BỊNH TIỂU ÐƯỜNG

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – Y HỌC & ÐỜI SỐNG 2010)

Benh tieu duong 02

Hiện nay bịnh tiểu đường loại 1 và 2 (type I & II diabetes mellitus) gia tăng một cách nhanh chóng, làm giới y tế rất lo ngại.

Vào năm 2005, trên thế giới có 150 triệu người mắc bịnh tiểu đường. Người ta ước tính tới 2025 sẽ có 300 triệu người bịnh. Ðây là con số cao kinh khủng!

Úc có 1.4 triệu người mắc bịnh nầy. Có thể còn nhiều người khác mắc bịnh tiểu đường mà không biết. Theo hội nghị về bịnh tiểu đường tại Sydney vào tháng Tư năm 2006, thì mỗi năm tỉ số bịnh tiểu đường gia tăng từ 5 tới 10%. Riêng NSW chiếm tới 540 ngàn người.

Bịnh ác ôn nầy lại bám theo người có mức an sinh xã hội thấp, cùng đinh như vùng Fairfield, mới khổ cho chúng ta, bởi vì người Việt qui tụ về sinh sống tại vùng đất hứa nầy. Hiện nay người Việt ở Úc nhứt là ở đây mắc bịnh “đái đường” càng ngày càng nhiều.

Nó trở thành mối đe dọa cho sức khỏe con người. Vì sự nguy hại của bịnh tiểu đường, họ kêu gọi các BS gia đình nên khuyên nhủ, hướng dẫn dân chúng cách dinh dưỡng để giữ gìn sức khỏe. Hơn nữa 80% người bịnh đều béo phệ.
Xin đừng coi thường bịnh tiểu đường, vì thấy nó không ra gì hết, nhưng lại có khả năng gây mù lòa, đau tim mạch, tai biến mạch máu não, đau thần kinh, suy thận rồi đưa tới tử vong dễ như chơi.

Trước hết phải nói rõ là bịnh tiểu đường không phải tại ăn nhiều đường, tuy nhiên nếu cử được đường càng tốt. Người bị bịnh tiểu đường có ăn đường hay không, đều có đường lượng trong máu cao và đường trong nước tiểu.

Người Thổ dân, người Á Ðông nhứt là người Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Ðộ, người Hải đảo Thái Bình Dương, sau cùng là Trung Ðông ở đây, mắc bịnh nầy nhiều hơn người Úc.

Có thể tại môi sinh, đời sống vật chất, nhứt là ít đi đứng và làm việc nhàn hạ, ngày tối lo luyện chưởng, chơi games, xem đá banh, ăn nhậu, phì phà khói thuốc ở các quán cà phê mới mọc lên bên vệ đường càng ngày càng nhiều…chớ không chịu lam lũ làm ăn.

 

Ðịnh nghĩa

Bịnh tiểu đường được chia ra làm:

• Loại 1: Bịnh tiểu đường loại 1 rất hiếm và xảy ra ở thanh thiếu niên. Nó chiếm 10-15% tỉ số người bịnh. Nó hoàn toàn do tụy tạng không tiết chế chất nội tiết Insulin. Ðiều trị nó bằng cách chích Insulin, nên gọi Insulin Dependent Diebetes Mellitus (IDDM).

• Loại 2 là Non Insulin Dependent Diabetes Mellitus (NIDDM) là loại điều trị bằng thuốc uống, cữ kiêng, thể thao, chừng nào nặng sẽ cho chích Insulin thêm. Loại 2 chỉ ở người lớn trên 40 tuổi, chiếm khoảng 85-90 % tổng số bịnh nhân.

• Tiểu đường lúc mang thai: Chừng 8% sản phụ mắc phải. Việc đáng ngại là sản phụ Việt Nam mắc phải nó rất nhiều so với các sắc tộc khác.

• Tiền tiểu đường.

Vì gần đây có nhiều người có triệu chứng bịnh TĐ, như nước tiểu có đường hay lượng đường hơi cao hơn bình thường, nhưng thử đường dung nạp lại bình thường. Họ phải đợi một thời gian sau họ mới bị TĐ thực sự. Ngồi ra còn có các thai phụ bị tiểu đường, nhưng sanh xong lại hết. Tất cả những trường họp nầy là tiền tiểu đường. Họ cần phải thường xuyên thử máu theo dõi để kịp thời điều trị, hầu tránh các biến chứng nguy hiểm.

Sinh lý bịnh học

Lượng đường trong máu, glucose luôn luôn được kềm chế ở mức độ bình thường, nhờ chất nội tiết của tuyến tụy, hay là tụy tạng, nôm na gọi là lá mía nằm phía sau bao tử. Nó có hai loại tế bào:

1. Tế bào Alfa tiết ra chất men chảy ra ngồi theo ống nối với ống mật chung, chạy vô tá tràng (duodenum), để tiêu hóa đồ ăn có chất đạm và béo (mỡ).

2. Tế bào Beta họp thành tiểu đảo, tiết ra chất insulin và glucagon chạy thẳng vào máu, nên gọi là nội tiết. Các chất nầy dùng để điều chỉnh lượng đường trong máu sao cho nó không cao mà cũng không thấp.

Từ trước tới nay, tiểu đường là do lượng đường trong máu lên cao, không kềm chế được do thiếu chất insulin. Ðường thừa thãi sẽ tàn phá các tạng phủ khác như: tim, thận, mắt, thần kinh.

Trong đời sồng hằng ngày, đường lượng trong máu luôn luôn thay đổi, nhưng không bao giờ có đường trong nước tiểu. Nhưng nếu đoạn đầu ống thận không hoạt động tồn hảo, để đường thóat ra trong nước tiểu (glycosuria). Vì lực ngấm thấu gia tăng (osmotic pressure) của nước tiểu, ngăn chặn không cho hút nước tiểu vô trở lại. Kết quả là nước tiểu nhiều, phải đi tiểu nhiều (polyuria). Mà tiểu nhiều sẽ bị mất nước (dehydration). Nó làm lượng máu giảm đưa tới tình trạng khát nước (thirst) nên phải uống nhiều nước (polydipsia).

