá cũng không kém phần nguy hiểm. Nó cũng quan trọng trong việc nẩy nở trí thông minh trẻ thơ. Thuốc lá sẽ làm hư hại chất DNA của nam nữ và gây tác hại trên hài nhi. Nó làm sẩy thai, sanh non, trẻ sơ sinh thiếu ký, hay bịnh về đường hô hấp, nhứt là suyễn.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy phần nhiều trẻ con chết bất đắc kỳ tử, (sudden infant dead SID), thường xẩy ra ở gia đình hút thuốc, nhứt là bà mẹ.

Bà mẹ hút thuốc lá cũng dễ bị viêm đường hô hấp, ung thư đường hô hấp, đường tiểu, đường ruột.

Cà phê

Cà phê làm hư thai, sanh non, thiếu ký. Nên kiêng cử để con cái khỏe mạnh lớn khôn. Không nên cho trẻ con uống cà phê vì nó kích thích trí não đưa tới quậy. Coca cola, coke cũng đều kích thích trí não vì có chứa chất cà phê. Vậy không nên dùng vì những tác hại như trên. Nên tránh đừng cho trẻ con uống nhiều cà phê hay Coca cola.

Thuốc có hại

Khi có thai hay cho con bú, cần bàn với Bs gia đình, tìm hiểu coi thuốc mình đang dùng có hại cho bào thai hay trẻ sơ sinh không. Có nhiều loại thuốc gây dị tật bẩm sinh, nếu lạm dụng trong thời gian nầy:

1. Như thuốc an thần, tâm thần,

2. Thuốc thời đại: ecstasy, cần sa, ma túy, ice.

3.Thuốc trị động kinh.

4. Thuốc trị ung thư.

5. Thuốc chống ói (Thaledomine) đều có hại cho sự hình thành của bào thai.

Nó có thể gây ra dị tật bẩm sinh như điếc, đau tim, sứt môi, cụt tay, cụt chân vân vân… Những dị tật, dị dạng nầy cũng làm trở ngại trong việc học hành của con trẻ.

Tránh hẳn không nên dùng các thuốc trên.

Ngoài ra có vài loại trụ sinh không được xài trong lúc mang thai và lúc cho con bú sữa mẹ như: Tetracycline sẽ gây ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của xương, làm răng có màu vàng nghệ. Còn Tifo tức Chloramphenicol hay chloromycetin gây ra bịnh thiếu máu aplastic anaemia và ung thư bạch cầu.

Muốn uống thuốc, cần đến thảo luận với bác sĩ gia đình, trước khi dùng. Chỉ lầm lẫn một chút là tai hại suốt đời của trẻ thơ.

Thuốc phụ thuộc, thuốc Bắc, thuốc dân tộc.

van minh vo nguoi 04Khi phụ nữ mang thai, lúc nào cũng thấy trong người nóng bức vì chất kích thích tố progesterone. Nó được sản xuất từ lá nhau và có nhiệm vụ giữ cho thai đậu. Nếu thai phụ uống thuốc bổ sẽ nóng thêm và nhiều khi bị táo bón. Vì những lý do đó mà họ chạy sang dùng thuốc phụ như thuốc phụ thuộc (complementary and alternative medicine CAM), thuốc Bắc, thuốc dân tộc (traditional Chinese medicine TCM).

Những thứ thuốc nầy chưa được kiểm chứng, cho nên nó gây tai hại cho thai phụ và thai nhi mà không biết.

Theo Gs Sản khoa Alastair MacLennan, ÐH Adelaide cho rằng thuốc phụ thuộc cần phải kiểm chứng được sự an toàn.

Ông có thấy trường hợp thai phụ dùng thuốc bổ dân tộc nhập từ Ấn Ðộ. Bà ta bị thận suy cần phải lọc thận và thai nhi tử vong.

Bs Ted Weaver, Hộâi trưởng Phân khoa Sản phụ khoa Hoàng gia Úc-Tân Tây Lan cho rằng thuốc Bắc rất độc vì chứa nhiều độc tố alcaloids thực vật.

