TƯỞNG NIỆM NHÀ THƠ TÔ THÙY YÊN (1938-2019)

Biên soạn: Phan Anh Dũng

(nguồn: http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1397&Itemid=45)

bar_divider

Tô Thùy Yên, tác giả ‘Chiều Trên Phá Tam Giang,’ qua đời

ĐẠI DƯƠNG / NGƯỜI VIỆT – May 21, 2019

ToThuyYen-01
Nhà thơ Tô Thùy Yên. (Hình: lyrikline.org)

HOUSTON, Texas (NV) – Nhà thơ Tô Thùy Yên, tác giả bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang,” mà một phần của nó được cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc, vừa qua đời tối Thứ Ba, 21 Tháng Năm, tại Houston, Texas, hưởng thọ 81 tuổi, ông Đinh Hiệt, con trai nhà thơ, xác nhận với nhật báo Người Việt qua một tin nhắn.

Theo bài viết “Tuyển Tập Tô Thùy Yên” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên nhật báo Người Việt hôm 10 Tháng Hai, nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Học tại Gia Định và Sài Gòn. Viết từ cuối thập niên 1950. Tại ngũ từ 1964 đến 1975. Tù Cộng Sản 13 năm. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1993.
Vẫn theo tác giả Trần Doãn Nho, Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ lớn của văn học miền Nam Việt Nam (1954-1975).
Bài thơ (được xem) như đầu tay của ông, “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu,” được sáng tác lúc ông còn là một thiếu niên.
“Thơ Tô Thùy Yên có rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất,” theo tác giả Trần Doãn Nho nhận xét.

Theo lyrikline.org, một trang mạng sưu tầm thi ca, nhà thơ Tô Thùy Yên tốt nghiệp trung học Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975.

Theo nhà thơ Du Tử Lê viết trên blog của ông, thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ.
Đã xuất bản: Thơ Tuyển (một ấn bản tại Đức năm 1994, một ấn bản tại Mỹ năm 1995), Thắp Tạ (năm 2004).

ThoTuyen-ToThuyYen ThapTa-ToThuyYen.jpg

Hồi đầu năm 2019, ông cho ra mắt “Tô Thùy Yên – Tuyển Tập Thơ,” gồm 96 bài thơ, gộp lại những bài từ hai tập trước, cộng thêm một số bài mới được tìm thấy và đưa vào sau này.

Vẫn theo tác giả Trần Doãn Nho, từ khi qua định cư tại Hoa Kỳ, Tô Thùy Yên cư ngụ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.
Ông tiếp tục làm thơ và đi nhiều nơi tham gia các buổi sinh hoạt văn học cũng như giới thiệu tập thơ đầu tiên của ông. Tuy nhiên, trong những năm sau này, sức khỏe nhà thơ không được tốt, nên ông hiếm khi đi đâu và ít thấy xuất hiện trước công chúng. Vào năm 2017, nhân dịp 30 Tháng Tư lần thứ 42, đáp lời mời của trường đại học Yale University, muốn có tiếng nói của một nhà thơ miền Nam Việt Nam, dù đi đứng khá khó khăn, ông đã cố gắng đến tham dự và đọc thơ cùng với một số nhà thơ khác như Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, và Chân Phương vào ngày 26 Tháng Tư, 2017.
Trong dịp này, ông cũng tham dự một buổi sinh hoạt đọc thơ Tô Thùy Yên khác tại trung tâm Việt-Aids do nhóm văn nghệ sĩ Boston tổ chức vào chiều tối ngày 28 Tháng Tư, 2017.

Hồi Tháng Hai, bà Huỳnh Diệu Bích, vợ ông, cho biết, ông đang nằm tĩnh dưỡng ở bệnh viện sau một cơn đột quỵ. (Đ.D.)

ThamToThuyYen-2019

BanTay-ThuBut-ToThuyYen
Dấu tay & thủ bút của TÔ THÙY YÊN 2014

bar_divider

cao-pho-to-thuy-yen-dtt

Như một hành trang đơn,
Trên cánh thơ miền mới,
Làm gió vĩ tuyến thở,
Tặng chàng Kẻ Sĩ Tô Thùy Yên.

Trường Đinh

blinkingblock SỐNG TRONG TỪNG SÁT NATrường Đinh riêng tặng anh Tô Thùy Yên

bar_divider

CTPhanUu-ThiSiTOTHUYYEN-2019.jpg

phanuu.jpg

Vĩnh biệt Tô Thùy Yên

“Người về một bóng trên đường lớn!”
Mới đó… Trời ơi! Một Bóng Ma!
Tin ở Houston qua, báo vậy
Tô Thùy Yên… mãi mãi Đi Xa!

Mãi mãi từ nay mất một người
Mà nghe ngàn triệu tiếng Than Ôi!
Chào anh! Vĩnh Biệt Người Anh Lớn
Hẹn gặp… mà thôi Hết-Gặp-Rồi!

Mười Tám Thôn Vườn Trầu đang khóc
Mưa Sài Gòn mưa tới Hóc Môn
Tô Thùy Yên ạ… hoa me rụng
Triệu giọt mưa thành Nước Mắt tuôn!

Tôi thật tình tôi đang ngã quỵ
Anh về một bóng thiệt sao anh?
Quê Hương đã đón anh về thật?
Một bóng đường xa… lộ vắng tanh!

Một bóng đường xa… một bóng người
Lời Chào Vĩnh Biệt nhận cho tôi!
Tô Thùy Yên hỡi Người Anh Lớn
Tôi chúc Anh Yên Giấc Ngậm Cười!

Trần Vấn Lệ
Temple City 21-5-2019

Đi

Bài thơ cài trên cửa
Sau cùng đã khuất duy
Những con chữ rơi xuống
Tan theo bóng thầm thì
Đường lớn ôi đường lớn
Ừ thì đi. Rồi đi.

Không còn

chẳng còn gì thắp tạ
người ôm hết bó nhang
đi về chong nhật nguyệt
pha lê màu thủy tinh
sẽ không ai nhìn thấy
tin thơ. ở dạng hình

Hoàng Xuân Sơn
22/5/2019
Kính tiễn

Từ Tạ

Chợt tin người đã thiên thu
Dưng không trời đổ sa mù trong tôi
           Ôi Trời!
                     Ôi Đất!
                              Ơi Người!
Sao đi bỏ chữ… mồ côi, từ rày!

Cao Vị Khanh

Khi thi sĩ chết

Khi thi sĩ nằm xuống  
người ta bỏ vào trong áo quan  
những trang Thơ phủ kín chiều dài của thân thể  
đó là những dòng chữ  
viết cho suốt chiều dài của một đời người

Khi chiếc áo quan đóng lại
ngọn lửa bùng lên
giấy và người tan thành tro bụi
thì những câu Thơ bay mãi giữa đất trời

Thi sĩ không để lại một con ngựa
vì biết là nó sẽ
khuỵu xuống với tuổi già

Thi sĩ không để lại
những ngôi nhà
vì biết là tường vôi mái ngói
sẽ mục nát với thời gian

Thi sĩ không để lại những cánh đồng
vì biết là đất đai nào
cũng có ngày đổi chủ

Thi sĩ không để lại bạc tiền
vì biết rằng nó sẽ thất thoát
bởi chi thu
Thi sĩ chỉ để lại những câu thơ
vì biết rằng
người ta càng chia nhau
thì Thơ càng đầy túi

Quốc gia giầu có là quốc gia có nhiều thi sĩ
thành phố may mắn
là thành phố được thi sĩ ẩn thân
con sông lúc nào sóng cũng rưng rưng
là con sông chở tàn tro thi sĩ

Thi sĩ là người duy nhất trên đời
khi chết đi
không mang theo gì cả
nhưng vẫn vĩnh viễn làm chủ sản nghiệp
của mình
Những bài thơ.

Trần Mộng Tú

Bái biệt nhà thơ Tô Thùy Yên (1938-2019)

Thưa Anh Tô Thuỳ Yên,
Tôi chưa một lần được diện kiến Anh, mặc dù tôi là bạn của người em rể Anh, nhà văn Lâm Vị Thuỷ. Tuy nhiên, tôi rất quý trọng Anh, một nhà thơ lớn của đất nước.
Tin Anh về Nhà Thật hôm 21 tháng Năm 2019 khiến tôi ngậm ngùi tưởng tiếc. Anh như một vì sao băng, để lại trên bầu trời văn học Việt Nam một khoảng trống khó lấp đầy.
Xin bái biệt Anh bằng một vài vần thơ vụng dại của kẻ hậu sinh.
Quyên Di

ANH VỀ
Tin từ thành phố Đông Nam ấy
Anh đã lên đường bước viễn du
Lần này là chuyến đi xa thật
Bỏ hẳn gian trần chốn tạm cư.

Đã bước vào đời và thanh thản
Dạo trong cõi tạm tám mươi năm
Đã khóc đã cười cùng cuộc thế
Thì nay viên mãn tựa trăng rằm.

Một thuở cùng bạn bè Sáng Tạo
Mực thơm giấy thắm ý tinh khôi
Chắc hẳn từ ngày son trẻ ấy
Anh đã trầm ngâm trước cuộc đời.

Rong ruổi khắp mọi miền đất nước
Không hành một buổi phá Tam Giang
Anh đã ngậm ngùi cầm bút viết
Bài thơ thương cảm chuyện nhân gian.

Bài hành Trường Sa Anh sáng tác
Là lúc gần tan một cuộc cờ
“Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn,
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.” (*)

“Ta Về,” Anh có hơi kinh ngạc
Không khỏi thoáng qua chút chau mày
Dấu hỏi to dần: sao có thể
“Giải oan cho cuộc biển dâu này?” (**)

Hôm nay Anh đã về Nhà Thật
Như đứa con đi hết nẻo đời
Như kẻ lãng du nay trở gót
Tìm về Nhà Mẹ ở luôn thôi.

Một chén rượu nồng xin đưa tiễn
Ngậm ngùi mà có chút mừng vui
Buồn vì một ngôi sao vừa tắt
Vui vì Anh đã trọn cuộc chơi.

Quyên Di bái biệt

(*) Trường Sa Hành, Tô Thuỳ Yên
(**) Ta Về, Tô Thuỳ Yên

Kiều Chinh chia buồn

Thật buồn được tin nhà thơ Tô Thùy Yên vừa ra đi.
Tô Thùy Yên bị heart attack đêm qua.
Xin chia buồn với cháu Hiệt Đinh và toàn thể gia đình.
TÔ Thùy Yên ơi, lên đường thanh thản nhé,
sẽ gặp lại anh Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền.

ThaiThanh-ToThuyYen-KieuChinh-TranDaTu-NhaCa
Thái Thanh, Tô Thùy Yên, Kiều Chinh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca

bar_divider

TranhKinhTangTTY-DinhTruongChinh

thảng như con ngựa già vô dụng
chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình

(thơ TTY)

để kính tiễn ông.
sơn dầu trên bố. Đinh Trường Chinh

bar_divider

Tiễn biệt Tô Thùy Yên: ‘Có thật là ta đi đã xa?’

** Cát Linh/Người Việt – June 2, 2019 **

DP-Tien-biet-To-Thuy-Yen-1
Di ảnh cố thi sĩ Tô Thùy Yên. (Hình: Cát Linh/Người Việt)

HOUSTON, Texas (NV) – “Căn nhà đã có thời gian ngụ/ Bụi mọt rơi và ngọn gió qua/ Thăm thẳm nghìn đêm chong mắt đợi/ Ai trầm luân đó đã về chưa?”

Trước đêm di quan, ông Đinh Kinh Tuệ, con trai trưởng của cố thi sĩ Tô Thùy Yên, dùng chính cây bút của cha mình viết lên bốn câu thơ trong bài “Tháng Chạp Buồn” để đọc tiễn ông rời khỏi căn nhà mà ông đã có nghìn đêm đợi vào buổi sáng Thứ Bảy, 1 Tháng Sáu, 2019.

Tô Thùy Yên, một người yêu Tiếng Việt

Có nhiều câu chuyện được kể ra, thay lời ai điếu. Mỗi câu chuyện là một kỷ niệm với ông. Tưởng niệm một nhạc sĩ thì sẽ có những ca khúc người đó để lại cho đời. Tương tự, tưởng niệm một nhà thơ, một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thì phải nhắc thơ ông.

Nhưng, nhà thơ Đỗ Quý Toàn, người bạn ông từ 60 năm, đã xin không nói đến thơ của ông Tô Thùy Yên trong buổi tưởng niệm. Bởi lẽ, đó là thói quen của hai người từ xưa nay mỗi khi gặp mặt. Các thi sĩ không hay nói về thơ với nhau!

Ông Đỗ Quý Toàn kể lại: “Tô Thùy Yên, cũng như chúng tôi nghĩ rằng một tác phẩm nghệ thuật, một bài thơ tự nó nói lên, không cần ai nói thêm nữa. Chúng tôi tin như thế đã từ hơn 60 năm. Một câu anh nói từ 1959 mà tôi không bao giờ quên, là ‘Nghệ thuật không cần ai tranh đấu cho nó cả.’ Tôi sẽ không dám nói về thơ Tô Thùy Yên khi anh đang còn ở đâu đây. Lúc khác, khi về với một giảng đường nào đó, nói chuyện với sinh viên, lúc đó, sẽ nói.”

DP-Tien-biet-To-Thuy-Yen-2
Bà quả phụ Tô Thùy Yên trước linh cữu của chồng. (Hình: Cát Linh/Người Việt)

Thế nhưng, có một điều mà nhà thơ Đỗ Quý Toàn khẳng định: “Không nói đến thơ nhưng con người Tô Thùy Yên rất đáng nhớ. Thơ của anh thể hiện tâm hồn của một người dân VIệt Nam, sống ở miền Nam suốt bao nhiêu năm, tâm hồn đó khiến chúng ta hãnh diện. Là một người dân miền Nam, tôi rất hãnh diện vì trong 20 năm đất nước chia cắt, nền văn chương miền Nam nhờ tự do nên phát triển phong phú hơn rất nhiều so với văn chương miền Bắc. Sau này nếu lịch sử ghi lại so sánh chế độ Cộng Sản và tự do, họ sẽ so sánh thành tích kinh tế, xã hội, chiến trận, ai thắng ai, vân vân. Có những thứ mà khi so sánh người ta sẽ thấy miền Nam đã vượt trội, đó văn hóa, đạo đức, và văn học nghệ thuật.”

“Tô Thùy Yên là một người đóng góp xây dựng nền văn chương đó ở miền Nam. Nếu tôi là một quân nhân đi tù cải tạo thì tôi cũng hãnh diện về Tô Thùy Yên. Tất cả những tâm tư của anh trải qua trên lời thơ khi sống cảnh tù đày hay khi trở về, làm đẹp mặt tất cả chúng ta. Một người đi tù, giữ được tấm lòng như Tô Thùy Yên biểu lộ, chính là kết quả nhờ cuộc sống tự do bảo vệ được văn hóa dân tộc.