TIỂU ÐƯỜNG LOẠI 1 (Type I Diabetes Mellitus)

Tiểu đường loại 1 là loại tiểu đường thường thấy ở trẻ con, thanh thiếu niên và người lớn dưới 40 tuổi. Nó cũng giống như loại 2 của người lớn. Tuy nhiên nó phát hiện từ lúc thơ ấu và cách điều trị của nó cũng khác. Nó chỉ trị bằng chất Insulin, nên được gọi là tiểu đường tùy thuộc Insulin, Insulin Dependent Diabetes Mellitus (IDDM).

Ở các nước Âu Tây như Úc, trẻ em mắc phải IDDM rất nhiều. Trẻ em Á Châu ít bị nó. Ðây là bịnh đứng hạng nhì sau bịnh suyễn của trẻ em. Cứ 750 trẻ em thì có 1 đứa mắc bịnh tức 130 đứa cho 100 ngàn dân. Nhiều nhứt ở tuổi từ 4-6 và 10-14.

Tại sao mắc IDDM?

Nguyên nhân của IDDM là do:

• Di truyền từ cha mẹ qua HLA ,
• Nòi giống (race),
• Môi sinh,
• Bịnh tự miễn nhiễm (autoimmune), vô căn (idiopathic)
• Mập phệ/béo phệ,
• Lờn Insulin (insulin resistance), hội chứng đa-u-nang buồng trứng (polycystic ovary syndrome)

Theo Gs Christopher Cowell, Bịnh viện Westmead Children Hospital, trong khi dò tìm cách phòng ngừa Loại II DM ở thiếu niên dưới 18 tuổi bằng cách ghi dấu tế bào bị nhiễm. Một trong các nguyên nhân tiền DM là tế bào mỡ có tiết chế ra một chất đạm đặc biệt là cytokines. Nó làm hư hại tế bào gan và thành mạch. Nó ngăn chặn không cho đường vô tế bào cơ thể. Phần nhiều là tế bào mỡ ở bụng.

Gs Don Chisholm thì nghiên cứu DNA tìm gene AGCT để sửa đổi ngăn ngừa IDDM.

Trẻ con mắc IDDM có triệu chứng gì ?

Tiểu đường loại 1 cũng có những triệu chứng cũng như của người lớn, mà bậc cha mẹ nhận thấy lạ từ 2 tới 6 tuần qua:

• Uống nhiều nước (polydipsia)
• Tiểu nhiều lần (polyuria)
• Ăn nhiều (polyphagia)

Có điều bé bẳn hẳn khó chịu, ốm o gầy mòn. Ðôi khi bé còn bị:

• Ðái dầm enuresis.
• Mất nước nặng đến sốc do tiểu nhiều làm mất nước và điện giải.
• Trẻ con chậm lớn.
• Nhiễm trùng da do stapylococcus hay bạch đái hạ, giống như huyết trắng do mấm ở bé gái lúc tuổi tiền dậy thì.

Muốn định bịnh IDDM phải làm gì?

Trước hết cho thử nước tiểu coi có đường không?

Thử máu: BSL: >11.1 không cử ăn, >7.0 có cử ăn. Nhớ cho biết bé có dùng steroid (Redipred, Sone, Prednisolone…) trước đó không.

Xin nói rõ là tiểu đường của các thiếu niên mập phệ (obesity) cũng có thể là loại II. Muốn phân biệt giữa loại I và II cần thử thêm tuyến giáp TFT, auto-immune…

Ðiều trị IDDM ra sao?

Vì việc điều trị cần qua nhiều chức năng, nên phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa BS gia đình, nhi khoa và nội tiết. BSL phải được thử mỗi ngày. Thuốc chích chánh là insulin của con người (human insulin) vì trước đây dùng insulin lấy từ heo nên gặp nhiều trở ngại.

Liều lượng phải được thử trước. Lượng thuốc phải được chia làm:

• 1 phần ba là loại ngắn hạn,
• 2 phần ba kia là loại dài hạn. Chích dưới da của thành bụng…
• Phải cẩn thận khi điều trị là tránh tình trạng lượng đường hạ thấp <2.5mmol/L nhiều lần làm tổn thương thần kinh tâm trí của trẻ thơ.
• Nên nhớ là tiêu chảy làm mất nước và điện giải cũng làm đường lượng gia tăng. Nhiễm trùng đường hô hấp cũng làm gia tăng lượng đường.
• Lantus là loại dài hạn đỡ phải chích nhiều lần trong ngày.

Trong tương lai gần, các thanh thiếu niên sẽ không còn khổ sở thử máu nhứt là chích thuốc nhiều lần trong ngày nhờ có Exubera. Exubera là loại bột để ngửi, y như suyễn hay loại tiểu đường mà nước tiểu không có đường (diabetes insipidus)

Khi thấy cháu bé đang điều trị mà bị

• Khó thở, thở hổn hển (Kussmaul)
• Than đau bụng, ói mửa nhiều cho tới mật xanh
• BSL cao trong nhiều giờ
• Nhiều khi cha mẹ không biết phải làm sao nếu thấy cháu bé từ buồn buồn tới mê mê, phải chuyển ngay vào BV cấp cứu, đây là loại TÐ đặc biệt ketoacidosis DKA

Tiểu đường do thừa ketone (diabetic ketoacidosis) là gì?

DKA xẩy ra nhiều ở thiếu nữ vào tuổi dậy thì, mắc bịnh xáo trộn về ăn uống. Nó do kết quả của:

• đau bụng, ói mửa.
• gia tăng thoát nước nặng, giảm cân, yếu ớt…
• thở nhanh hổn hển kiểu Kussmaul.
• lượng đường lên cao (hyperglycaemia),
• gia tăng hủy chất béo lipid (lipolysis) và
• tạo chất ketone (ketogenesis) do sự chuyển hóa acid.

Trong bịnh nầy BSL>12-15mmol/L, pH<7.3. Nếu pH<7.1 thì DKA rất nặng. Phải vào bịnh viện để thử máu, điện giải, cấy máu (blood culture) vì nó thường đi đôi với nhiễm trùng huyết. Không được chậm trể.

Ðiều trị bằng cách cho insulin và chuyền vô các điện giải.

Thế nào là hiện tượng lượng đường thấp?