Ngay cả như gừng, dùng trị và ngừa ói mửa cũng độc hại. Nó gây ra nhiều hơi, bụng kêu ồn ột, ợ hơi, ợ chua (heartburn), nôn ói. Gừng còn ảnh hưởng tới nam kích thích tố thai nhi…

Thuốc phụ thuộc cũng có thể gây dị dạng thai nhi nhưng chưa ai khám phá ra, vì không có ai nghĩ và hỏi tới, mà có hỏi cũng chưa chắc họ khai thiệt hay nhớ.

Bú Sữa Mẹ

sanh con khon 02Từ ngàn xưa, ông bà ta nuôi con cháu bằng bầu sữa mẹ. Nó vừa tinh khiết, vừa bổ dưỡng, vừa tươi ấm, lại thắm đượm tình thương nồng nàn, gắn bó tình mẫu tử, một thứ tình yêu thiêng liêng keo sơn mà không gì lay chuyển được.

Phải chăng cái cử chỉ âu yếm, nâng niu trìu mến, nói đớt nói đát lúc bế bồng cho con bú đó, giọng ru êm dịu cho con ngủ tăng thêm lòng hiếu thảo, trìu mến, thương yêu và vâng lời cha mẹ của con cái người Việt Nam ta mà người Tây Âu không có?

Rất tiếc là ngày nay, ít ai bế bồng cho con bú, ru con ngủ như xưa vì không biết ca dao (Phiếm về Ca dao tục ngữ Miền Nam, Tuyển Tập PGS 2005, tr 359), mà cũng không có thì giờ nữa. Các bà mẹ mãi lo làm việc mà quên đi cái thiên chức thiêng liêng tình mẫu tử?

Dầu cho bú bình cũng phải bồng bế, ngồi cho đúng cách, mà cũng phải nói chuyện hay hát ca dao… mới được. Tiếc thay, các bà mẹ bây giờ cứ thẩy bình sữa cho nó ôm bú một mình rất tội nghiệp, còn họ cứ tiếp tục trối chết, cấm đầu cấm cổ may cả ngày lẫn đêm!

Họ Âu hóa từ lúc nào chả biết, nên nhiều trẻ em 3-4 tuổi mà chưa biết nói. Cũng may là chúng nói được sau khi vào lớp mẫu giáo!

Hiện nay, các cuộc nghiên cứu cho thấy là sữa mẹ không những:

1. Bảo vệ chống lại sự xâm nhập của bịnh tật trong ba tháng đầu nhờ sữa của hai tuần đầu. Sữa nầy gọi là sữa đặc biệt hay sữa non, colostrum, vì nó chứa huyết thanh, bạch cầu và kháng thể. Ðây là kháng thể tạm thời đủ bảo vệ trong ba tháng đầu, trong khi chờ chích thuốc ngừa hiệu nghiệm về lâu về dài sau nầy.

2. Sữa mẹ làm tăng trí thông minh IQ của trẻ con, nếu được bú sữa mẹ càng lâu càng tốt.

3. Khi trẻ con bú sữa mẹ, kinh kỳ có lại trể hơn. Nhờ vậy có thể dùng để ngừa thai. Phương pháp cổ điển nầy không chắc.

4. Sữa mẹ có nhiều chất sắt giúp cho trẻ sơ sinh tồn trữ nó, để xử dụng sau nầy. Muốn có số lượng chất sắt dự trữ, trẻ con cần được bú sữa mẹ từ sáu tới mười hai tháng. Thiếu chất sắt, trẻ con cũng lờ đờ không lanh lẹ và thông minh bằng các trẻ con cùng tuổi.

Mới đây các cuộc nghiên cứu, lại nhận thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có 1 tháng, cũng hạ được 21% nguy cơ ung thư bạch cầu (leukemia). Sữa mẹ có thể kích thích hệ thống miễn nhiễm và làm cho nó có khả năng ngừa chống lại bịnh tật.