Điều làm cho tôi yêu nhất, kính trọng nhất và có thể hãnh diện nhất là Tô Thùy Yên yêu tiếng Việt Nam, giữ gìn, chắt chiu, mài gọt, làm cho những từ những chữ cũ sống lại, sinh động, làm mới cách chúng ta nói tiếng Việt, tiếng Việt Nam đẹp đẽ rực rỡ hơn,” ông nói thêm.

Nhà thơ Đỗ Quý Toàn thấy thi sĩ Tô Thùy Yên đã làm sống dậy những chữ tiếng Việt mà người ta đã quên rồi, đã bị phủ bụi mấy mươi năm.

Nhạc sĩ Đăng Khánh, đến chào Tô Thuỳ Yên lần cuối, cũng nói rằng sự ra đi của tác giả “Ta Về” là mất mát lớn cho những người yêu tiếng Việt. Ông tâm sự trong buổi tưởng niệm:

“Thi sĩ Tô Thùy Yên ra đi không những là một mất mát lớn cho gia đình, bạn bè mà thật sự là một mất mát lớn cho nền văn học của cả nước Việt Nam. Ông là một nhà thơ vĩ đại của nền thi ca Việt Nam khởi đi từ thời Sáng Tạo. Ông ra đi là một mất mát lớn trong lòng những người yêu Tiếng Việt, yêu thi ca, yêu văn chương. Sự xúc động và tiếc nuối đó tỏa ra ở trong không gian này.”

Nhà văn Trần Doãn Nho, thi sĩ Nguyễn Xuân Thiệp và ông Bùi Huy đã đưa mọi người vào thế giới Tô Thùy Yên. Trong lễ tưởng niệm cố thi sĩ không chỉ người có mặt tại chỗ mà nhiều người ở xa cũng đến chào ông qua màn ảnh. Có nhà thơ Trần Dạ Từ, có nhà văn Nhã Ca, có nữ tài tử Kiều Chinh, nhà thơ Du Tử Lê, họa sĩ Trịnh Cung, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Từ Nam California, mỗi người gửi lời chia tay ông bằng câu chuyện kỷ niệm của mình.

Mấy đoản khúc của bài thơ “Ta Về” được nhà thơ Trần Dạ Từ đọc lên thay lời ai điếu, tiễn người bạn thơ rời cõi tạm.

DP-Tien-biet-To-Thuy-Yen-3
Lễ đưa quan cố thi sĩ Tô Thùy Yên. (Hình: Cát Linh/Người Việt)

“Tô Thùy Yên, mối tình cuối cùng của tôi”

Sau mỗi một lời chia sẻ, cả gia đình thi sĩ lại đứng dậy cúi đầu cảm ơn. Mà có lẽ cố thi sĩ Tô Thùy Yên cũng đang đứng, ngồi quanh đó, giữa bằng hữu bạn bè, cạnh người vợ thân yêu quen nhau từ năm 4 tuổi!

Đứng bên cạnh áo quan ngắm cố thi sĩ Tô Thùy Yên nằm ngủ giấc ngủ dài trong ấy, bà Huỳnh Diệu Bích nhớ cuộc đời làm vợ một thi sĩ lớn của nền văn học Việt Nam:

“Tô Thùy Yên và tôi quen nhau từ rất sớm, từ cái thời thanh mai trúc mã. Nhưng khi lớn lên chúng tôi cưới nhau không dễ dàng vì gia đình không muốn gả tôi cho một nghệ sĩ, sợ rằng tôi sẽ khổ. Nhưng cuối cùng sau bao năm chờ đợi thì chúng tôi cũng đến được với nhau dưới sự chấp thuận của gia đình.”

“Sống với anh một thời gian, khi mà tình đã cũ thì anh cần một mối tình mới hơn. Là một người nghệ sĩ, tâm hồn anh có thể yêu được nhiều lần. Còn trẻ thì có nhiều lúc tôi cũng đau khổ, nhưng sau đó, nhất là sau 10 năm tù, một thời gian tôi coi như là anh được trở về từ cõi chết, thì lúc đó mọi sự suy nghĩ của tôi có thay đổi. Tôi hiểu được rằng lấy một người chồng thi sĩ, tôi không giữ anh cho mình, tôi biết và tôi tập phải chia sẻ,” bà tâm sự.

“Thường là những người tình của anh, cuối cùng thường thường trở thành bạn của tôi. Tôi tập vui với anh. Những gì làm anh vui, thì tôi sẽ vui với anh, để anh không bị… có thể nói … là hối hận đó. Rồi tôi thấy những điều là những gì mình cần làm cho người thân của mình thì mình cần làm ngay, vì sẽ tới lúc hoặc là người đó, hoặc là mình sẽ không còn nữa,” bà chia sẻ.

Bà nói: “Hôm nay tôi buồn vì vĩnh viễn xa anh, nhưng tôi có cái vui là tôi đã cùng anh đi trọn đường trần, và có thể nói, tôi là mối tình cuối của anh.”

Người phụ nữ nhỏ bé trong chiếc áo dài đen, đeo khăn tang trắng, trong suốt buổi lễ không một lần tỏ ra đau khổ vật vã. Ngược lại, bà đứng dậy đáp lễ tạ ân với tất cả những người đến chào tiễn đưa cố thi sĩ Tô Thùy Yên. Bà lặng lẽ cầm di ảnh của chồng mình, đi nốt với ông một khoảng đường cuối, đến căn phòng hỏa thiêu.

Cánh cửa sắt lạnh lùng đóng lại. Bà quả phụ Tô Thùy Yên đưa tay bấm nút, đưa ông, cố thi sĩ Tô Thùy Yên vào đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Buổi lễ tưởng niệm ông diễn ra ấm cúng, đầy chất thơ. Ngày đưa tiễn ông cũng nhẹ nhàng, tựa như bốn câu thơ trong bài “Đi Xa” của ông: “Đi như đi lạc trong trời đất/ Thủy tận sơn cùng, xí xóa ta/ Cõi chiều, đứng lại, khóc như liễu/ Có thật là ta đi đã xa?”

Nhà thơ đã tạm biệt mọi người để viết nốt đoạn cuối bài thơ “Ta Về.”

(Cát Linh)

—–
Liên lạc tác giả: ngo.kalynh@nguoi-viet.com

bar_divider

HÌNH ẢNH TANG LỄ Ở HOUSTON, TEXAS  30/5/2019 – 1/6/ 2019

Tien-biet-To-Thuy-Yen-11

Tien-biet-To-Thuy-Yen-9.jpg

Tien-biet-To-Thuy-Yen-6.jpg

Tien-biet-To-Thuy-Yen-4

Tien-biet-To-Thuy-Yen-12

Tien-biet-To-Thuy-Yen-5

Tien-biet-To-Thuy-Yen-10.jpg

Tien-biet-To-Thuy-Yen-7

Tien-biet-To-Thuy-Yen-8

bar_divider

Nói Chuyện Với Tách Cà Phê. Người muôn năm cũ

** PHAN NGUYÊN **

Sài gòn mùa hè năm đó nóng bức nhưng chiều chiều thường có những ngọn gió từ kênh Nhiêu Lộc tạt qua, cũng làm vơi đi không khí ngột ngạt trong cái xóm nhỏ ở khu Tân Định, nên nhiều người thích đem ghế ra đường ngồi sau bữa cơm tối.
Những ngọn gió mát mọi người đều dễ dàng cảm thấy trên da thịt nhưng cái mùi sình lầy nước đọng từ con kênh dơ bẩn lan tỏa khắp nơi thì ko ai ngửi thấy… mà chỉ có mình mình. Khổ cho cái mũi từ phương Tây mang về là thế! Có người đùa bảo đích xác là mùi “quê hương”, hít thở mãi rồi cũng quen thôi! Không thấy gì nữa!

Cái xóm bình dân này nằm ngay góc đường Trần Quang Khải với Hai Bà Trưng. Sâu vào trong là Xóm Chùa hướng ra kênh Nhiêu Lộc. Ngược ra ngoài là đường lớn, đi bộ mươi phút là đến chợ Tân Định để đến nhà Đinh Cường …Và chắc chắn ở xưởng vẽ họa sĩ ĐC sẽ dễ thở hơn nhiều!

Nên dạo đó tối tối mình hay qua nhà Đinh Cường chơi và rủ anh đi ăn cháo trắng hột vịt muối với củ cải … cũng chỉ đi bộ lòng vòng khu chợ để có dịp la cà quán xá. Và tối hôm đó, tình cờ mình gặp một người biết tên nhưng chưa bao giờ gặp mặt, nhà thơ Tô Thùy Yên. Một cây bút chủ chốt của nhóm Sáng Tạo cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền v.v trước 75.

Xưởng vẽ Đinh Cường là nơi tụ hội nhiều văn nghệ sĩ miền Nam nhất lúc đó, đến đây có thể gặp tất cả. Ban ngày thường lui tới là Trịnh Công Sơn, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em … tối tối có mặt Tô Thùy Yên, Bùi Giáng. Ai cũng thân với họa sĩ Đinh Cường, vốn người hiền lành chất phác.

Đinh Cường giới thiệu TTY mới ở tù ra, mới “cải tạo” về! Anh nhổm người bắt tay thân thiện không nói gì, chỉ ngồi trầm ngâm hút thuốc. Áo trắng quần đen. Dạo đó mình chỉ biết TTY là tác giả bài “Chiều trên phá Tam Giang” nổi tiếng đươc phổ nhạc với giọng hát Nhật Trường, một giọng hát mình không thích lắm. Anh ngồi đó với dáng người gầy gầy, mặt mũi hốc hác, quay lưng lại với ánh đèn néon và tóc còn đen nhánh.

Đinh Cường bảo PN ở Paris về anh mới nhìn mình và hỏi chuyện, có vẻ quan tâm nhiều đến đời sống và xã hội Tây phương. TTY thích nói chuyện xoay quanh vài nhà văn, nhà thơ Pháp khi biết mình cũng học Văn khoa rồi bảo anh mới dịch xong quyển “L’Amant” của Marguerite Duras, hứa hôm nào sẽ đưa mình đọc bản thảo, xem có in được chăng? TTY là người ít nói nhưng thích đặt nhiều câu hỏi, thẳng thắn, tế nhị. Có vẻ không muốn nhắc lại giai đoạn gian truân khổ ải anh vừa trải qua … hay vì e ngại chưa muốn thổ lộ với người xa lạ mới gặp? Chuyện “học tập cải tạo” anh đều tránh né!

GaNhanTinh-TTYdich.jpgNhững buổi tối ấy thường chấm dứt bên bát cháo trắng bốc hơi với hột vịt muối, không bia bọt và ai về nhà nấy, chay tịnh vì mọi người đều nghèo rớt mồng tơi. Dạo đó văn nghệ sĩ trí thức miền Nam chỉ ngồi vỉa hè và chạy kiếm ăn từng bữa. Đa số còn dựa vào sự tần tảo của vợ con. Các bà các chị buôn qua bán lại rất giỏi trong thời kỳ “đổi mới”. Họa sĩ thỉnh thoảng bán được bức tranh đã là đại tiệc. Mình biết, có những điều không cần nói ra, chỉ im lặng, nhưng hiểu nhau tận đáy lòng…

Lần cuối gặp TTY năm đó ở nhà ĐC, một hôm có mặt Bùi Giáng, không nghe anh nói gì về quyển “L’Amant” đã dịch (Gã Nhân Tình) và chỉ ngồi nghe Bùi Giáng đọc thơ vô lượng viết tặng nàng Brigitte Bardot, ôi Brigitte Bardot nàng minh tinh màn bạc Pháp với bộ ngực nẩy lửa! Bùi Giáng đọc thơ rồi chép ra giấy nhờ mình mang sang Pháp. Suốt buổi tối TTY chỉ ngồi nghe chuyện và cười buồn nhiều hơn vui. Anh thân với ĐC, thường lui tới xưởng vẽ, chép thơ lên những mảnh giấy trắng treo lên tường như những câu đối, với nét chữ bay bướm thật đẹp.

Rồi gia đình họa sĩ Đinh Cường chuẩn bị đi nước ngoài, vài năm sau thi sĩ TTY cũng ra đi theo diện HO, mình định cư ở Pháp.

Bẵng đi 25 năm sau mình mới gặp lại TTY ở Sài gòn, một dịp anh trở về thăm quê hương. Cùng lúc mình cũng có mặt ở VN. Lần đó mình đã làm dấu tay bằng cà phê cho anh… Anh đã vui vẻ, tóc muối tiêu, hoạt bát hơn, kể chuyện nhiều hơn và ghi lên giấy dấu vân tay:

Bao giờ, cho đến bao giờ nữa
Em gánh vui về họp chợ đông

Tiếc là không ghi hai câu sau:

Lòng ngát như hoa còn kịp buổi
Áo chưa ai giữ để xin buông

PhanNguyen-TTY

Thời gian đó TTY đã kịp xuất bản hai tập thơ tuyển “Ta Về” và “Thắp Tạ” ở hải ngoại mà mình có được đọc. Khác với Thanh Tâm Tuyền đã bỏ hẳn thơ, ngưng sáng tác và im lặng cho tới lúc chết!

Tối nay nghe tin TTY qua đời vì bị nhồi máu cơ tim … một quả “tim lớn” đã ngừng đập. Mình chợt nhớ tới quyển sách anh dịch “Người Tình” vẫn chưa cho xem … sách có được xuất bản không?
Và dấu tay Tô Thùy Yên còn đó, dấu tay Đinh Cường vẫn còn đây! Riêng lá thư tình của thi sĩ Bùi Giáng gởi Brigitte Bardot thì vẫn chưa đến tay nàng … vì đã thất lạc!

Tối nay nhớ tới hai câu thơ của Thanh Tâm Tuyền, người bạn thân thiết khác của Tô Thùy Yên:

Sẽ chết như sao rơi vào bất tận
Sẽ mãi yêu như giọt nước hân hoan
Và hai câu của anh:
Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương
Sao thấy buồn hiu hắt!

Sài Gòn 26/5/2019

PHAN NGUYÊN

bar_divider

Chiều Trên Phá Tam Giang

Tô Thùy Yên

Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
(Ca dao)

1.
Chiếc trực thăng bay là mặt nước
Như cơn mộng nhanh
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát
Cát hôn mê, nước miệt mài trôi
Ngó xuống cảm thương người lỡ bước
Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ
Chiều dòn tan, nắng đọng nứt ran ran
Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ
Thơm cả thiết tha đời
Rào rào trận gió nhám mặt mũi
Rào rào trận buồn ngây chân tay

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
Ta ngó thấy thuỳ dương gãy rủ
Từng cây như nỗi bất an già
Ta ngó thấy rào chà cản nước
Từng hàng như nỗ lực lao đao
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nóc
Từng ngôi như mặt đất đang gào
Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam
Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn
Dưới mắt người làm tên lính nguỵ

Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng hét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích
Ví dầu ngươi gục
Vì bom đạn bất dung
Thi thể chẳng ai thâu
Nào có chi đáng kể
Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại
Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?
Ngươi há chẳng thấy sao
Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?