Người mắc bịnh tiểu đường phải tránh đừng để cho lượng đường xuống quá thấp rất nguy hiểm. Khi lượng đường trong máu giảm, sẽ có các triệu chứng như:

• Mặt tái mét, lạnh, đổ mồ hôi,
• Ðói bụng, tê môi.
• Tim đập nhanh, tay run.
• Nhức đầu, đuối sức.
• Xỉu hay hôn mê…

Tình trạng nầy là do:

• Vui chơi quên ăn (mất cử ăn) hay ăn trể,
• Ăn uống không đủ,
• Hoạt động thể chất như thể thao, thể dục thái quá,
• Hoặc chích lố liều insulin.

Muốn biết đích xác phải thử coi BSL<3.5mmol/L

Ðiều trị bằng cách

• Uống nước trái cây, nước ngọt hay ăn jelly beans.
• Ăn bánh tây, bánh mì.
• Nếu hôn mê phải chích dung dịch đường. Tốt nhứt là nhờ BS khám và điều trị.

Lúc nào cũng phải có bánh tây, kẹo trong túi, nước ngọt sẳn nhỡ khi cần để cấp cứu.
Bs Gunton thuộc Viện Nghiên Cứu Garvan Úc vừa mới tìm thấy người tiểu đường có gen ARNT thuyên giảm sẽ cản trở sự gia tăng chất insulin. Khám phá nầy sẽ giúp điều nghiên cách ngăn chận và chế thuốc ngăn ngừa không cho nó gia giảm.

Trong tương lai có hy vọng bỏ kim chích trị tiểu đường loại một nữa, vì hiện nay đã phát hiện gen tiểu đường. Có thể từ đó mà sửa đổi nhiễm thể tránh được bịnh nầy.

 

TIỂU ÐƯỜNG LOẠI 2

NIDDM là do beta tế bào hoạt động không hữu hiệu, insulin tiết chế không đủ để kềm chế lượng đường. Muốn insulin hoạt động hữu hiệu, các tế bào phải có các thụ thể (receptors) insulin, để đưa insulin đường vào.
Insulin sẽ giúp cơ thể trữ đường lại, để lượng đường luôn luôn ở mức bình thường. Insulin được thi vị hóa như cái chìa khóa mở cửa tủ sắt để cất đường, chờ khi hữu dụng lấy nó ra xài. Nếu không có các thụ thể, thì insulin cũng vô dụng. Muốn cho đường được đưa vào tế bào, cần phải có thuốc phụ giúp thêm sức cho insulin.
Có người bị tiểu đường, không phải thiếu insulin mà do lờn insulin, tức insulin resistant. Insulin không công hiệu, nhưng nếu dùng số lượng thật cao, gấp đôi hay ba lần, thì sẽ thông qua dễ dàng, như lo lót hải quan mới qua cầu được.

Làm sao biết đã mắc bịnh DM?

Có nhiều người mắc bịnh tiểu đường loại 2 mà không hay biết, vì hoàn toàn không có triệu chứng chi cả. Ðùng một cái thử máu mới hay.
Khi mắc bịnh tiểu đường sẽ có 3 triệu chứng chánh gọi “ba nhiều”:

1/ Uống nhiều nước, khát nước
2/ Tiểu nhiều và nhiều lần
3/ Ăn nhiều mà xuống cân

Ngoài ra còn các triệu chứng khác như:

a/ mắt mờ mờ
b/ cảm thấy yếu sức, mỏi mệt
c/ hay nhiễm trùng đường tiểu

Ai có những triệu chứng trên, nên sớm đi thử máu hay gặp bác sĩ gia đình, vì chậm trể lâu ngày dễ bị biến chứng là mắt, thận, tim mạch và tai biến mạch máu não vân vân…

Ai có thể mắc bịnh tiểu đường?

Tuy khoa học tân tiến, nhưng người ta chưa biết rõ hết nguyên nhân gây bịnh tiểu đường. Tựu trung người mắc bịnh tiểu đường thường là do:

1. Tiền sử gia đình có bịnh tiểu đường di truyền lại.
2. Có triệu chứng hay có tiểu đường lúc mang thai.
3. Phì mập và trên 40-50 tuổi. Mập khi BMI >25-30 và phì mập BMI > 30, vòng eo trên 97 cm. Bịnh đa nang buồng trứng.
4. Phụ nữ nhiều hơn nam giới.
5. Nòi giống: thổ dân, dân các hải đảo Thái Bình dương.
6. Môi sinh và đời sống như người Việt ở hải ngoại.
7. Hệ thống miễn nhiễm tự động hủy hoại (autoimmune destruction) gọi là tự miễn.
8. Bịnh nội tuyến: viêm tụy tạng do siêu vi, bịnh to cực acromegaly, hội chứng Cushing, pheochromocytoma, chứng đa-u buồng trứng polycystic ovary syndrome …
9. Thuốc gây tiểu đường như:

a/ Corticosteroid: Sone, Panacroft, Prednisone để trị thấp khớp, suyễn, dị ứng, dị ứng mũi vân vân…
b/ Thuốc Dilantin để trị kinh phong, tâm thần
c/ Thuốc lợi tiểu để trị phù thủng, lên máu.

Yếu tố nguy hiểm?

Nếu bị tiểu đường, mà còn mắc các bịnh khác như:

1. Cao áp huyết.
2. Mỡ trong máu cao và
3. Hút thuốc.

Nếu mắc thêm các bịnh trên, thì sự nguy hại càng gia tăng bội phần.
Người Úc bị cưa cụt ngón tay, hay cụt chân không phải do chiến tranh tương tàn như ở nước ta trước kia, mà do một điều rất đáng tiếc là họ tiếp tục hút thuốc khi bị tiểu đường.

Làm thế nào để biết bị bịnh tiểu đường?