Theo bài Milk maids của Jeninne Lee-St. Lee, Time 30/04/07, tr 51, “vú em” hay người nuôi và cho con người khác bú, san sẻ nuôi con mình và con khách hàng. Thời phong kiến, việc này coi rất thường, vì các hoàng hậu hay công chúa, cũng như người giàu có, sang trọng hay mướn bà vú em.

Ngày nay hiện tượng nầy tái phát vì người mẹ bịnh, nhiều nhứt vì nghề nghiệp người mẹ phải đi làm hay làm xa, phải giao con cho người thân nuôi bởi những lợi ích của sữa mẹ như trên đã trình bày.

Trong trường hợp gà trống nuôi con thì bắt buộc phải làm vậy vì:

“Con tôi buồn ngủ buồn nghê
Ai cho bú thép, tôi mang ơn hằng ngày”

Chích ngừa trước khi có thai

Trước khi có ý định thành lập gia đình, hay có ý định mang thai, phải đến nhờ bác sĩ gia đình hướng dẫn, phải thử máu tìm bịnh phong tình, liệt kháng HIV và chích thuốc ngừa sởi Ðức (Rubella), ba tháng trước khi thành hôn hay muốn thụ thai.

Nếu không thì đang lúc có thai mà bị bịnh nầy, sẽ ảnh hưởng tới bào thai và gây ra các tật bẩm sinh như đau tim, điếc, mù mắt, rất trở ngại trong việc ăn học của con trẻ.

Muốn ngừa, phải chích trong 7 ngày đầu của kinh kỳ và nên kiêng cử hay uống thuốc ngừa thai trong ba tháng. Nên nhớ là sau khi chích ngừa, trong vòng ba tháng cử không cho có thai.

Gần hay trên 35 tuổi

Xưa kia người ta cho rằng hội chứng Mongolism là đứa bé sơ sinh có khuôn mặt giống người Mông Cổ. Ngày nay gọi là hội chứng “Down” (Down’s syndrome); người ta khuyên không nên có thai sau 35 tuổi, vì họ nghiệm thấy các bà mẹ sanh con sau 35 tuổi, thường sanh con bị “Down’s syndrome”. Người ta cũng nghiệm thấy từ ngày có thuốc ngừa thai, các bà trên 35 ít sanh hơn xưa, trẻ con mắc hội chứng Down cũng ít hơn, Trẻ con bị chứng nầy kể như phế nhân, vì đây là chứng kém thông minh, nên khờ khạo (intellectual disability), học hành không tiến bộ, mà còn bịnh hoạn hoài.

Muốn ngăn ngừa bịnh nầy, đừng để có thai sau 35 tuổi. Còn như muốn có thai hay lỡ có thai sau đó, thì phải thử nước ối hay thử lá nhau, trước tuần thứ 14 để coi có nhiễm thể trisomy 21 đưa tới dị tật ống thần kinh hay không.

Bây giờ, người ta dò tìm chứng bất bình thường của Down’s syndrome bằng cách Nuchal translucency. Phương pháp nầy có thể thực hiện sớm một chút lúc 11-14 tuần. Cả hai phương pháp chỉ giúp phát hiện được cỡ 83% thôi. Thử nước ối và lá nhau tuy bất tiện nhưng có lợi là biết đích xác trai hay gái, dị tật bẩm sinh khác hơn Down’s syndrome qua nhiễm thể hay DNA.

Theo quan niệm mới ngày nay, giới sản khoa Úc đề nghị nên thử dò tìm Down’s syndrome cho thai phụ, nếu thấy có nguy cơ về bịnh nầy, chớ không phải đợi tới trên 35 tuổi hầu không còn hội chứng nầy nữa. Ở Ðan Mạch chẳng những thử siêu âm cổ mà còn thử máu tìm beta HCG, PAPPA nữa.