Ta phá lên cười, ta phá lên cười
Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?
Các việc ngươi làm
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm
Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau

Ta tự hỏi vì sao
(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)
Và ta tự trả lời
(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)
Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Chỉ vì nó phải quạt
Ta thương ta yếu hèn
Ta thương ngươi khờ khạo
Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử
Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận
Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông

2.
Chiều trên phá Tam Giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận

Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Những tủ kính tối om
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
(Sài Gòn nới rộng giờ giới nghiêm
Sài Gòn không còn buổi tối nữa)
Giờ này có thể trời đang nắng
Em rời thư viện đi rong chơi
Dưới đôi vòm cây ủ yên tĩnh
Viền dòng trời ngọc thạch len trôi

Nghĩ tới ngày thi tương lai thúc hối
Căn phòng cao ốc vàng võ ánh đèn
Quyển sách mở sâu đêm
Nghĩ tới người mẹ đăm chiêu, đứa em quái quỷ
Nghĩ tới đủ thứ chuyện tầm thường
Mà cô gái nào cũng nghĩ tới
Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh
Một cách tự nhiên và khốn khổ
Giờ này có thể trời đang mưa
Em đi nép hàng hiên sướt mướt
Nhìn bong bóng nước chạy trên hè
Như những đoá hoa nở gấp rút
Rồi có thể em vào một quán nước quen
Nơi chúng ta thường hẹn gặp
Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao
Giữa những đám ghế bàn quạnh quẽ

Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh
Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nổi
Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Của chiến tranh mà em không biết rõ
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Một điều em sợ phải nghĩ tới
Giờ này thành phố chợt bùng lên

Chiều trên phá Tam Giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi
Như những mặt trời con thật dễ thương
Sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi
Mỗi sáng trưa chiều tối đêm khuya
Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích
Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng
Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại
Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Thấy trong lòng đời nở thật lẻ loi
Một cành mai nhị độ
Thấy tình yêu như vận hội tàn đời
Để xé mình khỏi ác mộng
Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân

Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại!

3.
Chiều trên phá Tam Giang
Mày nhìn con nước xiết
Chảy băng bờ bãi ngổn ngang câm
Nghĩ tới, nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành
Mà rồi mày bỏ dở
Nghĩ tới kiếp người đang lỡ độ đường
Trên mịt mùng nghi hoặc
Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự đời nào
Còn lưu hậu chua cay hoài vọng
Nghĩ tới khu vườn ẩn cư cỏ cây khuất lấp
Căn nhà ma ám chầy ngày gió thổi miên man
Đụt tuổi già bình an vô tích sự
Như lau lách bờm sờm trên mặt sông nhăn
Cùng cái chết
Cái chết lâu như nỗi héo hon dần
Làm chính mình bực bội
Gió muôn ngàn năm thổi lẽ tuần hoàn
Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp
Và mày kinh sợ nghe nhắc điều vượt sức bình sinh
Bởi mày không đủ dạn dày trình diễn tới lui cơn thất chí
Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người
Với từng ấy tấn tuồng bần tiện
Rút ra từ lịch sử u mê
Gió thổi thêm đi, gió thổi thêm đi
Cho cỏ cây mau chết, mau hồi sinh
Mày mặc kệ

Chiều trên phá Tam Giang
Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng
Dớn dác ngó


6-1972

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Nguồn: Tô Thuỳ Yên, Thơ tuyển, Minnesota, 1995

DaiUyToThuyYen-1972
Đại úy Tô Thùy Yên ở 1 đám cưới có mặt thi sĩ Chinh Yên (phía trước), nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, nghệ sĩ Hồng Vân và Tô Kiều Ngân (15/4/1972)

ChieuTrenPhaTamGiang-bia.jpg

ChieuTrenPhaTamGiang-TTY-TTT-P1.jpg

ChieuTrenPhaTamGiang-TTY-TTT-P2.jpg

TranThienThanh-ThanhLanThanh Lan & Nhật Trường song ca: AnimatedNotesCHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG

Chiều trên phá Tam Giang
anh chợt nhớ em
nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ
đến bất tận
em ơi
em ơi

Giờ này thương xá sắp đóng cửa
người lao công quét dọn hành lang
giờ này thành phố chợt bùng lên
để rồi tắt nghỉ sớm
ôi Sàigòn Sàigòn giờ giới nghiêm
ôi Sàigòn Saigòn mười một giờ vắng yên
ôi em tôi Sàigòn không buổi tối

Giờ này có thể trời đang nắng
em rời thư viện đi rong chơi
hàng cây viền ngọc thạch len trôi
nghĩ đến ngày thi tương lai thúc hối
căn phòng nhỏ cao ốc vô danh
rồi nghĩ tới anh
rồi nghĩ tới anh
nghĩ tới anh

Giờ này có thể trời đang mưa
em đi dưới hàng cây sướt mướt
nhìn bong bóng nước chạy trên hè
như đóa hoa nở vội
giờ này em vào quán nước quen
nơi chúng ta thường hẹn
rồi bập bềnh buông tâm trí
trên từng đợt tiếng lao xao

Giờ này thành phố chợt bùng lên
em giòng lệ bất giác chảy tuôn
nghĩ đến một điều em không rõ
nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ
đến một người đi giữa chiến tranh
lại nghĩ tới anh
lại nghĩ tới anh
nghĩ tới anh…

PhaTamGiang

bar_divider

Anh Bước Rập Rình Lên Cầu Giấy

– tặng Tô Thùy Yên, bên miền cõi gió gởi tâm linh…

anh đã xa rồi thương nhớ bóng
nỗi đời xưa mới chợt mờ bay
trên vai áo lạnh còn tiếc mộng
giữa đời rong ruổi lướt tàn phai

hỏi anh mấy bữa cơm thưa nhạt
lật gối tìm mây dưới chân giường
ném câu yêu nhớ vào ruộng nát
Thắp Tạ vườn thơ trên mắt tường

rêu rao từng buổi chiều không tuổi
vỗ sóng Trường Sa trắng bốn bề
thương thay cái nước làm khô núi
một thuở bước đi để Ta Về

xé bàn tay gió trên nắng ráng
để bầy trăng ngủ khóc rân ru
anh hỡi vời xa sông biển vãng
hoàng hôn Kẻ Sĩ cuốn vàng thu

ríu rít tìm nhau bên chòi tối
dưới màu hy vọng cố nhìn rong
cuối bàn chân đất gân guốc mỏi
rã rời cơn lốc ai chờ mong

luyến tiếc làm chi đêm rét gọi
bầu mây chi chít vẫn lưu niên
phiên bản trời trao anh vẽ lối
chiều Tam Giang ấy đã triền miên…

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019

TTY-TD.jpg

bar_divider

Con Đường Bè Bạn

** bút ký của Phan Lạc Phúc **

ToThuyYen-03.jpg

Tô Thùy Yên

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gia Định. Sinh viên Đại học Sài Gòn, ban văn chương Pháp. Nhập ngũ cuối 1963, sĩ quan ngành Chiến Tranh Chính Trị cho đến 30.04.1975. Bị tập trung cải tạo hơn 10 năm. Sau đó bị bắt hai lần nữa. Tổng cộng gần 13 năm tù. Cuối 1993, qua Hoa Kỳ, định cư tại Minnesota. Làm thơ, viết văn, dịch sách, hoạt đông báo chí, xuất bản … (trích từ Tuyển Tập Thơ Tô Thùy Yên)

. . . .
Tô thùy Yên 7 tháng liền trong kiên giam tâm sự với đàn muỗi râm ran, con thằn lằn uể oải, lũ dán hôi tanh, con nhện vô tư và bức tường câm nín:
Ta khắc khoải chờ nghe
Những tiếng động của người
Tiếng động nào bất kể
Đột phá những trùng vây điếc đặc muỗi râm ran …

Ta nhìn theo
Mấy con thằn lằn uể oải
Lũ dán lào xào
Con nhện bỏ trống lưới giăng …

Ta nhìn lên những giòng chữ trên tường
Viết bằng gạch, bằng than và hình như bằng cả máu …

ToThuyYen-HaThuongNhan
Hà Thượng Nhân & Tô Thùy Yên

Các bạn tù Thanh Chương đọc thơ Tô Thùy Yên, Hà Thượng Nhân vanh vách. Như vậy là 7, 8 năm nay tôi chưa gặp lại các bạn mà chỉ gặp “tiếng nói” của các bạn. Tôi không có duyên gặp bạn trong tù. Có lúc năm 1979, 1980 ở trại Tân Lập (Vĩnh Phú) tôi ở K1, Thanh Tâm Tuyền ở K2, không gian chỉ cách nhau vài cây số mà không gặp được nhau bao giờ. Có lúc bà cụ thân sinh TTT từ trong Nam lặn lội ra thăm – bạn còn nhờ người đem sang cho tôi ít thuốc lào và một bài thơ tặng PLP. Nhà thơ Tự Do chủ lực của Sáng Tạo lại làm chyện lạ cho tôi một bài thất ngôn, bát cú. Tôi giữ bài thơ này như một kỷ niệm riêng. Bạn tôi lúc đó làm ở đội chăn nuôi, hằng ngày phải lên đồi gánh lá sắn về băm ra nuôi cá trắm. Đi làm qua khu ao cá xa xa, tôi có lúc nhớ bạn quá đã hú lên một tiếng để xem may ra có tiếng trả lời – Nhưng tiếng hú của tôi tan vào thinh không; cán bộ quản giáo nhìn tôi trừng mắt … Bạn tôi lúc đó chắc đang bận “bầm nát ân tình đều nhịp dao” (thơ Thanh Tâm Tuyền).

Nghe thơ các bạn, tôi vừa buồn vừa vui. Buồn là không có bạn tâm tình ở bên. Vui là chưa gặp nhưng thơ như thế chắc các bạn tôi còn khỏe ít ra về mặt tinh thần. Vui hơn nữa là nghiệp làm thơ của các bạn ở trong tình trạng “luyện ngục” như vậy mà thơ vẫn được tôn vinh. Thơ làm ra là để đọc, để cảm thong, để chuyển tải … Thơ không ai đọc, không ai nghe, không ai hiểu … thì chẳng bao lâu nó sẽ “chết trong long mộ tối”. Cho đến lúc ấy (1983) theo tôi hai bạn Tô Thùy Yên, Hà Thượng Nhân làm thơ bao nhiêu năm nay, thơ bao nhiêu người thuộc … mà các bạn chưa từng xuất bản một tập thơ nào. Như vậy là các bạn không in thơ lên giấy trắng, mực đen mà in vào tâm hồn mọi người. Không phải người làm thơ nào cũng được “tuyên dương” như thế. Hôm ấy có bài Mùa Hạn của Tô Thùy Yên rung động toàn thể an hem. Bài thơ như một bản “đại cáo” của lưu đày tù tội. Mùa hạn không riêng cho nông dân – mà mùa hạn của kiếp người.

Nơi đây khô hạn thực phẩm, khô hạn tình thương. “Lịch sử lên cơn dữ lạ thường” khiến cho “máu bung từ mỗi lỗ chân lông, cái chết tru rân giờ nguyệt tận”. Thiên nhiên cũng úa vàng khắc khổ – cây đa già râu tóc, trụi lá trơ cành cây cỏ lụi tàn, bậc hiền nhân quyên sinh ngoài động đá. Ngày tận thế đã điểm rồi chăng? Nhưng không – theo cái lẽ biến dịch thông thường – hay là theo cái vòng chu chuyển “nước đi ra biển lại mưa về nguồn” nên một ngày kia có cơn mưa tái tạo. Mưa rơi như một sự hồi sinh, mưa gột rửa đau thương, mưa làm mọc lên những nhành non lá mới, mưa là nguồn suối yêu thương chảy từ đầu non tới biển.
Mưa ôm choàng đất khóc thương mong
Mưa báo tin vui chạy khắp đồng
Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở
Mưa mừng trẩy hội nước trăm sông …
Ông lão mù lòa ra trước hiên
Nghe mưa cũng ngước mắt nhìn lên
Má nhăn bỗng sáng hai hàng lệ
Ông hiểu ra rồi lẽ biến thiên

Người làm thơ lưu đày được lịch sử tha, một sớm trở về quê cũ. Đây là giấc mơ của người tù biệt xứ hay là câu chuyện sẽ phải xảy ra. Chưa biết được nhưng ít khi đọc xong một bài thơ mà tâm hồn con người được an ủi vỗ về như thế, được nhuần thấm một sự yêu thương đậm đà như thế:
Nhóm lên bếp lửa đêm trừ tịch
Hát với nhau vài điệu hát vui
Nâng chén uống mừng ta sống sót
Chợt nghe nồng lệ tự đâu rơi

Lòng ta nay vẫn lòng ta trước
Vẫn chảy về con nước thủa nào
Sợi tóc mai kia dù có rụng
Ba sinh còn để nhớ cho nhau

Đất trời không có chi còn mất
Ta bước ra thân đón tuổi già
Trước mắt ta còn trăm thứ việc
Sửa nhà, chăm sóc lại vườn hoa

Những ai hôm trước từng gây tội
Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình
Tự tại, thời gian chôn chính nó
Đời lên lại mãi tựa bình minh

Sẽ lo chẳng những cho người sống
Lo cả cho người khuất mặt kia
Quen lạ bạn thù chung giấc ngủ
Chung lời thương tiếc khóc trên bia …

Người tù trở về, sau khi đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự tàn bạo của con người đã nhận ra rằng, giòng chảy chính của cuộc đời, sự cứu rỗi của con người chính là sự yêu thương không phải là thù hận – Bình minh của cuộc sống là ở đó. Tìm ra được điều này, không phải nhờ vào tài năng của Tô Thùy Yên mà chính nhờ vào tâm hồn lớn lao (grandeur d’âme) của tác giả. Đây là bản hùng văn của một cuộc đổi đời.
Nhưng trong cuộc đọc thơ hôm ấy, nhiều người trong đó có tôi không được hoàn toàn thỏa mãn. Bài thơ quá dài, quá hay mà anh em Thanh Chương không ai thuộc được hết. Người nhớ đoạn này, người nhớ đoạn kia. Bài thơ đó đi theo tôi hoài như một tấu khúc còn dang dở (Symphonie inachevée).
Dạo đầu năm 85 được về, trên con đường bè bạn tôi có lúc đã định rẽ vô thăm nhà bạn Tô Thùy Yên. Từ Hóc Môn lên, qua chợ Gò Vấp tới một cái cầu có ống dẫn nước lớn đen to nằm dài trên đó giống như một con rồng đất rồi tới một ngã ba có những viên sỏi đỏ sậm của đá ong khô, đó là lối vào nhà Tô Thùy Yên. Từ thập niên 60 tôi đã nhiều lần đến đây bù khú với bạn. Nhưng bây giờ về, đến thăm cảnh cũ người xưa, thấy lạ. Những bụi cúc tần xanh tốt dẫn lối hai bên đường, đôi khi có những sợi tơ hồng vàng óng, vương vất bên trên … không còn nữa. Nhà cũ của Tô Thùy Yên có cây vú sữa lớn. Khu gia viên nằm trong vùng cây lá thâm u … bây giờ không thấy cây vú sữa đâu. Bất giác tôi nhớ Nguyễn Gia Thiều “Phong trần đến cả sơn khê, Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”. Tôi ngần ngại trước sự đổi thay nên đã tới nhà mà không vào. Tôi biết bạn tôi chưa được về. Mình vô nhà hỏi thăm, có khi lại làm cho gia đình bạn thêm nghĩ ngợi lo lắng cho người vắng mặt.