Thường thường người ta cứ mãi lo sợ cao huyết áp và cholesterol mà quên đi lượng đường trong máu.
Mỗi khi thử máu, xin quí vị nhớ hỏi bác sĩ lượng đường trong máu (Blood Sugar Level = BSL) có đáng quan ngại hay không?
Thử nước tiểu chỉ biết có tiểu đường hay không thôi. Nó không chính xác. Thử máu bằng glucometre mới đúng. Nên thử trước khi ăn và hai giờ sau.
Nhiều nước như Pháp, Việt Nam không dùng mmol/L mà dùng mg, như vậy đường lượng trung bình là 140mg/L, còn trên 200mg/ml là tiểu đường.
Các sản phụ nên thận trọng, vì lượng đường của họ phải thấp hơn lượng của người thường. Họ phải được săn sóc đặc biệt hơn.
Ở người già cũng vậy, việc chăm sóc phải khác biệt, vì quá nhiều biến chứng.
Thử nước tiểu tìm chất proteine.
Thử máu tìm: Cholesterol, triglycerides và glucose, riêng người mắc bịnh tiểu đường loại 2 phải thử thêm HbA1c hay glyceted haemoglobin (từ 3 tới 6 tháng một lần). Nó rất chính xác. Còn micro-urine albumin/ creatinine ratio để theo dõi thận.
Kẻ thù của bịnh tiểu đường là thận suy.
Một khi biết được bịnh tiểu đường, nhiều người đâm ra hốt hoảng, ưu sầu lo sợ, mất ăn, mất ngủ. Họ lấy làm khó chịu, họ không chấp nhập là họ mắc bịnh. Họ tới bác sĩ khác thử lại vì họ không tin. Họ tự cho mình không bị bịnh và muốn Bs cũng đồng ý với họ. Thường họ muốn nán lại một thời gian để họ cử ăn coi sao đã. Nếu thử đường dung nạp GTT (Glucose Tolerance Test), 2 giờ sau >11mmol/L là dương tính.
Xin quý vị hãy bình tỉnh, nhờ bác sĩ hướng dẫn và chăm sóc cho. Ðừng có chần chừ, để thử cử ăn và vân vân… Ngày nay

Benh tieu duong 01

phải đánh liền, đánh mau và đánh mạnh. Nếu để lâu ngày nó có thể hại tới các tạng phủ khác.
GS Timothy Davis, ÐHYK Tây Úc, cho có sự trì trệ của BS và bịnh nhân nên đã khởi xướng mạnh bạo trong việc điều trị những người bị tiểu đường không kiềm chế được. (MJA 2006;184:325-28)

Làm thế nào để chăm sóc bịnh tiểu đường?

Khi biết đã bị tiểu đường rồi, phải lo chăm sóc ngay, đừng lơ là và chần chờ rất tai hại. Rất nhiều bịnh nhân cứ kèn cựa, nằng nặc xin nán cho vài tháng đễ kiêng cữ. Thật là nguy hiểm.
Nên nhớ là không có thuốc trị dứt tuyệt bịnh tiểu đường, chỉ có thuốc chế ngự và giữ lượng đường ở mức bình thường mà thôi, để tránh tai biến tim mạch, thận, mắt vân vân…

• Không phải chỉ có uống thuốc và phối hợp như vậy là được.

• Phải thường xuyên thử lượng đường mỗi ngày. Thử nước tiểu chỉ biết có đường hay không ? chớ không biết chắc chắn lượng đường trong máu. Vô dụng.
• Thỉnh thoảng đến nhờ bác sĩ khám bịnh tìm các biến chứng tim mạch, thần kinh, mắt và thận.
• Hằng năm nhớ khám mắt.
• Phải chăm sóc da nhứt là chân tay, đừng để bị nhiễm trùng rất khó trị. Người bị tiểu đường dễ bị nhiễm trùng hơn người khác. Khi bị đứt tay chân phải nhờ BS khám và điều trị ngay. Móng chân tay phải cắt cho kỹ. Nếu cần phải nhờ chuyên môn xoa bóp podiatrist săn sóc mới được.

Ðiều trị bịnh tiểu đường, không phải chỉ có thuốc men không mà thôi. Nó cần phải kèm theo với dinh dưỡng, thể dục và giảm cân nữa. Tốt nhứt là phải kết hợp cả ba thứ đó mới được.
Tuy vậy, xin đừng phối hợp Ðông-Tây Y với nhau, vì các phản ứng phụ thuận và nghịch rất tai hại cho tánh mạng. Coi chừng vì có người phải đưa vào bịnh viện cấp cứu đấy!

Dinh dưỡng

Có người hỏi, tại sao họ ăn uống kiêng cữ kỹ quá trời mà lại bị tiểu đường hay không hết bịnh tiểu đường?
Hỏi ra mới biết người nầy kiêng cữ đường và trái cây, nhưng lại ăn cơm ngày ba bữa, mỗi bữa, từ 2 tới 3 chén. Ăn kiêng kiểu nầy cũng như không! Không được, vì cơm là tinh bột nó sẽ chuyển hóa thành đường đấy.
Xin đừng quên cơm, mì gói, bún, bánh mì, bánh hỏi đều là tinh bột, Carb tức carbohydrates, khi vào cơ thể nó chuyển hóa ra thành đường glucose. Ăn kiểu nầy bịnh nặng thêm là phải.
Ðường rất cần thiết cho các tế bào sinh hoạt, nhưng phải giảm tối đa nếu muốn điều trị đàng hoàng:

• sáng: ăn qua loa 2 lát bánh mì đen với nhiều hột ngũ cốc.
• trưa: cũng bánh mì đen, chút ít trái cây.

• tối: chỉ ăn một chén cơm, nhiều rau cải, đậu gì cũng được.

Thịt cá đều ăn được, tuy nhiên cá tốt hơn thịt. Gần đây người ta nhận thấy cá giúp trong việc điều trị bịnh tiểu đường. Omega-3 hạ chất cholesterol, làm giảm đi sự nguy hại tim mạch. Tốt nhứt vẫn là salmon, tuna, sardine…
Mỡ động vật rất hại, nên kiêng cữ là tốt nhứt. Dầu thực vật như olive, hoa hướng dương, canola rất tốt mà dự vào việc hạ chất cholesterol.
Rau cải và các loại đậu đen, đỏ, trắng vân vân … đều tốt.
Cữ đồ hộp có đường như:

• Cream, trái cây khô.
• Mứt, bánh ngọt, kẹo, chocolate tuy nhiên phải có vài cục kẹo trong túi, đề phòng khi đói ngậm đỡ chờ bữa, ăn.
• Cữ uống nước đường, nước ngọt hay nước trái cây có đường.