Tuổi Già

Các cụ trên 60, cũng sanh con được. Bên Anh cụ bà Patricia Rashbrook, BS Tâm thần, nhờ BS Ý giúp mang thai (6/5/06). Mặc dầu đã 63 cái “ xuân xanh” nhưng bà vẫn can trường sinh con đẻ cái mới đáng mặt “quần thoa”! Người ta nhận thấy phần nhiều con của các bô lão, kém thông minh hơn con của phụ nữ trẻ.

Không chỉ phụ nữ mới có đồng hồ sinh học xx lớn tuổi sanh con dị tật mà thôi. Hiện nay, người ta tìm thấy các đấng cao niên cũng có đồng hồ sinh học và có con muộn cũng có thể bị dị tật.

Ông bà ta tự an ủi vớt vát, hay cho là:

“Con mót, con moi, con thêm nữa…”

hay:

“Giàu út ăn, khó út chịu’

Phần nhiều người già có vợ trẻ, thường sanh con gái nhiều hơn con trai, chẳng hạn như nhà tỷ phú Úc có quốc tịch Mỹ, vua thông tin thế giới Ropert Murdoch (sanh tại Melbourne1931-), cựu Thủ hiến NSW Neville Wran, vân vân…

Trước khi có thai:

1 – Nên tìm hiểu về thai nghén, uống folic acid, chất sắt…

2 – Nên thử máu tìm bịnh tật để điều trị cho tới nơi tới chốn. Phải trị cho tiệt bịnh rồi mới được mang thai, vì có nhiều bịnh sẽ làm nặng thêm khi có thai.

3 – Thai nghén cũng làm trở ngại cho việc điều trị bịnh tật.

Trong khi có thai

Phần đông người mình không chịu đi khám thai định kỳ, vì cho mất công, mất thời giờ vô ích, để ở nhà làm việc kiếm thêm tiền gởi về quê nhà. Họ cho Bác sĩ chỉ đo máu, thử nước tiểu, cân rồi nói tốt, có gì đâu mà đi khám cho mất thì giờ vô ích.

Ðây là một lối suy nghĩ sai lầm tai hại. Thật ra nó rất cần thiết. Tất cả các khó khăn về thai phụ hay thai nhi, đều phát hiện và chữa trị kịp thời trong lúc nầy:

• Lúc 18-20 tuần, phải siêu âm coi có dị tật không.

• Tới khi 27-30 tuần, siêu âm thêm lần nữa nếu nghi ngờ điều gì.

• Ngày nay nếu thai nhi có bịnh tim, bịnh thận bẩm sinh gì đó nếu cần thiết, Bs sẽ giải phẫu cho thai nhi lúc nó còn trong tử cung, chớ không đợi tới sau khi nó chào đời.

Nếu có phương tiện, nên thử máu, nước tiểu tìm bịnh tiểu đường, đo áp huyết tìm bịnh lên máu, để nhờ bác sĩ chuyên môn chăm sóc. Bịnh cao huyết áp có thể đưa tới tiền kinh giựt lúc mang thai (pre-eclampsia). Còn bịnh tiểu đường đưa tới thai nhi to lớn, gây sanh non, sanh khó khăn. Sau khi sanh có thể hết bịnh tiểu đường, nhưng về sau có thể bị bịnh tiểu đường.

Trong thời gian mang thai, ráng cố tránh những vấn đề không tốt, xúc cảm, buồn phiền rất ảnh hưởng tốt tâm tính trẻ thơ. Chính vì vậy mà ông bà không cho xem đám tang, cảnh tượng chém giết, hung bạo vân vân…

Lúc sanh

Tùy theo hoàn cảnh eo hẹp thì thôi, còn nếu có phương tiện thì nên dự trù trước bịnh viện tư, B.S. sản khoa nào lo cho việc sanh đẻ, để khỏi bị phiền phức, vì nhỡ gặp trở ngại trong lúc sanh, rất có hại cho trí thông minh của con trẻ như:

1. Sanh ngộp, sanh lâu nhiễm trùng mẹ lẫn con

2. Tránh tình trạng chấn thương não bộ, gây tật nguyền suốt đời: Liệt não (Cerebral palsy). (Mới đây toà vừa xử huề vì cho cerebral palsy do thai nhi có trước khi sanh?)