Nhưng đến hồi cuối năm 85, người làm thơ biệt xứ Tô Thùy Yên được về – Lúc ấy trời đã sang thu thì phải. Bố con tôi đã phải mặc áo ấm trên con đường tỉnh lộ sào xạc heo may. Khi tôi đi cải tạo con gái út tôi mới có 5 tuổi. Khi tôi về nó đã 15 tuổi bắt đầu thiếu nữ. Các anh chị nó “vượt biên” hết cả chỉ còn nó ở lại với “mẹ cháu” đợi tôi. Khi tôi về, nó theo tôi đi chơi tha thẩn. Ở Hóc Môn nó không có bao nhiêu bạn. Nó theo tôi lên Sài Gòn chơi với Tr. T con gái Thanh Tâm Tuyền, hay “đi chợ” với chị Ch. Con gái bác Hà Thượng Nhân. Thôi thì bố chơi với bố, con chơi với con cũng là phải đạo. Chưa được gặp nhưng con tôi nó muốn gần chị G. con gái đầu của Tô Thùy Yên, học thật giỏi. Trong một xã hội xã hội chủ nghĩa (không có giai cấp) nhưng khi thi vào Đại Học có 15 thứ hạng. Ưu tiên hạng 1, 2, 3 thuộc gia đình cách mạng hay “chính sách” thì thi ba bài từ 7 điểm trở lên đã được “chiếu cố” vô Đại Học rồi. Con cái “ngụy quân” như con chúng tôi đứng hạng thứ 14 áp chót (hạng chót là gia đình phản động, phản cách mạng). Khi bố đi tù cải tạo về rồi thì lại lên được một hạng, hạng 13. Con cái ngụy quân muốn vô Đại Học phải đạt 21 điểm, gấp 3 số điểm gia đình chính sách thì mới vô Đại Học được. G. con gái đầu ông bà Tô Thùy Yên thừa điểm vào Y Khoa. MT con tôi, Tr.T con Thanh Tâm Tuyền và H. con trai Tô Thùy Yên chúng nó cùng học lớp 10. Mấy đứa nhỏ chắc đều suy nghĩ: Ở đây nếu muốn sống cho ra sống thì chỉ còn có cách làm như chị G.

Hơn 10 năm gặp lại bạn … thấy bạn già đi (tất nhiên rồi) mà chắc bạn thấy tôi cũng vậy. Hình như bạn có khuyết một vài cái răng thì phải, cái cười hơi trống vắng. Nhưng khóe mắt vẫn còn nồng ấm và bắt tay thật chặt. Tôi nói “đây là khách cũ … đến xem bạn làm được bao nhiêu việc rồi?” (Trước mắt ta còn trăm thứ việc, sửa nhà chăm sóc lại vườn hoa). Tô Thùy Yên cười cười mà nói “Hãy cứ từ từ nhưng mà bây giờ thì phải làm ngay việc này”. Anh chỉ tay vào một cuốn sách dày trước mặt. Tưởng bạn dịch sách (nhớ ngày xưa bạn có dịch thật kỹ cuốn Phận người (La condition humaine của André Malraux) nhưng khi tôi cầm sách lên xem thì đó lại là một cuốn sách Y khoa bằng tiếng Pháp. Anh nói mình về vừa đúng lúc. Phải giúp con nhỏ G … cho nó kịp học hỏi và nghiên cứu”.

Tôi có nói với bạn về bài thơ Mùa Hạn mà tôi không có đủ. Nhưng anh nói rằng bản thân anh cũng không nhớ hết. Con đồng đã thăng rồi đâu còn nhớ những gì mình đã nói ra. Nhưng bữa ấy Tô Thùy Yên đưa tôi đọc bài Ta về – bài thơ vừa mới làm xong khi thi sĩ lưu đày vừa trở về nguyên quán:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này …

Thật ra tôi đọc thơ Tô Thùy Yên đã lâu. Giữa thập niên 50 khi Sáng Tạo bộ cũ ra đời với những bài Cánh đồng, con ngựa chuyến tàu hay Thân Phận của Thi Sĩ. Lúc ấy ảnh hưởng của văn học Pháp đối với miền Nam còn nồng đậm. Đây là thời buổi của Buồn nôn (La nausée – J.P.Sartre) của Kẻ lạ (L’Etranger – A. Camus) hay Phận người (La condition humaine – André Malraux). Sự hiểu biết của tôi về văn học Pháp rất là hạn chế nhưng tôi có cảm tưởng rằng thời kỳ thập niên 50, 60 là thời kỳ xâm lăng của triết học vào văn học. Những đặc trưng thường thấy của thơ, của tiểu thuyết, của truyện ngắn đã bị xóa nhòa đi. Thay vào đó là những vấn nạn triết học hay những thắc mắc siêu hình. Để làm gì? đi đến đâu? tự do hay không tự do – phi lý hay hữu lý? Sống và nghĩ như thế nào cho phải? Người ta không đi tìm những nguyên nhân gần gũi mà đi tìm những căn do đầu tiên và cuối cùng của sự vật. Tô Thùy Yên là một người đọc sách chuyên cần. Cái ý thức trong sáng của tinh thần nhị nguyên đã phóng ra những cái nhìn chinh phục. Con ngựa (trong Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu) phải chăng là một cố gắng nhằm đo đạc ngoại giới.

Có đọc được thánh thư
Linh hồn tôi vẫn vậy
Tôi vẫn không thể lạy
Dù đứng trước hư vô
Đầu tôi cứng và trơn
Thượng Đế làm sao ngự
Tôi đành trốn chủ nợ
Định mệnh đòi linh hồn
Thượng Đế điềm nhiên lạ
Tôi đánh liều cười khan. (Thân phận thi sĩ)

Bài thơ mang giọng thách thức của Nietzche – đăng quang cho một cái ta Kiêu hãnh. Đây là thời kỳ Tô Thùy yên muốn trở nên một thứ “Vương tôn miền trí tuệ”. Tôi đã cảm phục, đôi khi sợ hãi những bài thơ ấy – nhưng thành thật mà nói tôi không yêu chúng. Sự cảm nghiệm một bài thơ, theo tôi, nó tùy thuộc vào tâm cảnh của từng người. Tôi là một anh học trò nhà quê ra tỉnh, tâm hồn còn vương vấn với lũy tre xanh, đình chùa, miếu mạo, căn nhà tổ, họ hàng làng nước, bờ mương, ao cá. Dù đã cố gắng lắm tôi vẫn không làm sao hiểu được “Tha nhân là hỏa ngục” của J.P.Sartre. Tôi rất sợ mình là “khách lạ” – và điều tôi ao ước là được đến gần, được làm thân, chia sẻ với mọi người.
Cái “hội u minh” thời ấy là một phong trào. Hoàng tử bi thương hay nhà thơ bị trù ếm (poète maudit) Đinh Hùng muốn đi khỏi cuộc đời này về miền nguyên thủy: “Thèm ăn một chút hương man dại – và ngủ như loài muông thú kia”. Vũ Hoàng Chương, bậc thi bá của làng thơ tiền chiến cũng bỏ thơ Say, thơ Mây nêu lên một băn khoăn triết học:
Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về …

Tô Thùy Yên ngay từ thuở ban đầu đã nghiêng về những điều thầm lặng lớn, mưu đồ đo đạc cả vô biên “ta về tắm lại going sông cũ, truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên – Tô Thùy Yên đã rất già khi còn trẻ. Già ở đây là già về tư tưởng, nên trong thơ của anh người ta thấy thiếu vắng sự lãng mạn, không có những nỉ non kể lể về một cuộc tình. Không có Kim Trọng, Thúy Kiều, cũng không có Paul và Virginie.
Vào khoảng giữa thập niên 60 có một việc, nhỏ thôi nhưng đã làm thay đổi Tô Thùy Yên. Anh bắt đầu đọc Đường Thi. Yên là một người ưa thích sự toàn hảo (gout du parfait). Anh không bằng lòng với những bản dịch. Yên muốn đọc thơ Đường bằng nguyên tác và Tô Thùy Yên học chữ Nho. “Học cho vui, chơi vậy mà”. Xuống Gò Vấp, thấy Tô Thùy Yên viết chữ Nho rất đẹp. Và đột nhiên tôi được đọc một số bài thơ mang phong cách nhất nguyên của Đông Phương. Đọc thơ trước đây của Yên người ta thấy phảng phất St J.Perse – hoặc Valery – bây giờ thấy Tô Thùy Yên “Quy khứ lai từ” như Đào Tiềm quay về nơi bản trạch. Bài thơ không còn vẻ kiêu hãnh của một ý thức chinh phục mà mang vẻ ngậm ngùi chấp nhận:

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch
Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui
Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn
Càng nhẹ tênh hênh cõi ngậm ngùi.

Tại sao lại có con còng ở đây? Con còng làm liên tưởng đến con dã tràng ngoài bờ biển. “Dã tràng xe cát biển Đông – nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì?” Phải chăng đã đến lúc Tô Thùy Yên nhận ra sự hạn chế của kiếp người, có những miền “bất khả tri” mà trí lự con người chưa với tới được. Về nơi bản trạch đối với Tô Thùy Yên có nhiều ý nghĩa. Cái nhà của Yên ở Gò Vấp là nhà từ đường bao nhiêu đời ở đấy? Cái nhà không đơn thuần là một “dụng cụ” để ở, mà nó là môt phần đời ta, là chính ta. “Cái nhà là nhà của ta – ông cố ông sơ làm ra” nên cái nhà cũng như cái vườn, cái ngõ đều là sự tích yêu thương, là những liên hệ mà ta không làm sao dứt bỏ được. Về nơi bản trạch về nơi quê nhà (phải chăng le Royaume trong l’Exil et le Royaume mà Camus mơ tưởng cũng nằm trong nghĩa đó) đã dạy ta một điều: cái mà ta tưởng nó là cái không ta (le non moi) lại chính là ta. “Mình với ta tuy hai mà một – Ta với mình tuy một mà hai”. Cái nhìn nhất nguyên nơi Tô Thùy yên đã làm cho thơ anh từ đó về sau yêu thương hơn, thấm đượm hơn nhiều.
Nhưng có lẽ những năm tù cải tạo đã giúp chúng ta nhìn rõ cuộc đời hơn. “Ví thử cuộc đời bằng phẳng cả” chúng ta chưa chắc nhận ra chuyện ấy. Những chuyện nhỏ nhặt nhưng có giá trị rất cao. Không đi tù, không thường xuyên đói khát chúng ta làm sao biết được hạt cơm nó quý như thế – không xa vắng cửa nhà, chúng ta làm sao hiểu được cái thắm thiết trong vòng tay vợ, cái âu yếm trong cái hôn con. Người tù lưu đày, ngày trở về cảm ơn trời đất, cảm ơn vợ con, cảm ơn hoa, cảm ơn lá cỏ.

Ta nhìn lá cỏ long mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân …

Tôi đi về nhà có mang theo “Ta về”. Tôi đọc thơ bạn cho nhà tôi nghe:
Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đá trổ bong
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông
Ta gợi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Từ kiếp nào xưa tưởng lạc nhau
Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm

Đọc đến đoạn này, nhìn lên thấy nhà tôi đã nhạt nhòa nước mắt.

Cuối năm 1990, ngày thứ sáu 13 tháng 10. Ngày xấu “đi chơi cũng thiệt lọ là đi đâu”. Tôi quanh quẩn ở trong nhà. Chợt có tiếng xe Honda thắng xiết trước chiếc cầu nhỏ, bắc qua con lạch vào căn nhà Hóc Môn của tôi. Nhìn ra thấy H. con trai Tô Thùy yên đang hấp tấp dắt xe vào. Tôi chạy ra, thấy vẻ hốt hoảng của H. nên vội hỏi “có chuyện gì vậy cháu? – “ Bố cháu vừa bị bắt rồi” – H. thảng thốt nói tiếp: “Trước khi lên xe công an, bố cháu nói nhỏ: đi báo các bác nên cháu vội chạy lên đây”. Nhà tôi bảo H. ở lại ăn cơm cái đã nhưng H. nhất định ra về “Để cháu phải đi ngay cho kịp vài nơi nữa …”
Như vậy là Mùa Hạn – Ta về thơ Tô Thùy Yên – Tâm sự với Bạch Cư Dị thơ Hà Thượng Nhân – Bài hát Tự Do – Trăng tù – thơ Thanh Tâm Tuyền, một bài từ của bạn già người viết sử Lam Giang cùng với một số bài viết của tôi đã được “phần thư” ngay chiều hôm đó. Lúc này Thanh Tâm Tuyền cũng như Hà Thượng Nhân đã HO đi Mỹ. Bạn bè thân thiết gần đây chỉ còn Tô Thùy Yên. Bây giờ bạn ta bị bắt rồi. Bao giờ bao giờ gặp bạn ta trở lại.

PhanLacPhuc-KyGiaLoRang-1

Phan Lạc Phúc
(Khởi Hành số 26 Tháng 12, 1998)

bar_divider

Trường Sa hành của Tô Thùy Yên

** NGUYỄN HƯNG QUỐC **

Trong bài “Biển Đông: Quyền lợi quốc gia và tinh thần dân tộc”, tôi có in lại trong phần chú thích, bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Đăng Khoa. Bài thơ ấy được nhắc nhở nhiều và thường xuất hiện trong các tuyển tập thơ ở Việt Nam. Nhưng thành thực mà nói, nó không hay, hoặc nếu hay, chỉ hay ở mức vừa phải. Không có gì đặc sắc. Thơ viết về biển đảo của Việt Nam, cho đến nay, hay nhất có lẽ là bài “Trường Sa Hành” của Tô Thùy Yên. Nhân lúc mọi ánh mắt đều hướng về Biển Đông, đặc biệt Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta cũng nên đọc lại bài thơ này.