Tốt nhứt là phải dự các buổi học tập cách ăn uống với nhà dinh dưỡng, do bác sĩ gia đình giới thiệu. Các lớp học miễn phí.
Có phải tại đau nặng không, mà người bịnh cứ tăng liều thuốc hoài?
Thật ra không phải đau nặng, mà tại lâu ngày thuốc lờn. Tiểu não thấy chắc đường lượng được kềm chế rồi, mới truyền chỉ cho lá mía bớt tiết chế insulin. Chính vì vậy mà lượng đường trong máu lên, nên phải tăng lượng thuốc lên mới kềm chế được lượng đường trong máu.
Nhiều khi lượng insulin tiết chế thiếu hụt không đủ để giúp điều hòa lượng đường, lúc đó phải tăng cường lượng insulin bằng cách chích. Nhiều khi phải phối hợp vừa thuốc uống vừa thuốc chích mới được.
Có tiểu đường mà mang thai cũng phải đổi qua chích insulin, nếu không rất nguy hiễm cho thai nhi.

Thể dục, thể thao

Thể dục và thể thao rất cần thiết vì nó làm giảm cân, mà còn giúp kềm chế lượng đường trong máu. Tập nhiều làm giảm lượng đường nhiều khi phải bớt thuốc. Cần nhứt là tập cho đều, bơi lội cũng tốt. Tập từ từ rồi tăng thời gian lâu hơn. Nhớ đừng tập luyện quá sức không tốt. Phải tập luyện làm sao cho đều, cho nó thích hợp với từng cá nhân, từng hiện trạng tuổi tác, sức khỏe vân vân… Không cần phải tập luôn mấy tiếng đồng hồ, mà chỉ cần tập chừng nửa giờ nghỉ một chút tập lại…
Theo cuộc nghiên cứu mới, những bịnh nhân tiểu đường trên 61 tuổi, mà ít năng luyện tập thể dục sẽ có 1.7 lần chết sớm hơn siêng năng luyện tập. Thể thao thể dục còn giúp cho cơ thể khỏe mạnh, uyển chuyển, thăng bằng, đi đứng ngay ngắn không bị té bể đầu bể sọ chết.

Tập thể dục như thế nào?

1- Trước khi tập thể dục, cần phải ăn uống một chút ít thực phẩm nhẹ tùy theo tập lâu dài hay qua loa tùy theo sức khỏe và tuổi tác. Tập nhẹ là đi bộ, tai chi, khiêu vũ dưỡng sinh, bơi lội, đánh tennis đôi. Cấm đánh đơn.
Tập qua loa chút ít và đi bộ từ từ, chậm, làm vườn, làm cỏ vân vân…
Tập nhanh, đi mau.
Tập nhanh nữa là chạy.
2- Trong khi tập phải có kẹo, nước uống dùng cho thể thao, nước trái cây pha loãng.
3- Sau khi tập, phải ăn uống chút đỉnh chớ không nên sợ mập hay tiểu đường mà chỉ uống nước sôi để nguội hay nước trong tủ lạnh. Tập càng nhiều, càng lâu cần ăn khá một chút. Nếu không sẽ bị hiện tượng đường lượng thấp rất nguy hiểm (xem đoạn giảm đường lượng trong máu).

Tóm lại là tập thể thao, thể dục, đi bộ đều cần phải có mang theo nước uống, nước đặc biệt dùng cho nhà thể thao mới được, để tránh tình trạng thoát nước và muối khoáng dễ bị chuột rút hay rút gân hoặc chứng co bắp thịt.
Kẹo rất cần thiết nếu cảm thấy choáng váng, run tay, hoa mờ mắt, đổ mồ hôi… là lấy kẹo ăn. Nếu không sẽ bị xỉu. Xỉu té đụng đầu rất nguy hiểm.

Giảm cân

Người lớn tuổi mập hay bị tiểu đường. Người mập bị tiểu đường cũng khó khăn hơn người ốm.
Việc ăn kiêng không riêng gì đồ ăn thức uống có đường, mà cả đồ ăn có dầu mỡ hay chất cholesterol nữa. Thường xuyên tập thể dục cho xuống cân rất cần thiết. Luôn luôn giữ BMI ở mức trung bình 20-25 thôi.
Nó giúp cho việc điều trị mau có hiệu quả hơn và tránh các biến chứng tai hại. Tốt nhứt là nhờ chuyên viên dinh dưỡng, chỉ dẫn cách thức ẩm thực cho từng cá nhân mới đúng. Ráng chịu khó dự các buổi học tập về dinh dưỡng rất bổ ích.
Phương pháp tốt nhứt vẫn là bớt ăn các chất có carb, một chất dễ phân hóa thành đường. Cơm, bún, mì bánh phở đều là carb nên giảm bớt.
Phối hợp siêng năng luyện tập thể dục và bớt ăn carb sẽ giúp mau xuống cân hơn là dùng thuốc nầy nọ nhãm nhí theo tin đồn.

Thuốc lá

Thuốc lá có chứa chất nicotine. Nó là độc tố nguy hiểm vì nó làm cho tiểu cầu kết tụ thành cục, để rồi làm tắt nghẽn mạch máu. Tai hại của việc nầy là gây ra hoại thư, thúi da, chết thịt, tê bại, mất cảm giác, máu nhồi cơ tim, tai biến mạch máu não và bất lực.
Ở đây không có chiến tranh, mà nhiều người Úc bị cụt tay chân cũng vì bị tiểu đường mà còn phì phà thuốc lá, là đùa dai với tử thần. Ðiếc không sợ súng!
Nếu bị tiểu đường mà còn lên máu, máu có mỡ cholesterol và hút thuốc, thì sự nguy hại càng nhiều thêm lên. Những người nầy dễ bị biến chứng tim mạch, mắt, thận và thần kinh.
Vì mất cảm giác chân tay nên dễ bị phỏng ngón tay lúc hút thuốc, ngón tay trỏ và giữa thường có màu vàng sậm. Chân thường bị thương tích và nhiễm trùng rất khó trị, vì mất cảm giác, không còn biết nóng lạnh, đau đớn nên đạp lửa và gai mà không biết đau.