3. Sanh tại gia, sanh theo tự nhiên, trong nước thường gặp nguy hiểm.

Ðể có một đứa con khôn ngoan, không hẳn phải có gia thế, nhưng cần phải có sự kiên trì và quyết tâm vì con cái mà kiêng cữ.

Muốn thế xin qúy vị hãy hy sinh chút ít vui thú cá nhân, mà tránh tất cả những tai hại nói trên và cần phải thực hiện theo lời chỉ dẫn trên, để có được con thông minh.

Việc nuôi nấng và dạy dỗ cũng rất cần thiết. Cần cho ăn nhiều cá hay cho uống thêm mỡ cá omega-3. Nếu ít tiền thì mua muối iodine salt cũng được. Cũng có thể cho ăn phổ tai khô, sâm bổ lượng…

Nhân đây cũng xin trình bày thêm là theo Gs Parker của ÐH NSW thì thai phụ cần ăn thêm cá thu, tuna… để có nhiều omega-3. Nó sẽ giúp ngừa hiện tượng trầm cảm, nhứt là sau khi sanh hay hậu sản, baby blue hay post partum depression.

Ðây là tình trạng khó khăn và khổ sở nhứt của các bà mẹ mới có con lần đầu.

Con khỏe mạnh mới thông minh học giỏi. Có con thông minh là niềm vui, là sự an ủi, là niềm hãnh diện vì làm rạng danh cho tổ tông, gia đình và xã hội… và nhứt là đừng để người ta khinh chê dân tộc Việt Nam ngu!

Xin cố gắng làm đủ mọi cách để giúp con trẻ thông minh, còn việc khác phú cho Trời Phật, các đấng thiêng liêng quyết định.

“L’homme propose, Dieu dispose”
“Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”

Việc nuôi dưỡng và giáo dục con trẻ cũng rất là quan trọng. Dầu con trẻ thông minh, được giáo dục tại các trường nổi tiếng mà gia đạo bất an, làm điều không tốt, cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần, thể chất nhứt là việc học hành của con trẻ.

Trong mấy mươi năm xưa làm việc ở quê nhà, tôi chỉ gặp có một gia đình có 2 người con câm và điếc thôi. Trái lại ở đây, con nít 3-4 tuổi không biết nói rất nhiều. Tại sao?

Phải chăng vì cha mẹ bận công việc làm ăn, để con ngày tối chỉ ôm coi cái TV mà thôi. Chúng tôi phải gởi đi khoa ngôn ngữ trị liệu và luyện giọng (speechtherapy), để tập nói và luyện giọng.

Ðồng ý là trẻ con có thể nói được vài ba thứ tiếng. Nhưng cũng có trẻ thơ gặp khó khăn, bối rối lựa chọn ngôn ngữ để nói: cha mẹ nói tiếng Tàu, tiếng ta, TV nói tiếng Anh. Phần nhiều vì cha mẹ lo làm việc, không thì giờ chuyện trò với con cái. Chỉ cần vào nhà trẻ một thời gian ngắn là chúng nói năng lưu loát. Còn những đứa nhỏ thật sự bị tự kỷ, autism thì rất khó mà trị được.

Nhưng nên trì chí dưỡng dục cho tới nơi tới chốn:

• Trong gia đình đầm ấm hạnh phúc, vượt qua mọi trở ngại,

• Coi như không có việc gì cả “Primo no problemo” đó là câu châm ngôn của Ý. Còn cứ thắc mắc hoài thì gia đạo sẽ bất hòa, bất lợi cho tương lai con trẻ.

• Nên cho ăn cá nhiều hơn thịt mỡ.

Cầu chúc quí vị sẽ sanh đẻ con khôn ngoan để nhà có phúc, theo ý muốn