Bài thơ có ý nghĩa lịch sử: được sáng tác vào tháng 3 năm 1974, hai tháng sau ngày Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa lúc ấy thuộc Việt Nam Cộng Hòa – là một dấu mốc đáng nhớ. Nó lại có ý nghĩa chính trị: nối liền quá khứ với hiện tại, miền Nam lúc trước và cả nước sau này, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, những người lính ngày xưa và những người còn tha thiết đối với vận mệnh của đất nước bây giờ. Đặc biệt, nó có giá trị thẩm mỹ: ngay cả khi gạt bỏ hết hai ý nghĩa trên, “Trường Sa Hành”, tự nó, là một bài thơ hay. Đủ hay để thách thức không những thời gian mà còn cả những âm mưu vùi dập tàn bạo của nhà cầm quyền Việt Nam kể từ năm 1975 đến nay.

Xin nói một chút về Tô Thùy Yên: Theo tôi, ông là một trong những nhà thơ lớn nhất của miền Nam trong giai đoạn 1954-75, hơn nữa, cũng là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam nói chung trong cả nửa sau thế kỷ 20.

Thơ ông có một số đặc điểm đáng chú ý.

Một, Tô Thùy Yên viết ít và xuất bản rất muộn: Tập thơ đầu tay của ông, Thơ tuyển, gồm 37 bài, được xuất bản lần đầu năm 1995 (1), tức khoảng 40 năm sau khi ông có thơ đăng báo, tính trung bình mỗi năm ông làm chưa tới một bài. Vậy mà, ngay từ trước 1975, ông đã nổi tiếng và được nhiều người đánh giá rất cao.

Hai, nét nổi bật nhất trong phong cách thơ Tô Thùy Yên là sự giao thoa: thứ nhất, giao thoa giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và cách tân. Đó hẳn là một sự kết hợp rất nhiều người mong muốn. Nhưng không phải ai cũng làm được. Ngay cả Thanh Tâm Tuyền dù từng tuyên bố, trong bài “Một bài thơ”: “không đa đa siêu thực / thẳng thắn / khởi từ ca dao sang tự do” nhưng thơ ông vẫn nghiêng hẳn về phía hiện đại hơn truyền thống. Ở nhiều người khác cũng thế: hoặc nghiêng bên này hoặc lệch về phía bên kia.

Chỉ ở Tô Thùy Yên, người ta mới thấy được sự cân bằng. Cũng xin nói thêm: Ở đây, tôi chỉ ghi nhận một đặc điểm chứ không phải đánh giá. Thứ hai, sự giao thoa giữa cảm xúc và tư tưởng: từ cảm xúc đến hình tượng trong thơ ông đều thấp thoáng chút màu sắc siêu hình với những nghĩ ngợi về cuộc sống và về con người; nói chuyện với ai và về cái gì, với ông, dường như cũng là một cuộc trò chuyện với hư không, với cái mênh mông của trời đất và với cái vô tận của thời gian. Có lúc ông như một Trần Tử Ngang lạc loài ở thời hiện đại. Hai sự giao thoa ấy làm cho thơ Tô Thùy Yên vừa quen vừa lạ, vừa bình dị vừa sâu sắc, vừa rất dễ đọc vừa thấp thoáng rất nhiều bí ẩn, vừa sáng sủa vừa thăm thẳm đến không cùng.

Bài “Trường Sa hành” dưới đây có thể được xem như một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Tô Thùy Yên. Tiêu biểu về thể thơ: Mặc dù Tô Thùy Yên thử nghiệm khá nhiều hình thức, từ lục bát đến tự do, nhưng thể thơ tạo nên phong cách đặc thù và thể hiện cái tài hoa cao ngất của ông, theo tôi, là thể bảy chữ: sau năm 1954, không có nhà thơ Việt Nam nào có nhiều bài thơ bảy chữ hay bằng ông.

Tiêu biểu về tư tưởng: vẫn là một cái “hữu hạn” khao khát hỏi han “Hiu Quạnh Lớn”. Tiêu biểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng: Vẫn là những vật bình thường, nhưng dưới ngòi bút của ông, bao giờ cũng có vẻ gì như khốc liệt, từ “sóng thiên cổ khóc” đến “biển tang chế”, từ “đám cây bật gốc chờ tan xác” đến cảnh “trùng dương khóc trắng trời”, từ “mặt trời chiều rã rưng rưng biển” đến “vầng khói chim đen thảng thốt quần”.

Tiêu biểu trong cách liên tưởng: Dùng tâm lý để đo lường khoảng cách không gian (“Bốn trăm hải lý nhớ không tới”), dùng cảnh vật trong không gian để nghĩ đến thời gian (“Thời gian kết đá mốc u tịch”), và dùng thời gian để nói đến những sự “nhỏ nhoi” và những “nỗi tả tơi”.

Tiêu biểu trong ngôn ngữ: Lúc nào cũng thật nhiều hình dung từ và hình dung từ nào cũng mạnh và cũng gắt. Đảo thì “chếch choáng”, gió thì hoặc “miên man thổi” hoặc “thổi trùng điệp”, lòng thì “rách tưa”, khóc cười thì “như tự bạo hành”, mây đỏ thì đỏ đến “thảm thê”; nắng thì “chói chang như giũa”, còn ánh sáng thì “vang lừng điệu múa điên”.

Tất cả đều mang dấu ấn của Tô Thùy Yên. Không lẫn với ai khác.

*
TRƯỜNG SA HÀNH

Toujours il y eut cette clameur,
Toujours il y eut cette fureur…
Saint John Perse
(Exil)

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn

Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảnh đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi! lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

3-1974

Chú thích: (1) Tập thơ này, sau đó, đã được phổ biến dưới ấn bản điện tử trên Talawas

NguyenHungQuoc

Nguyễn Hưng Quốc

bar_divider

Đọc “Trường Sa Hành” của Tô Thùy Yên khi biển không yên!

** đoàn xuân thu.melbourne **

Trung Cộng từ khi chiếm được Hoa Lục năm 1949, bắt đầu giương oai diễu võ! Với đầu óc nông dân đặc sệt cả mấy ngàn năm, triều đại nào, hoàng đế Trung Hoa nào bao giờ cũng nghĩ tới giành giựt đất đai, lấn chiếm ao hồ của hàng xóm nhỏ hơn, yếu hơn mình. Cứ chờ thời cơ rồi ngày gặm thêm một chút.

Như Việt Nam từ thời lập quốc tới giờ núi liền núi, sông liền sông với “chú Ba” xấu bụng này chẳng lúc nào được yên. Trên bộ thì Ải Nam Quan rồi thác Bản Giốc; dưới biển thì Hoàng Sa rồi Trường Sa…!

Tình hình Biển Đông luôn nổi sóng về cái vụ giàn khoan Trung Cộng lù lù xuất hiện ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm người viết lại nhớ tới bài Trường Sa Hành của nhà thơ Tô Thùy Yên viết cách đây đã bốn chục năm trời ròng rã.

ToThuyYen-TranhDinhCuong-03.jpg.png

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938, tại Gò Vấp, Gia Định, học Petrus Ký và Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ban Pháp Văn, gia nhập quân đội khóa 17 Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Đến 1975, mang lon thiếu tá Chiến Tranh Chính Trị, trưởng Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm Lý Chiến. Ông bị Cộng Sản bắt đi học tập cải tạo gần 13 năm; rồi đi định cư ở Houston, Texas, Hoa Kỳ năm 1993.

Trước bài Trường Sa Hành của ông, cũng có những nhà thơ khác làm thơ có tựa là “Hành” như: bài thơ Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, năm 1940…

Nhưng “Hành” nghĩa là gì? Có người cho đó là một thể thơ cổ. Song người viết lại nghiêng về một cách cắt nghĩa đơn giản hơn: Hành là đi, là đến trong từ hành trình, du hành, vi hành, bộ hành hay hành khách… Nhà văn đi và viết thì gọi là ký. Nhà thơ đi và làm thơ thì gọi là Hành. Đi Trường Sa làm thơ thì đặt tên bài thơ là Trường Sa Hành! Chắc vậy?!

Trường Sa Hành coi như một nhựt ký viết dưới dạng thơ khi Tô Thùy Yên đến Trường Sa năm 1974 vào Tháng Ba khi gió mùa Đông Bắc thổi. Chuyến đi này được thực hiện hai tháng sau khi Trung Cộng xua tàu hải chiến rồi chiếm Hoàng Sa ngày 19 Tháng Giêng, năm 1974, khiến 75 người lính anh hùng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong lúc bảo vệ biển đảo quê mình.

Trường Sa cách đất liền hơn 400 hải lý, nhà thơ đến bằng tàu Hải Quân và vẫn còn say sóng cũng y như những người lính thú trấn thủ trên đảo (không phải tất cả là ngư dân) trước khi đến Trường Sa có thể chưa biết biển bao giờ?!

Tô Thùy Yên, dân Gò Vấp, dân Sài Gòn, nên đêm đầu ra Trường Sa say sóng, cứ bồng bềnh, cứ tưởng đảo là con tàu vẫn tiếp tục trôi đi. Tả thực và xuất sắc!

Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

Trường Sa là quần đảo, tên tiếng Anh là Spratly Islands, đảo Trường Sa lớn là một đảo trong quần đảo này; lúc nhà thơ đến, không có dân; chỉ có lính… Đảo san hô đứng thứ tư về diện tích (0.15 km2).

Mãi khi Trung Cộng lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, quân đội Việt Nam Cộng Hòa mới đưa lính thuộc Tiểu Đoàn 371 Địa Phương Quân (ĐPQ), thuộc Tiểu Khu Phước Tuy, ra trấn thủ trên các đảo: Nam Yết, Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn và đảo Trường Sa lớn.

Nhà thơ đến chào, hỏi han (lính) đảo Hiu Quạnh lớn (có thể là đảo Trường Sa lớn mà nhà thơ tự mình đặt tên! Tôi đoán vậy vì nó viết Hoa?!)

Và có thể vì nhà thơ chỉ là khách, lại là quan “văn nghệ,” đến chơi vài bữa rồi đi… trong khi những người lính gian khổ ở lại… nên bước đầu gặp nhau không vồn vã lắm. Những người lính đó làm “ngơ” cũng phải thôi! Tới đây là cực, là vất vả hết mức rồi thì việc gì phải sợ “quan” nữa chớ?!

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
Ta hỏi han hề, Hiu Quạnh lớn!
Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ.

Người sống trên đảo năm ấy là lính Địa Phương Quân, mỗi đảo chỉ khoảng 20 người, từ đất liền ra đảo chẳng bao lâu, nên chưa có ai chết thì hồn ma quỷ làm sao mà có?! Thiệt là hiu quạnh! Thảo mộc cây cối thì hồi nhỏ tới giờ mới thấy; nên hỏng biết tên gì?

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ,
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.

Cách bờ xa quá, nơi những người lính thân cô, thế cô, tuân lịnh trên, xa nhà, xa cửa, xa vợ, xa con, xa cha, xa mẹ, anh em đến đây để giữ đảo quê mình. Xưa ai làm công chức hay quân nhân mà bị đổi đi đảo như Côn Sơn ngay cả Phú Quốc đều mang mặc cảm tự ti là mình bị đi đày, bị bỏ quên giữa trùng trùng sóng vỗ. (Dù sau ba tháng, sẽ có đại đội từ trong đất liền ra thay thế!)

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.

Vậy mà những người lính tưởng chừng như bị bạc đãi, bị lạc loài, bị bỏ quên, không ai nhớ đó lại can đảm đánh nhau với Tàu Cộng trang bị hùng hậu hơn nhiều để bảo vệ biển đảo quê mình rồi ngả xuống… nên:

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Dù gì đi chăng nữa, đã sanh ra làm dân Việt nếu phải chết vì đất nước thì chết. Lớp nầy rồi lớp khác!

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần,
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.

Để đêm về sống như người nguyên thủy bên đống lửa, chờ mồi… rồi nhậu!

Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.

Rồi văn nghệ, ca hát, không có ‘quan’ và ‘lính’ chỉ có ‘qua’ và ‘chú em’. Rặt ròng Nam Bộ!

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Rượu lâng lâng sầu viễn xứ rồi nhớ tới những người đã được gởi ra đây lúc trước, chiến đấu rồi chết một cách quạnh hiu mà quân tiếp viện đâu… chờ hoài chẳng thấy… như đã từng xảy ra ở Hoàng Sa chỉ mới hai tháng trước.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.

Người lính đảo, hầu hết là trẻ, là hoa niên, đến đây vì đất liền, chạm địch, đối mặt với quân thù thì xin đừng bỏ chúng tôi lại chiến đấu một mình trên “Hiu Quạnh lớn” đồng bào ơi!

Ngày trắng chói chang như giũa.
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên.

Tuổi hoa niên trong binh lửa là vậy đó. Hy sinh phận mình cho đất nước tồn sinh.

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

Nhà thơ đem “nỗi niềm” kia hỏi Trời và hiểu ra rồi! Hiểu một điều là đất này, biển này, đảo này do những người lính rất bình thường, không phải là quan quyền chi hết… gian khổ giữ lấy! Và nhà thơ cúi đầu khâm phục sự gian khổ hy sinh kính cẩn gọi những người lính vô danh đó trong bài thơ của mình bằng chữ “Người,” trang trọng viết hoa.

Năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, Hải Quân ta chống trả quyết liệt thì những nhà thơ quốc doanh miền Bắc chịu nhục, cúi đầu câm lặng. Sau 1975, Bắc quân chiếm được miền Nam thì lại tự cao, tự đại… [dù trong thâm tâm cũng phải cúi đầu khâm phục bài thơ này do một nhà thơ tài hoa Nam Bộ duy nhứt trong nhóm Sáng Tạo (chủ lực có nhà văn Mai Thảo và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền…viết…)] Nhưng vốn tánh nhỏ nhen, vẫn còn ráng “khoèo” một cái là bài thơ Trường Sa Hành của nhà thơ miền Nam Tô Thùy Yên hay… nhưng thiếu tính chiến đấu.

Tính chiến đấu gì đây? Đâu phải cứ là “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, súng ngoài xa chen khúc quân hành ca, đường vinh quang xây xác quân thù…”

Tính chiến đấu không phải là ngư lôi, là tàu chiến, là tàu ngầm Kilo! Đôi khi có rồi mà chưa chắc đã dám “chơi”… vì nhát?!

Tính chiến đấu trong bài Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên là gian khổ của người lính trong trùng trùng gió mùa… khắc nghiệt, nắng cháy đến phỏng da vào mùa khô! Còn mùa mưa bão, những cơn bão nhiệt đới đi qua mạnh đến mức dường như thổi bay luôn cả đảo!

Thiên nhiên là vậy, khắc nghiệt như vậy, vẫn chịu đựng để giữ biển đảo quê mình… Rồi quân thù đến, đánh tới cùng, dù biết rằng chấp nhận ra đây là nếu đụng trận là chỉ có chết chứ còn biết rút đi đâu, còn ai tiếp viện? Đảo mà!… Xa đất liền quá! Hỏng lẽ giơ tay, buông súng mà đầu hàng Tàu Cộng? Hai tháng trước khi nhà thơ đến, hải chiến đã xảy ra rồi đó ở Hoàng Sa. Đã có hy sinh! Biết vậy nhưng không có sợ… Dà! Tính chiến đấu ở đây đó thưa “chư vị” thi sĩ quốc doanh miền Bắc!