Thuốc uống và chích

Thuốc viên: Tiểu đường là do tụy tạng tiết chế thiếu insulin, để kềm chế không cho đường lượng trong máu lên.
Thuốc giúp tụy tạng tiết chế thêm insulin và giúp cơ thể dự trữ lượng đường. Thuốc rất công hiệu nhưng không trị hết luôn.
Mặc dầu dùng thuốc đúng hàm lượng và đều đặn, ngoài việc kiêng cữ đồ ngọt, cũng phải ăn uống điều độ, chia ra ăn chút chút làm nhiều lần trong ngày không được trễ giờ.
Nên nhớ là khi thấy trễ giờ ăn hay khi nào cảm thấy mệt, lả mồ hôi, tay chân run rẩy là lượng đường trong cơ thể xuống quá thấp, phải ngậm kẹo hay uống liền ly nước ngọt hay nước đường, trong khi chờ được ăn.
Thuốc uống gồm có hai loại như biguanides và sulphonylureas. Loại ngắn hạn, phải dùng nhiều lần, còn loại dài hạn chỉ cần một lần cho 24 giờ.
Sulphonylureas dùng kích thích tế bào beta trong trường hợp nó tiết chế không đủ insulin. Nó gồm có các thuốc như:

• Chlorpropamide,
• Tolbutamide,
• Glipizide (Minidiab),
• Gliclazide (Diamicron, Diamicron MR),
• Glipenclamide (Daonil),
• Glimepiride (Amaryl),
• Novonorm (Rapaglinide).

Sulphonylureas rất tốt có thể dùng lâu dài. Nó giúp tụy tạng tiết chế insulin. Nhưng nếu dùng lâu ngày, lượng insulin tiết chế hơi ít, do đó lượng đường gia tăng, cần phải tăng liều lượng thuốc mới được.
Vì nó không hại thận, nên có thể dùng cho người mắc bịnh thận.
Biguanides không những có nhiệm vụ giúp tụy tạng tiết chế insulin và gia tăng điểm nhân insulin, mà còn ngăn chận không cho gan phân hóa thêm đường nữa. Nhờ những chức năng nầy, mà nó kềm hãm được hàm lượng đường trong máu.
Nó gây vài phản ứng phụ như: nôn, ói, tiêu chảy. Mấy phản ứng nầy sẽ biến mất sau thời gian ngắn; tốt nhứt là uống sau khi ăn.
Vì nó bài tiết qua thận, nên không được cho bịnh nhân bị bịnh thận.
Nó gồm có các thuốc như: Metformin (Diabex XR, Glucophage, Diaformin). Phải ngưng Metformin khi serum creatinine cao hơn 150mol/L.
Ngày nay có nhiều loại thuốc mới như:

• Thuốc Actos (Pioglitazone hydrochloride 15mg, 30mg, 45mg): Nếu các thuốc trên không giảm lượng đường, có thể chỉ dùng Actos thôi (monotherapy) hay phối hợp với các thuốc trên. Tốt nhứt nên cẩn thận vì theo GS Steven Twigg thuốc có thể gây suy tim, nhưng nhẹ hơn Rosiglitazone.
• Advandia (Rosiglitazone 4mg và 8mg): cũng vậy có thể chỉ dùng riêng biệt hay phối hợp với hai loại trên. Vì thuốc gây suy tim, nên kiêng cử cho bịnh nhân mắc bịnh nầy. Tốt nhứt là dùng insulin để tránh nguy hại tánh mạng.
• Avandamet là hổn hợp Advandia (Rosiglitazone + metformin). Cùng số phận như trên.
• Tốt nhứt đừng nhào lên internet thấy thuốc mới ham, đòi dùng cho bằng được, chưa biết rõ biến chứng độc hại của nó.
• Thuốc mới nhứt là Januvia cho loại 2 TÐ. Chỉ cần uống một viên mỗi ngày thôi. Nó hạ đường lượng bằng cách giảm sự ức chế DPP-4, gia tăng lượng incretin.

Nên nhớ :

• Thường xuyên thử cholesterol, triglycerides, gan và thận nếu uống thuốc trị bịnh tiểu đường. (Cholesterol phải đạt được là 3.5mmol/L, Triglycerides là 1.7mmol/L)
• Hằng ngày thử máu phải 4-6mmol/L trước khi ăn sáng và 4-8mmol/L 2 giờ sau khi ăn.
• Lâu lâu (chừng 3-6 tháng) thử glycosolated haemoglobin (HbA1c) lý tưởng phải đạt được là <7.0mmol/L.
6.1-7.0 ——> rất tốt
7.1-8.0——-> được
8.1————> không ổn, tồi.

Insulin

Nhiều người sau một thời gian lâu phải tăng liều thuốc, phải dùng hai ba loại thuốc. Họ cho là lờn thuốc. Thật ra là lâu ngày tế bào betam mất dần dần, khiến thuốc hết hiệu nghiệm phải tăng thêm thuốc. Để tránh phiền phức, chỉ có nước chích insulin vào.
Hai nhà bác học Canada là Federic Grant Banting và Charles H. Best đã phát minh chất Insulin năm 1922 lấy từ heo. Vào năm sau 1923, họ cùng lãnh giải Nobel về Sinh lý và Y khoa.
Ngày nay insulin được sử dụng sớm hơn xưa. Trước kia phải đợi tới quá nặng và có biến chứng tới các bộ phận khác. Chỉ phiền là phải chích, còn tốt hơn là mắt mờ, thận hư, vân vân…
Dùng insulin có thể đưa tới lượng đường xuống thấp quá. Cần phải thường xuyên theo dõi. Nếu cứ bị xuống thấp hoài, phải bớt lượng insulin hay bớt tập thể dục, hoặc ăn thêm một chút. Tốt nhứt phải nhờ bác sĩ gia đình xem lại.
Bây giờ, người ta dùng insulin của con người, chớ không phải của giống heo như xưa. Có loại tan chậm làm đỡ chích nhiều lần trong ngày. Tiện lợi nhứt là loại insulin cây viết Mixtard 30/70 Penfill, Protaphane Penfill … tức nó nhỏ gọn như cây viết gắn trong túi áo, mà ống thuốc bên trong có thể thay thế được. Hàm lượng thuốc có phân sẳn trên ống thuốc.
Nhiều khi cần kết hợp insulin và thuốc uống.
Hai loại thuốc insulin dài hạn insulin glargine (Lantus) và insulin dtermir (Levemir). Chúng rất tiện lợi và bớt phải chích nhiều lần trong ngày. Chúng giữ lượng insulin ở mức độ căn bản, nhờ đó mà tránh được tình trạng đường lượng xuống thấp.
Cả hai đều thích hợp cho loại I & II DM, riêng lantus rất tốt cho loại II DM.
Tin mừng cho bịnh nhân là sẽ không còn bị đau đớn, thành bụng không có u nần vì chích insulin, bởi sẽ có loại insulin ngửi trước bữa ăn. Bịnh nhân không phải chích gì hết, mà sẽ ngửi insulin Exubera, nó sẽ được hấp thụ qua màng nhầy của mũi.
GS Bernie Tuch, Giám đốc chương trình ghép tạng phủ của bịnh tiểu đường.
Trong tương lai, tế bào gốc cũng được nghiên cứu để điều trị tiểu đường trong một ngày rất gần.
Cả 100 năm rồi các khoa học gia nhận thấy ruột có tiết chế một chất để đáp ứng với thực phẩm ăn vào, ảnh hưởng tới lá mía tiết chế ra insulin.