Mỗi người đọc thơ đều có thể hiểu cách khác nhau! Càng nhiều cách hiểu càng tốt! Vì một bài thơ hay như một cái kính vạn hoa, mỗi lần đọc lại bài thơ thì tìm ra cái mới, cái hay, cái lạ là lần đọc trước mình chưa tìm thấy, chưa hiểu hết. Như cái kính vạn hoa, mỗi bức hình tuyệt tác chỉ là những hạt thủy tinh được sắp xếp, như những con chữ được sắp xếp trong thơ, lắc lên lại hiện ra hình ảnh khác… rực rỡ muôn màu!

Người viết không phải là nhà phê bình văn học, mạo muội viết ra những điều mình “cảm” về bài Trường Sa Hành của một tác giả nổi tiếng như nhà thơ Tô Thùy Yên là một việc làm mạo hiểm vì dễ bị chê là dốt chẳng hiểu gì thơ.

Tuy vậy, ai chê thì chê… mình hiểu tới đâu hay đó, viết ra chia sẻ cùng bạn đọc thân mến vì trộm nghe có người phê rằng bài thơ hay nhưng không có sức chiến đấu làm mình “tức,” mình “quạu” lên, “quạt” cho nó một trận cho đã tức!

Bài thơ này viết cách đây đã 40 năm vẫn còn đứng vững và chắc rằng sẽ còn đứng rất lâu vì một lẽ đơn giản là nó hay.

Biển Đông không yên và chắc mãi mãi không yên. Mỗi lần biển không yên… lại đọc Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên để yêu nước mình thêm. Tôi xin cảm ơn ông!

đoàn xuân thu.melbourne – tháng 5, 2019

bar_divider

Tâm thức khuất dạng của thơ

Tô Thùy Yên

ToThuyYen-02

I.

Năm đó, giặc Trung Quốc bất thần mở mặt trận ồ ạt tấn công vào 8 tỉnh miền Bắc nước ta. Nửa khuya, Công an Cộng sản Việt Nam lùa tất cả những người tù đày của chế độ miền Nam từ những vùng thượng du và trung du lên những chiếc xe đò khẩn cấp trưng dụng, chạy bán mạng về vùng Thanh Nghệ Tỉnh, tức Liên Khu Tư cũ, đất ẩn trú một thời của những Nguyễn Đức Quỳnh, Đào Duy Anh, Hữu Loan, Phạm Duy và ban hợp ca Thăng Long, của những ngày toàn dân kháng chiến chống Pháp cũ. Tại một trại giam ở Nghệ Tĩnh, ẩn khuất trong Trường Sơn, tôi gặp lại người bạn vong niên là nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân, giữa đông đảo những bằng hữu thất tán khác. Trong một lần trò chuyện, nhà thơ Hà Thượng Nhân ngỏ ý khát khao được đọc thơ. Tôi hoàn toàn thông hiểu nỗi khát khao đó của Hà tiền bối.

Bởi tôi cũng hằng khát khao ngày đêm như vậy. Nên một hôm, tôi nỗ lực vận dụng trí nhớ đã nhiều hao kiệt của mình ghi lại toàn bộ một kiệt tác khá dài của thi hào Đỗ Phủ. Đó là bài Đồng Cốc Huyện Chung Cư Thất Ca, gồm bảy khúc ca viết theo lối cổ phong, trong đó thi hào mô tả thời thế loạn ly, người phải rời bỏ quê nhà, thất lạc vô âm tín đám em trai, em gái, nay lê tấm thân tàn bệnh tật, đói kém nơi chướng khí sơn lam, chỉ còn trò chuyện cùng con rắn lớn nơi đầm hoang. Bài thơ đó, tôi ghi lại hoàn toàn bằng Hán tự. Cụ Hà đọc lại bài thơ đó, xúc động, cố gắng chuyển dịch thành thơ Việt Nam để cho nhiều bạn khác không am tường chữ Hán cùng được thưởng thức. Rủi ro cho cụ là có một tên chỉ điểm nào đó đi thóc mách, đồ đạc của cụ bị lục soát, bài thơ tang chứng bị tịch thu nên cụ bị Ban An Ninh trại liên tiếp mấy ngày gọi lên làm việc.

Theo quan điểm của trại, rõ ràng là tên Đỗ Phủ này hoàn toàn không chịu an tâm phấn khởi cải tạo, oán thán chính sách, bôi bác chế độ, tên Đỗ Phủ này quả là một tên phản động bẩm sinh, cho đến thời điểm ồ ạt của ba dòng thác cách mạng thế giới toàn thắng mà vẫn còn ngoan cố chưa chịu giác ngộ, hối cải. Cán bộ lãnh đạo yêu cầu cụ Hà phải thành khẩn khai báo tên Đổ Phủ là bí danh của ai, thuộc đội nào, lán nào, liên hệ như thế nào với cụ. Mãi sau này nhớ lại câu chuyện đó, tôi vẫn còn thử nghĩ nếu ở vào trường hợp của cụ Hà, tôi sẽ phải trả lời như thế nào để hương hồn của thi hào Đỗ Phủ khỏi tủi hổ. Có thể tôi sẽ trả lời: Đổ Phủ là danh hiệu của một con người xứng đáng, ông hiện diện ở mọi đội, mọi lán, một nơi chốn của nhân loại lầm than, ông là người rất đỗi thân thiết của một số khá đông chúng tôi.

II.

Đối với đa số người đời, thông thường, thơ nói riêng, văn học nghệ thuật nói chung là một thứ gì đó rất ư phù phiếm, chẳng hề mang lại ích lợi cụ thể thực tiễn nào cho cuộc sống hằng ngày đầy dẫy những vật vã, tất bật. Chắc chắn Platon không phải là người đầu tiên cũng không phải là người cuối cùng trong lịch sử muốn tống xuất nhà thơ ra khỏi cộng đồng loài người dù cho rằng Plato cũng còn một chút ưu ái là choàng cho lấy có lên đầu nhà thơ một vòng hoa tưởng thưởng. Do đó, dường như chẳng có mấy người làm văn học nghệ thuật nào, nhất là nhà thơ lại chẳng mang sẵn không nhiều thì ít cái mặc cảm mình là kẻ thừa thãi, là kẻ ăn bám trong xã hội loài người quần quật đầu tắt mặt tối. Rõ ràng lao động nghệ thuật, nhất là lao động thi ca, gần như chẳng được xã hội lưu tâm bao nhiêu và đánh giá đúng mức. Và cũng vì cái mặc cảm về sự vô bổ đó của thơ nên đã có một số không ít những người làm thơ đã muốn dĩ thi tải đạo, làm những bài thơ giáo huấn tuyên truyền luận giải thuyết phục, để thấy mình cũng như thơ có được một mục đích lợi ích xã hội thiết thực.

Tất nhiên cũng không hiếm những chế độ chính trị đã tận lực góp thêm phần tạo thành dầy đặc cái mặc cảm vô dụng đó nơi người làm thơ để dễ dàng sử dụng hắn như một công cụ khá cần thiết cho chúng, và khi đã ưng chịu như vậy thì người làm thơ một cách mặc nhiên đã làm một công việc hoàn toàn khác biệt với công việc làm thơ, đã tự mình chối bỏ danh xưng thi sĩ.

Một chế độ chính trị bao giờ cũng bắt buộc phải chứng minh bằng cách này hoặc cách khác. Còn thơ tự bản thân nó chẳng cần chứng minh nó là thơ, một thế giới cảm xúc thế thôi. Sự thiết thân gắn bó của thơ đối với con người, cái lý do tồn tại chính đáng cao cả đó của thơ sẽ phải chỉ tìm thấy được ở một nơi chốn nào khác, và nơi chốn đó là hồn thơ của chính người đọc. Do đó, đã xảy ra điều nghịch lý là khi nhà thơ tự đặt trước cho mình một mục đích lợi ích thực tiễn xã hội nào đó, thì đó cũng là lúc nhà thơ chẳng còn lấy chút lợi ích nào nữa cho đời sống. Tuy rằng, trên thực tế, một thực tế mà người đời ít có dịp nhận ra một cách phân minh, chính xác là thơ, cho dù có bị khước bỏ, hắt hủi, lãng qưên đến đâu đi nữa, vẫn luôn luôn hiện hữu, kết liền một cách thiết thân hình bóng với con người, với cuộc đời như một người tình cực kỳ bất hạnh của định mệnh ràng buộc, chẳng thể để dễ dàng xa lìa, để bỏ.

Bởi lẽ con người nào cũng đều tàng chứa trong tâm thức sâu thẳm của mình cái hồn thơ bàng bạc, chung đồng và vĩnh viễn. Cái hồn thơ đó trường kỳ nghi phục, bất động đâu đó, khó thể nhận biệt trong những lúc bình thường của cuộc sống, để rồi trong những thoáng cơ duyên nào bất chợt nhất, nó lại xuất đầu lộ diện ngự trị, điều động con người theo những luật tắc riêng biệt vừa rộng rãi mà cũng vừa nghiêm nhặt của nó. Và kinh qua những lần chứng nghiệm thơ như vậy, con người bỗng nhận thức được như một đốn ngộ về một nghịch lý: thơ, với tất cả những gì mà người đời cho là những khuyết phế vốn dĩ của thơ, lại cũng là một phương thức nhận thức đặc biệt cùng với những phương thức nhận thức khác của con người triền miên theo đuổi công cuộc tìm kiếm những sự thật lẩn khuất chung quanh mình, ở trong mình.

Và thơ, tội nghiệp thay, cũng là đứa con nhờ vả được đã dẫn dắt người cha mù lòa đi sâu vào những cõi u uẩn huyền nhiệm tuyệt vời và chính những đứa con sáng sủa hằng được trọng vọng khác của trí tuệ con người chẳng tài nào tiếp cận.

III.

Phải, ở những lằn ranh cuối cùng mà tôn giáo, triết học, khoa học đã phải đứng lại, thơ, vâng, chỉ có thơ, vẫn nhẹ nhàng tiến bước, xông pha, bay lượn, vùng vẫy. Lúc đó, những lúc đó, con người chợt cảm nhận rằng mình phơi phới nhẹ nhàng như đã được giải phóng khỏi những nặng nề đè ép thường nhật, rằng mình đã thật sự hòa nhập vào một đời sống có khi còn chính đáng hơn cả cái đời sống mà mình vẫn thường lầm tưởng là duy nhất chính đáng, một đời sống khác nữa không hẳn là không xác thực, một đời sống khác nữa ở ngay trong cõi sâu cùng thăm thẳm nhất của chính đời sống. Những lúc đó, con người nương thả theo thơ, sống trọn vẹn là con người với đầy đủ các tính cách kỳ diệu lạ lùng mà bình thường chưa từng nghe thấy có, tưởng chừng chẳng thể có. Bởi lẽ hồn thơ chính là cái phần u ẩn lẩn khuất mênh mông tuyệt đối của hồn người, nó chính thị là hồn người trong ý thức sau cùng hết của con người.

Có thể nói mà không sợ quá lời rằng khó lòng tưởng tượng một con người còn có thể là con người nếu như con người đó, một cách giả tưởng, tự mình hoàn toàn tước bỏ cái hồn thơ của mình, tự mình hoàn toàn tước bỏ khả năng, tư duy xúc cảm nhân loại của chính mình. Bởi lẽ, thơ, những lúc đó, mặc nhiên trở thành thi sĩ theo định nghĩa cao cấp nhất của danh xưng: Kẻ tạo dựng một thi cảm, một cách thức nhìn thấy độc đáo về cái thế giới vừa ngoại quan và cũng vừa nội quan mà chính mình đang sống.

Thơ chính là một thị cảm dù được thể hiện theo kỷ luật riêng biệt của bất kỳ trường phái hay khuynh hướng thi ca nào, và nếu như bài thơ nào không truyền đạt được những khêu gợi phải có nhằm đánh thức thôi thúc được một cách mãnh liệt cái hồn thơ ẩn náu bất động nơi người đọc để hình thành một thi cảm nào đó, chắc chắn bài thơ đó đương nhiên không phải là thơ.

Tất nhiên, khi làm bài thơ, phần người làm thơ tận lực cố gắng phần mình nữa trong việc thể hiện được trọn vẹn cái hồn thơ chung đồng của cả đôi bên. Đó chính là chỗ lớn lao đích thực của thơ. Đó chính là lẽ tồn tại xứng đánh của thơ. Hiểu được như vậy, làm được như vậy, người làm thơ mới có thể ngẩng mặt với đời, nhận lấy danh xưng thi sĩ, không hổ thẹn về những đóng góp độc đáo của mình đối với xã hội, đối với lịch sử.

Đặc biệt, trong những tình huống cực kỳ chông chênh, nghiệt ngã, sinh tử mà chính con người đã bị đày đọa dìm đắm vào đó, bị đặt để trước nguy cơ thường trực của sự trấn lột chính cái nhân phẩm còn sót lại của mình, thơ, hơn bao giờ hết, đã chứng tỏ một cách mãnh liệt cái khả năng siêu tuyệt gần như là tôn giáo của thơ. Trong những tình huống đó, rất nhiều người đã nương tựa vào thơ, để mà gìn giữ lấy mình, để mà sống sót với tư cách là con người, gầy dựng cho chính mình và cho cả bằng hữu cùng cảnh ngộ một thế giới ánh sáng, một thế giới niềm tin giữa một thế giới tối tăm, cùng mạt và hủy diệt.

Ở đây, tôi không hề muốn nói thêm qua về cái bản chất của thế giới tù đầy đó. Trong thế giới đó, nhiều con người thất trận của một cuộc chiến đã tạm thời pjải ngã ngũ như vậy từ đất đứng, danh vị, thậm chí đến cả sinh mạng của mình, chỉ còn lại mỗi một phần duy nhất tạm thời chưa thể bị tước đoạt hoàn toàn, đó là nhân phẩm, và niềm tin của chính mình.

Chúng tôi, mỗi người một cách, đều phải ý thức một cách rõ ràng rằng đó mới chính là nỗi sinh tử cốt tủy, đích thực của chính mình, rằng không thể để cho con người trong chúng tôi bị bức tử, ô nhục, rằng đó chính là cái phần mà chúng tôi bắt buộc phải gìn giữ bảo vệ bằng mọi giá, kể cả bằng mạng sống của mình. Lúc đó, một số không nhỏ chúng tôi đã tìm thấy được một sự trợ lực thần thánh. Lúc đó, tôi nghiệm rõ một điều hết sức thông thường như một sự thật cổ lỗ mà bình thường chẳng bao giờ mình để ý đến về thơ.

Thơ là hình loại văn nghệ đầu tìên của con người, khi con người không có gì cả trong tay, và thơ chắc chắn cũng là loại văn nghệ cuối cùng của con người khi con người chẳng còn gì cả trong tay. Thơ sẽ còn hiển hiện tồn tại rạng rỡ với con người, nếu mà con người còn ngôn ngữ, còn tấm lòng, còn ký ức, còn là con người trong cái ý niệm cực kỳ cao cả đầu tiên và cuối cùng của mình.

Thơ, một cách mãnh liệt, đã trở thành sự sống không thể bị hủy diệt của cái ý niệm đó. Thơ còn con người còn. Tự bản thân, tôi vẫn quan niệm rằng văn nghệ cũng y như mọi thứ khác trên đều phải có những cấp độ cao thấp, lớn nhỏ của nó. Có những thứ văn nghệ ở cấp độ thấp nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát. Chắc chắn không cần phải nói thêm, chúng ta đều thấy hiểu rằng trong hoàn cảnh lúc đó của chúng tôi, chúng tôi đã nhận chân ra cấp độ cao nhất của văn nghệ.

Lúc đó, thơ đã trở thành một thế giới bất khả xâm phạm, bất khả hủy diệt để con người chúng tôi được nuôi dưỡng tồn tại. Đó là một thế giới vô hình nhưng có thật, thật như một thế giới hữu hình nào. Cám ơn ngôn ngữ của loài người, cám ơn thơ của loài người.

Thế giới của chúng ta không chỉ hẳn là một thế giới có mặt của những con người thân quen, từng gặp gỡ ngoài đời, mà còn là một thế giới có mặt những con người chưa từng gặp gỡ ngoài đời nhưng rất đỗi quen thân. Chắc chắn trong thế giới của chúng ta vẫn hằng lui tới hình bóng của một Khuất Nguyên tiều tụy lang thang bên dòng sông Mịch La, một Lý Bạch tiêu sái nơi một quán rượu của Hàng Châu, một Holderlin quằn quại trong thư phòng khuya khoắt ở Horburg, một Nguyễn Du não nề trở lại Thăng Long trong một ngày đông rét mướt, một Nguyễn Gia Thiều héo hắt ngồi bất động nơi Hồ Tây, một Nguyễn Trãi đạt ngộ giữa vùng cây cỏ Côn Sơn … Những con người đó đã một lần đi khuất dạng trong lòng ta …

Cám ơn những con người đó đã đến trong thế giới riêng tư của chúng ta, ở lại đó, bầu bạn thắm thiết cùng chúng ta để chúng ta được đỡ xót xa thương lấy mình hơn nữa, để con người chúng ta còn được tồn vinh xứng đáng.


Tô Thùy Yên

Bài nói tại Seattle Public Library ngày 26 tháng 7 năm 1997

TTT-CT-TTY-CTT
Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng – 1993

bar_divider

Nhà thơ Tô Thùy Yên, Sáng Tạo và Hậu Sáng Tạo

** Trần Hoài Thư **

Ba trụ cột chính cổ xúy cho nghệ thuật mới, khuynh hướng mới trong thi ca đã có bài rất nhiều trên Sáng Tạo là Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Nguyên Sa. Tuy nhiên chúng tôi chỉ đọc được  tên hai người trong ban chủ trương là Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Nguyên Sa thì không. Sau này, ông cho biết ông chỉ là người cọng tác và ông nhận cái lỗi của ông là viết cho ST.

Bài thơ của TTY đã từng gây nhiều tiếng vang thời ấy là:

train-horse
(tranh từ Internet)

Cánh đồng con ngựa chuyến tầu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

4-1956

Hình ảnh một con ngựa chạy theo con tàu, có gì để mà viết thành một bài thơ ? Vậy mà ở đây bài thơ đã mang vào tâm trí ta một cuộc ruợt đuổi thật sôi nổi . Đọan cuối là nỗi bất lực của ngựa, với một cái vết nâu nhỏ nhoi giữa một buổi hòang hôn tàn tạ như dấu vết của một cuộc đuổi bắt vô vọng. Thơ không cần vần, cần tránh những chữ lập lại. Cái chữ “mau” tiếp tục lập đi lập lại nhiều lần như lời dục dã hối hả….Kỹ thuật cấu trúc thì phóng túng. Toàn bài thơ tóat ra một ý nghĩa về triết học. Có thể là sự đuổi bắt không ngưng nghĩ về một điều không thể đạt. Hay cũng có thể lnó hàm chứa ý nghĩa của nền khoa học kỹ thuật đè nặng lên loài người…

Ở vào  thời điểm 1956, có một bài thơ với một kỷ thuật  mới mẽ và tân kỳ như vậy là cả một hiện tượng hiếm hoi. .

Nhưng thú thật, tôi vẫn không thể cảm nổi bài thơ. Tôi đọc nó chẳng chút nào rung động.  Dù tuổi tôi là tuổi ngựa. Bởi những chữ quá cứng, quá lạnh, bởi chúng không bắt tôi phải đọc thơ bằng trái tim mà bằng sự thưởng ngọan như các cụ đồ vỗ đùi vỗ tay khen một câu đối tuyệt chiêu trong thơ Đường.

Mãi đến sau này, với những bài thơ như Qua Sông, Trường Sa hành, Anh hùng tận, Chiều trên Phá Tam Giang  và gần nhất là sau 1975 với bài Ta Về, tôi mới được dịp đọc thơ ông với tất cả nỗi cảm xúc dâng tràn.

Thử so sánh:

Thời Sáng Tạo:

Cô đơn bằng Thượng đế,
Yếu đuối như linh hồn,
Làm sao tôi trèo lên
Vực thẳm tờ bản thảo
Trắng im lìm giá băng.

(Thân phận thi sĩ, 1958)

Thời chiến tranh:

Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên.
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên.
Người chết mấy ngày chưa lấy xác,
Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh.

(Qua sông)

Rõ ràng, thơ ông bây giờ không còn cao siêu với những từ ngữ như thượng đế, linh hồn, những tuyên ngôn, những câu hỏi đầy triết lý nữa. Trái lại thơ ông bây giờ ở dưới tận cùng của nỗi đau, như thây sình, mặt nát, sâu dòi lúc nhúc… Thơ ông mới ở chỗ đó. Không phải mới ở cái thể thơ phóng túng là thể thơ tự do, (mà thật ra, theo tôi, ý tưởng chẳng mới chút nào) mà mới ở chổ cách trồng cấy chử nghĩa tài hoa của ông, ở việc ông lật bề trái về sự thật của chiến tranh, mà ít  có một thi sĩ nào nói được. Như qua bài viết về thơ chiến tranh của Cao Vị Khanh:

…Mấy ông họ Đào, họ Đỗ, họ Lý, họ Sầm…nổi tiếng văn hay chữ tốt, rượu vào lời ra, say nằm bãi cát nghêu ngao cũng chỉ thấy nói tới cái hơi hướm của chiến tranh, cái trống hoác của tàn trận, cái ngao ngán của hậu chiến, lúc kiếm gãy cờ tan u hồn lởn vởn. Cây kích gãy cắm lún trên bờ sông Xích Bích chỉ cho ta cái cảm giác ngậm ngùi. Hình ảnh của đống xương vô định là ước lệ vô tình của chữ nghĩa. Rồi đến Chinh Phụ Ngâm, tuyệt tác chiến tranh của văn học cổ điển cũng chỉ là chiến tranh phơn phớt ngoài da. Hơi gió cuốn người rầu mặt dạn. Dòng nước sâu ngựa nãn chân bon. Ôm yên gối trống đã chồn. Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh. Cái kiểu chiến tranh “trăng treo đầu súng ” có khi làm người ta mơ mộng đến chết người. Đến ngay Trần quang Dũng, người kháng chiến tài hoa của đất Sơn Tây cũng chỉ là  Tây tiến đoàn quân không mọc tóc  hay  Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên phút độc hành  có làm ta thương cảm nhưng dường như cũng có làm ta “vừa lòng” như chợt thấy được mấy nét xổ móc ngang tàng trên dòng cổ tự. Người chết vẫn là chết dấp chết dúi không có cả tấm chiếu quấn thây nhưng bù vào đó cái biểu tượng của chiếc áo bào trong phút chót độc hành đẹp lãng mạn đến làm ta quên đi cái đau đớn, khiến ta ngưỡng mộ tính trượng phu mã thượng mà quên đi cái thiệt thòi của đời thực. Ta kính phục mà không gần gũi. Dường như cái chết đó ở vào một thời nào xưa lắm, của một người nào cao cả lắm, cao đến chẳng ăn nhập gì đến ta, xa đã như là huyền sử vậy.  Đến như ông Tô Thùy Yên, người đã đẩy ngôn ngữ thi ca đến ranh giới của tột cùng cũng chỉ nói đến cái ghê rợn của mặt trận đã im tiếng súng. Tiếp tế khó đôi lần phải lục.Trên người bạn gục đạn mười viên. Di tản khó sâu dòi lúc nhúc. Trong vết thương người bạn nín rên. Người chết mấy ngày chưa lấy xác. Thây sình mặt nát lạch mương tanh… Nghe tới rùng mình sởn gáy. (1)

***

Tôi đang tự hỏi:  Giai đọan nào, đã giúp đưa TTY lên một vị trí xứng đáng với tên tuổi của ông và tại sao Qua Sông, Chiều Trên Phá Tam Giang, Trường Sa Hành, Ta Về lại được nhiều người yêu thích và nhắc nhở nhiều hơn những bài như  Tuyên Ngôn, thân phận thi sĩ  trong thời ST? Tôi xin mượn ý kiến của chính nhà thơ Tô Thùy Yên để trả lời:

“Một tác phẩm vượt nổi thời gian là một tác phẩm đã để lại được cho người đi sau một ý thức về đời sống” (2)

Vâng,  theo tôi, chính những bài thơ sau này mới giúp tôi một ý thức về đời sống của cá nhân tôi, bạn bè tôi, đồng đội tôi, miền Nam của tôi. Không những riêng tôi mà còn có cả thế hệ con cháu tôi nữa.

Có phải vậy không ?

TranHoaiThu

Trần Hoài Thư
_____

(1) Nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo, P.O Box 58South Bound Brook, NJ08880
 (2) Nguồn: Nxb Sáng Tạo, Tủ sách Ý Thức, 95B Gia Long, Sài Gòn. Bìa của Duy Thanh. Ấn vụ Lam Giang Ấn Quán Sài Gòn. Ngoài những bản thường còn in thêm 100 bản quý không bán, đánh số từ I đến XV và từ 1 đến 75 đều mang chữ ký tác giả. Bản quyền của nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Bản điện tử do talawas thực hiện. Bản  chụp in do Thư Ấn Quán thực hiện năm 2010.

bar_divider

TaVe-TTY-P1.jpg

TaVe-minhhoa.jpg

TaVe-TTY-P2.jpg

AnimatedNotesTA VỀ – Nhạc: Đinh Đại – Ý thơ: Tô Thùy Yên

AnimatedNotesTA VỀ – Nhạc: Ngu Yên – Song ca: Ngu Yên & Ngọc Phụng

TaVe-minhhoa2.jpg

TaVe-TTY-thubut1

TaVe-TTY-thubut2.jpg

bar_divider

TaVe-TaDi-ToThuyYen-ViKhue.jpg

ViKhue ToThuyYen

Vi Khuê – Tô Thùy Yên

Mời xem 2 bài thơ blinkingblock TA ĐI và TA VỀ (PDF) – 31 đoạn 4 câu 7 chữ

bar_divider

Hãy biểu dương cùng tận

** Phan Nhật Nam **

Biểu dương, hãy biểu dương cùng tận
Vinh hiển lầm than một kiếp người.
(Tô Thùy Yên)

… Kể từ khi “người vượn- homo erectu” dựng đứng được xương sống và dùng hai tay để viết nên những ký hiệu đầu tiên, đến nay trong những trước tác của tổ chức nhân loại văn minh với Bộ Bách Khoa Toàn Thư (Encyclopedia Britannica) gồm hai mươi-chín cuốn, hoặc Tự Điển Từ Nguyên, Từ Hải đồ sộ của người Trung Hoa.. Tất cả nội dung trình bày trong những ấn phẩm to lớn nầy không gì khác hơn do một NÉT VẠCH ĐƯỢC SẮP XẾP theo một hệ thống từ con người dần xác lập, và đồng thuận xử dụng. Hệ thống nầy do Hai Mươi- Bốn chữ cái La-tinh, hoặc Bảy nét cơ bản của Hán Tự cấu tạo nên thành Chữ Viết tồn tại bền vững qua hàng ngàn năm cho đến nay. Và chắc chắn dẫu tiến đến một tương lai kỹ thuật cao đến bao nhiêu – CHỮ VIẾT-CON NGƯỜI (dưới nhiều dạng tự khác nhau, Phạn Ngữ. Á-Rập Ngữ..) VẪN VĨNH HẰNG TỒN TẠI. Thế nên, chúng tôi vô cùng tin cậy rằng: Trong những ký hiệu Chữ Viết kia ẩn chứa Thần Tính – Siêu Việt Tính nhưng cũng là Nhân Tính.
Chúng ta nhắc nhở với nhau như thế, đồng thời xác lập điều tự hào cảm động: Tiếng Việt qua vận động của Thi Sĩ đã trở nên thành nguồn nội lực đủ sức cất chứa những rung cảm tế vi của tâm hồn, và biểu hiện nên Lời Thơ hùng vĩ.
Chúng ta vẫn sống như rừng cây
Chúng ta vẫn sống như mặt biển
Bởi vì đã đi nên sẽ đến
Người và bóng tối phải chia tay.

Cảm ơn Người Bạn Viết Thơ Đinh Thành Tiên – Thi Sĩ Tô Thùy Yên.

PhanNhatNam

PHAN NHẬT NAM

MỜI ĐỌC TOÀN BÀI: blinkingblock “HÃY BIỂU DƯƠNG CÙNG TẬN” của Phan Nhật Nam

bar_divider

Hoàng Khởi Phong phỏng vấn Tô Thùy Yên (RFA 2006)

Cách đây nửa thế kỷ tạp chí Sáng Tạo ra đời ở Sài Gòn, và có thể được coi là tạp chí văn học đầu tiên của miền Nam, với sự góp mặt của một số nhà văn, nhà thơ của miền Bắcvừa đặt chân xuống miền Nam sau một chuyến di cư vĩ đại. Vào thời điểm đó khu vườn văn học ở miền Nam còn rất trống trải.

Những tên tuổi dựng lên tạp chí Sáng Tạo gồm Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh.. Trong những danh tính vừa kể, toàn bộ là người Bắc, ngoại trừ Tô Thùy Yên là người miền Nam độc nhất có mặt trong giai đoạn hình thành tạp chí Sáng Tạo này.