• Nếu ăn no (đường lượng cao), nó sẽ kích thích chất insulin và ngăn chặn glucagon.
• Nhưng nếu đang đói (đường lượng thấp), nó giúp giảm insulin và gia tăng glucagon.
• Ðây là chất Incretin vừa mới cho phát hành. Chờ xem hiệu quả!

Tiểu đường và các bịnh khác

1. Cao huyết áp
Tiểu đường thường đi đôi với cao huyết áp. Cả hai bịnh nầy đều nguy hiểm. Phải điều trị, vì cả hai thường gây hư thận, nên phải trị bằng loại thuốc xuống máu đặc biệt, có lợi tiểu một chút

2. Cao máu mỡ (Hyperlipidemia)
Cao máu mỡ, cao cholesterol và triglicerides, cần phải điều trị cho trở lại mức bình thường. Nhiều người thấy hết bịnh tự ý ngưng, thật là nguy hiểm. Xin cứ tiếp tục trị thêm chớ không được ngưng.
Bịnh cao máu, mỡ dễ làm nghẽn mạch máu, bịnh tiểu đường cũng đưa tới nghẽn mạch máu, cho nên cần phải tiếp tục điều trị.
Tiểu đường, cao huyết áp và cao máu mỡ phải được điều trị và theo giờ giấc cẩn thận, bởi vì chúng thường gây nhiều biến chứng tai hại cho tim mạch, thận, mắt và thần kinh.

Biến chứng bịnh tiểu đường

Bịnh nào cũng có biến chứng, thuốc nào dùng cũng có biến chứng. Biến chứng nhẹ hay nặng, ngừa và trị được hay không là chuyện khác.
Biến chứng do thuốc men thì dễ tránh được, vì chỉ bỏ, đừng dùng nó là hết. Biến chứng do bịnh nhân không tự chăm sóc kỹ lưỡng, không chịu uống thuốc đều đặn đúng liều lượng, không kiêng cữ, không luyện tập thể dục thường xuyên cũng có thể sửa được.
Những biến chứng tim mạch, thậân và mắt cũng có thể ngăn ngừa được. Phần nhiều nó xẩy ra là bịnh nhân thờ ơ, coi thường tánh mạng, không dùng thuốc đúng liều lượng, bữa có bữa không, bịnh trong thời gian quá lâu. Họ không khám mắt hằng năm, thử máu hay nhờ bác sĩ chuyên khoa cùng gia đình theo dõi tường tận.

1. Tim mạch
Khi mắc bịnh tiểu đường lâu năm mà không đi khám bịnh và thử máu về đường, cholesterol và triglycerides rất tai hại, nhứt là không bỏ hút thuốc. Chất nicotine của thuốc lá làm tiểu cầu kết họp thành cục máu, làm nghẽn mạch máu thêm. Bịnh tiểu đường loại 2 thường hay gây ra xơ cứng mạch máu, lòng động mạch nhỏ lại:

• Tim: làm nghẽn mạch máu tim, máu không lưu thông, cơ tim không được nuôi dưỡng, sẽ gây ra cơn đau nhói ngực: heart attack hay máu nhồi cơ tim, sưng cơ tim, suy tim.
• Não: máu luân lưu trong não cũng ít, nghẽn đưa tới một vùng não không dược nuôi dưỡng gây ra: tai biến mạch máu não. Tay chân xụi bại, nói năng không được mới khổ vân vân…
• Dương vật: mạch máu bị xơ, nghẽn dễ đưa tới loạn cường dương.
• Chân tay: mạch máu bị xơ nghẽn, máu không lưu thông tới ngón tay, ngón chân, làm ngón tay chân chết, phải cắt bỏ.
Da sẽ bị lở loét rất khó trị. Nhiều khi nó bị hoại thư chết. Nếu nặng phải cưa tay, bàn chân hoặc cả chân để cứu mạng bịnh nhân.
Nên khám xét mạch máu ngoại biên nhứt là cổ chân, coi nó có nhảy hay không, nhảy mạnh hay nhẹ.

2. Mắt
Ở Úc và các nước trên thế giới, có rất nhiều người bị mù lòa không phải vì thiếu ăn hay vệ sinh, mà vì bịnh tiểu đường.
Nó không những làm giảm thị giác mà còn gây:

• Ðục thủy tinh thể cataract
• Áp xuất nhãn cầu gia tăng glaucoma
• Sưng võng mạc diabetic retinopathy
• Nghẽn tỉnh mạch nhãn cầu retinal vein occlusion
• Chảy máu trong dịch nhãn cầu vitrous haemorrhage
• Rách võng mạc retinal tear
• Võng mạc tách rời retinal detachement

Ðể tránh những tình trạng trên, thường xuyên hằng năm nên khám mắt một lần, để theo dõi và phòng ngừa biến chứng mù lòa. Có thể khám bác sĩ nhãn khoa hay y sĩ nhãn khoa cũng được.

3. Thận
Thận giống như cái máy lọc để lấy các chất dơ bẩn thải ra ngoài theo nước tiểu. Khi thận bị tàn phá bởi DM, thận sẽ rỉ ra chất protein hay albumin trong nước tiểu. Chính vì vậy, phải thử nước tiểu tìm albumin.

• Hiện nay người ta nhận thấy một số đông người mắc bịnh tiểu đường loại 2 dễ bị đau thận kinh niên, cho nên việc thử thận rất cần thiết.

• Phải thử GFR (Glomerular Filtration Rate). Còn eGFR là ước lượng của nó trên hay bằng > 60. Nếu nó < 60 coi như thận đã hư hại phần nào rồi, nên tránh thuốc có hại cho thận. Bịnh nhân cần được Bs chuyên khoa thận theo dõi.
• Còn eGFR <15-29 phải nghĩ tới lọc thận hay ghép thận.
• Còn <15 thôi là thời kỳ chót của thận suy kinh niên.

Nếu có albumin là phải mau mau chế ngự cao huyết áp và tiểu đường ngay, nếu không thận sẽ hư, phải lọc thận hay ghép thận rất phiền.
Phải chuyển bịnh nhân đến bác sĩ nội khoa tiết niệu nephrologist (xin đừng nhầm với urologist hay bác sĩ ngoại khoa tiết niệu, BS giải phẫu đường tiểu) để điều trị cho kịp thời
ngăn chặn hay làm chậm lại sự tổn thương.

4. Thần kinh
Người bị tiểu đường mà hút thuốc, ngón tay họ vàng đậm.
Quí vị biết tại sao không?
Ngón tay vàng như vậy vì họ ngấm nhiều chất nicotine, do mất cảm giác nóng, lạnh của dây thần kinh cảm giác ngoại biên peripheral sensory nerve cho nên bị nóng, phỏng cháy da mà không hay biết.
Chân mất cảm giác không biết nóng hay lạnh dễ bị thương tích do đạp lửa, gai, bị cắt đứt mà không hay.
Các vết thương da thịt của họ là môi trường cho vi trùng xâm nhập và nẩy nở. Da thịt họ rất độc, dễ nhiễm trùng, rất khó mà điều trị. Cho nên mỗi khi bị thương tích phải đến bác sĩ điều trị ngay.
Ðể tránh thương tích ở bàn chân, họ phải mang giày vớ cho kỹ. Họ phải được săn sóc kỹ lưỡng bởi chuyên viên xoa bóp bàn chân podiatrist.
Ði chơi xa như di du lịch, người mắc bịnh tiểu đường loại 2 phải:

• cụ bị thuốc men cho đầy đủ, nếu có dư càng tốt.
• cụ bị đồ ăn như bánh kẹo, nước chín…phòng khi phải chờ đợi ở phi trường hay trên phi cơ.
• ăn chút chút nhiều lần, đừng ăn quá no.
• tránh tréo chân dễ bị nghẽn tình mạch sâu.
• cử động, đi tới đi lui, tránh ngồi quá lâu.

Ðiều trị NIDD cần phải tránh đừng để cho lượng đường hạ thấp rất tai hại cho tánh mạng. Vậy làm sao biết được lượng đường giảm để tránh?
Khi lượng đường trong máu giảm, bịnh nhân sẽ có các triệu chứng như:

• Mặt tái mét, lạnh, đổ mồ hôi,
• Ðói bụng, tê môi,
• Tim đập nhanh,
• Nhức đầu, đuối sức rồi
• Hôn mê…

Tình trạng nầy do:
Mất cử ăn (vui chơi quên ăn)

• Hoạt động thể chất như thể thao thái quá,
• Chích lố liều insulin.

Muốn biết đích xác phải thử BSL<3.5mmol/L
Ðiều trị bằng cách:

• Uống nước trái cây, nước ngọt hay ăn jelly beans.
• Nếu hôn mê phải chích dung dịch đường.

Bịnh tiểu đường rất khó mà trị hết tiệt, chỉ có cách chế ngự cho nó không gây biến chứng. Muốn thế phải đều đặn điều trị, thường xuyên nhờ BS GÐ và chuyên khoa theo dõi.
Nhớ ăn kiêng và tập thể dục để giúp phần chế ngự lượng đường trong máu BSL<5.5mmol, HbA1C<7, ngỏ hầu tránh biến chứng tai hại tới tánh mạng.
Thử nước tiểu chỉ biết nước tiểu có đường hay không mà thôi. Nó không chính xác, mà cũng không cao thấp bao nhiêu.
Thử máu bằng glucometre mới đúng. Nên thử trước khi ăn và hai giờ sau.

SỐNG VỚI BỊNH TIỂU ÐƯỜNG

1. Chăm sóc bịnh tiểu đường loại 2 cần theo dõi ABCSS

• HbA1 C <7%
• BP <130/80
• Cholesterol <4mmol/L
• Salicylate aspirin 75mg
• Smoking bỏ hút cho bằng được

2. Khi có bịnh T 2 DM cần phải theo dõi:

• Kiêng cữ, thể dục, giảm cân, đo lượng đường.
• Bs gia đình và chuyên khoa.
• Biến chứng: Tim mạch, mắt, thận, thần kinh.

CÒN NGƯỜI CÓ HIỆN TƯỢNG TIỀN TIỂU ĐƯỜNG

Nếu có hiện tượng tiền tiểu đường, cần phải tránh cho bằng được. Muốn thế cần phải:

• Giảm cân cho bằng được từ 5-7% (70kg còn 63kg).
• Kiêng cữ đồ ngọt để hạ năng lượng cở 10%.
• Kiêng cữ đồ mỡ (<30%), dầu bảo hịa (<10%)
• Ăn nhiều rau cải (>30%)
• Mỗi tuần tập thể dục ít nhứt là 150phút.

Có như vậy không những tránh được phì mập mà còn tránh được bịnh tim mạch, lú lẫn cùng lẫn lộn và các bịnh ung thư nữa.

Theo tài liệu mới

Dr Roger Chen, MBBS (Hons) PhD, FRACP, visiting Endocrinologist at
Concord & Canterbury: Type II diabetes mellitus Part 1 & 2, MO 20/10/05.
A/Prof.Dominic Fitzgerald MBBS, PhD, FRACP, Children Westmead Hosp.
MO 7/4/06
Dr Jenny Gunton, Issues, The voice of Diabes Australia, Autum 2007 p14
Dr Judy Luu, Prof. Cheung, MBBs, FRACP, Pd, Endocrinologist at Westmead
Hosp. 20/nov/2009.