Trong nửa thế kỷ vừa qua, tạp chí Sáng Tạo chỉ sống vỏn vẹn vài năm trời, nhưng đã tạo một ảnh hưởng lớn tới văn học miền Nam. Giờ đây những thành viên của Sáng Tạo chỉ còn lác đác dăm người. Chương trình Văn Học Truyền Thanh kỳ này xin được phỏng vấn nhà thơ Tô Thùy Yên, một trong vài nhà thơ lớn nhất của văn học miền Nam.

Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp Gia Định. Ông bắt đầu làm thơ vào cuối thập niên 50, là sĩ quan QLVNCH từ 1963 tới 1975. Sau chiến tranh ông bị đi tù cải tạo 13 năm.

Hoàng Khởi Phong: Xin chào nhà thơ Tô Thùy Yên, trong chiến tranh Việt Nam, là tác giả của những bài thơ nổi tiếng như Trường Sa Hành, Chiều trên Phá Tam Giang, Hề ta trở lại ngôi nhà cỏ.. xin ông cho biết cảm nghĩ của ông về những bài thơ này?….

ToThuyYen-05
Tô Thùy Yên, Hoàng Khởi Phong, Phạm Phú Minh

  blinkingblockYoutubeVọng Ngày Xanh thực hiện    blinkingblock MP3

bar_divider

Thơ Tô Thùy Yên: chênh vênh siêu hình/hiện thực

** Trần Hữu Thực **

ToThuyYen-TranhDinhCuong-01
Tô Thùy Yên – Tranh: Đinh Cường

… Chữ nghĩa TTY

TTY làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có (bài “Tặng phẩm” chỉ có 14 chữ), dài và rất dài có (bài “Mùa hạn” thơ bảy chữ, gồm đến 188 câu, 1326 chữ). Như đã nhận xét từ đầu bài, chữ nghĩa TTY pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ hiện đại như  hư vô, ý thức, Thượng Ðế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương laiông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như : vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san,  kinh thiên, dương thế, gậy trúc,  tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian: chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài ….

Ðồng thời, ông sáng tạo nhiều và nhiều cụm từ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối…Ở điểm này, ta có thể so sánh TTY với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người “đẻ” ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở TCS, ta có nào là tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang… nào là dài tay em mấy, cồn đá…Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: chữ nghĩa TCS dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa TTY thì là một dụng công đầy ý thức (như sẽ đề cập ở đoạn sau); một điểm khác, TCS do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn trong lúc TTY tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.

Có một nỗ lực rất lớn của TTY trong việc sử dụng từ ngữ để diễn đạt sự vật ngoại giới và tâm cảnh của mình. Ông tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông. [5] Dường như ông muốn  đi đến tận cùng bản thân chúng để tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đàng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Ðồng thời tận dụng các đặc ngữ, quán ngữ vừa để làm “mềm” câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế nhằm tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm, khó hiểu, nhưng để hiểu được, đòi hỏi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Ðọc thơ TTY không thể chỉ đọc bằng trực giác vì chúng không gây nên xúc động lập tức nới người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, thuận tai, gợi hình, gợi tình; đã thế, lại đưa ta vào một không khí đầy trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.

Ông có lối diễn đạt sự vật, cảnh vật chung quanh rất sống động bằng cách sử dụng những tính từ, động từ một cách khá bất ngờ. Xin dẫn ra đây một số:

– Ðộng vật: chim “giục giã” hay “hớt hãi kêu van”,  con ngựa “cuồng bão táp”, chó “tru thăm thẳm”, di điểu “xẻ luống sầu”, con quạ “kêu ran”, con còng “ẩn nhẫn bò”.

– Thực vật: cây “nứt nở vỏ”, “bật gốc” hoặc “sưng vết chặt lồi”; rong thì như những “tầng buồn”; hàng cây dương thì “bất an già”; rễ cây “bung” hay “gượng”; cỏ tranh “khom mỏi”; tàu chuối “reo ngất ngất”; cây xương rồng “gắng gượng”.

– Sự vật: con rạch “đen nồng”, chiếu chăn “bức bối”; con đường “duỗi sáng” hay “rọc điếng”; hàng rào chà cản nước  “nỗ lực lao đao”; nước ao “lền đặc”; gềnh đá “nhọn rách tơi”; bãi biển “trơ trẽn”; tàu chạy “khoan xoáy” hay “rú”; máu  “bung”.

– Những hiện tượng tự nhiên: gió “khốc liệt” hay gió “sửa soạn”; thủy triều “sôi”; mùa hè “cọ xát” hay “xô xát reo vang” hay “nhức rát”; biển  “nhẫn nại”, “tang chế”; nắng “nứt ran ran”, mặt trời “rã”; khuya “rụng rời”; đêm “tối lền”.

– Những ý niệm, trạng thái hay cơ cấu: lịch sử khi thì “ngất lả”, khi thì “thịnh nộ”, khi thì “mài thê thiết”; tứ thơ thì “xiêu tán”; kỷ niệm “buông”, “rú”, “chìm” ; (cái) bất-khả-tư-nghì  “đá chởm”

Có những câu, mới đọc, ta tưởng nhà thơ đang nói đến một điều “bất khả tư nghì” [6] nào đó. Không. Ông tả chân, rất tả chân. Chẳng hạn:

rền hoa: tim đèn dầu thắp lâu ngày, phía trên cháy thành than xòe ra như một bông hoa nở.

– Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn. Một cách đảo ngữ khá thú vị. Nó khiến cho  một chi tiết thực dường như biến thành hư. Ðó chỉ là tiếng trái cây rụng và âm thầm lăn trên mái nhà nghiêng. Ðể ý, nhà thơ dùng những động từ kế tiếp nhau để diễn tả chuyển động: rụng, lăn.

Thủ pháp này được ông dùng rất nhiều để gom ý, cô đọng ý và tạo cảm giác lạ:

 – Thả/trôi hồn một tấu khúc chừng quen

Dềnh/ giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi

Thả, trôi, dềnh, giạt, ngoi, nổi đều là những động từ.

Một câu khác:

 – Kỷ niệm buông tay rú/ngất/chìm

Buông, rú, ngất, chìm là những động từ.

Cũng một thủ pháp như thế, nhưng là tính từ, là danh từ hay là một kết hợp giữa các loại từ:

– Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp (tính từ)

– Tốc độ cao gài cố định mặc (cố định, mặc kệ cho nó chạy)

– Trời sao có hồi cũng đuối kiệt (đuối sức, kiệt lực)

– Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh (khoét ra, đọng lại, lẻ loi, quạnh quẽ)

Từ Hán-Việt cũng được sử dụng trong một vài trường hợp bất ngờ:

– Hàng tre cổ chĩu đầu lưu cữu gió (tre trĩu ngọn xuống để lưu cữu – cố giữ – gió lại)

– Ta ngồi bên đống lửa man rợ – Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế- Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi

 – Hừng đông hùng vĩthanh thản 

Nói chung, chữ nghĩa ông rất chọn lọc, nghe lạ tai mà chính xác, khiến câu thơ mang ngay một vóc dáng khác thường, tăng cường thêm ý nghĩa cho chính nó:

Mưa lâu trời mốc, buồn hôi xưa (Qua sông)

Rêu mốc mờ thêm những đã mờ (Huế oán)

Trăng thiếp, sao mê, sông ráo gió
Buồn lan sóng nối, tản không tan (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

Kết cấu tinh xảo:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh (Vườn hạ)
Quán chật xanh lên rừng lính ướt (Qua sông)
Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù (Thao thức)

Ngoài ra, ta nhận thấy TTY khoái sử dụng từ trắc ở chữ thứ năm trong câu thơ bảy chữ khiến câu thơ có một nhịp điệu riêng biệt, hình thành một phong cách khá đặc thù của thơ TTY:

– Bốn trăm hải lý nhơù không tới

– Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt

– Sông hồ nẻ đáy giếng vô vọng

Loại câu trên nằm lai rai ở nhiều bài. Có bài, như “Ðêm quan ngoại”, kỹ thuật đó được sử dụng hầu như   toàn bài, đại loại như: Tạt vào, giũ phủi bóng đêm bám/Gối đầu lên một chỗ không lý/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ…Ta biết, những từ thứ năm trong những câu thơ cước vận trắc, nếu gieo vằn bằng, thì đọc lên nghe trơn tru, thuận mồm hơn. Dùng các từ trắc ở đây khiến câu thơ nghe như có cái gì chẹn, nghẹn lại, gây nên cảm giác bế tắc, lúng búng. Quả thật vậy, đọc chúng, ta thấy ngay tác giả muốn diễn tả những cảm giác day dứt, bất an.

Những bài thơ làm thời gian sau này (trong Thắp Tạ), TTY đều sử dụng nhiều từ và cụm từ trắc để diễn tả tâm tình đặc biệt của mình: những nỗi niềm khuất tất, trạng thái ngơ ngẩn cuối đời khi “quỹ thời gian” đang mỗi ngày mỗi cạn (như  Soi mệnh, Tỵ khách, Nỗi lần mình giở). Chẳng hạn:

Giấc mộc đè cứng nghẹn dẫy la/Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn

Sòng phẳng án khổ hình vắt đá lấy máu viết/Viết, viết như chép phạt những điều thừa

Về một kỳ tích tối cổ mãi hư bại. (Soi mệnh)

Ðoạn thơ trên mà so với những câu, cũng của ông,  như: Thấy gì chăng, chẳng thấy gì/Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê/Chầy khuya, nước ủ trăng ê/Uổng công, bãi ấy đi về một ta…” (Ði Về) thì quả là khác nhau một trời một vực. Nói chung, chúng không khó hiểu lắm nhưng lại rất khó đọc. Chữ nghĩa ngổn ngang. Hơi thơ u uất. Vẫn là những ám ảnh siêu hình về thời gian, vô hạn, biến dịch. Ở đây, tôi ghi nhận một khác biệt. Thuở đầu đời, nhà thơ nghênh ngang đối đầu với/và có vẻ “thưởng thức” cái hữu hạn của con người, ném hữu hạn trước vô hạn như một thách đố, thậm chí không dấu nỗi hân hoan:

– Giá ta được lên cao, lên cao

Ðể ngắm nhìn một lần thấu suốt Ðịnh Mệnh ta

Trước ngày từ biệt nó

(…) Ta cố gắng làm người. Con người vô ích sáng choang như món hàng đeo lên Hư Vô

đen ngời bóng lộn (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Hay:

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát

Ta lớn lao và ta cô đơn

Vào lúc sau này, tuổi xế bóng, cái nhìn có khác, nghe ra rất ngậm ngùi:

Quá một hạn tuổi nào,

Sống nữa hầu như để giữ sống

Qua ngày một trí nhớ lâm chung.

Ðâu rồi gã trẻ người bạt mạng lao đầu

Vào những bất khả tư nghì đá chởm (Soi mệnh)

MỜI XEM: blinkingblock TOÀN BÀI VIẾT CỦA TRẦN HỮU THỰC (PDF)

ToThuyYen-banhuu3
Song Thao, Doãn Quốc Sỹ, Tô Thùy Yên

bar_divider

NGHĨ VỀ BÀI THƠ “GÓA PHỤ” CỦA TÔ THÙY YÊN

** NGUYỄN KHIÊM **

ToThuyYen-phachoa.jpg

Trong một bài phỏng vấn trên một tờ báo văn nghệ hải ngoại, hình như Tô Thùy Yên cho rằng không có thứ thơ gọi là thơ triết lý.

Vấn đề theo tôi, chỉ là danh từ. Thơ triết lý hay đượm màu sắc triết lý thì cũng vậy. Nếu không xây dựng trên những chủ đề nhiều ít liên quan tới những ưu tư của nhân quần về ý nghĩa đời người, tình yêu, cái chết…tôi e thơ Tô Thùy yên không có địa vị gần như độc tôn cho tới ngày nay. Toàn bộ sự nghiệp thi ca của mình, không có hoặc rất hiếm bài nào ông không đề cập tới khía cạnh triết lý gần xa nào đó đụng tới phận làm người. Võ Phiến nói rằng đọc một tác giả, ta có cảm tưởng tác giả đó nhỏ hay lớn dường như ngoài chuyện chữ nghĩa, nghệ thuật diễn đạt còn liên quan tới những vấn đề tác giả bị ám ảnh tức các chủ đề, đề tài nhỏ hay lớn nữa. Tất nhiên không phải hễ muốn lớn thì chỉ cần nói tới chuyện lớn mà phải nói tới với tài năng tới đâu và bằng cách nào mới là cốt lõi. Suy nghĩ tới cõi sống cõi chết thì trong đầu ai, lúc nào mà chẳng từng nhưng viết ra thành những câu thơ đẹp tới não lòng như ông thì xưa nay mấy ai? Tôi buồn bã nhận rằng nói tới thơ là nói trong chủ quan, ai thấy có lý phần nào thì chia xẻ, ai nghĩ khác thì cũng lẽ đương nhiên.

Một nhà phê bình văn học có viết rằng Góa Phụ là bài thơ hiện thực nhất của Tô Thùy Yên. Thật lạ, tôi lại thấy bài này có những hình ảnh hiện thực nhưng lại có ý nghĩa tượng trưng, nhiều ẩn dụ nhất của ông:

      Con chim nhào chết khô trên cửa,

      Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm,

      Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ.

      Sao người khai giải chưa về thăm?

Điều thú vị, nếu để tâm ghi nhận, trong 37 bài thơ ở cuốn Thơ Tuyển, đã có trên 20 bài và ít nhất gần 30 câu ông nhắc tới chim muông, dường như loài chim xuất hiện với tần số cao nhất trong thơ ông. Rõ ràng chim muông là một ẩn dụ đa tầng đa nghĩa được nhìn theo tâm cảnh của thi nhân. Ngoài một lần sống giữa mùa hạn hỏa ngục xứ Quảng Bình khiến ông liên tưởng tới thế giới lâm chung với thiên nhiên cùng kiệt, xác người vương vãi nơi bờ bụi cùng bao nhiêu hình ảnh rùng rợn khác, tỉ như “Ác điểu ngày đêm gào xáo xác” và ma hoang cũng bỏ đi nhường chỗ cho chim kên thì hình ảnh chim muông trong thơ ông:

+ Luôn gần gũi thân thiết và có khi là niềm an ùi:

Chim đã bay quanh từ vạn cổ…Giữa tầng trời cao chim giục giã… (Đãng Tử), Thấy nhành ớt động bóng chim quen… (Vườn Hạ), Nghe tiếng chim quen bay trớt qua, Bóng thoáng như bàn tay dịu mát, Lau nhanh hơi mỏi mặt mày ta …(Và Rồi Tất Cả Sẽ Nguôi Ngoai), Ta đợi vì nghe ngoài ngõ trúc, Có com chim khách kêu chiều nay… (Mùa Hạn), Ta về như bóng chim qua trễ…(Ta Về)…

+  Cũng có lúc tiếng chim vui:

Đông đúc chim về ấm cúng đêm… (Lão Trượng), Con chim chèo bẻo hót lanh chanh… (Hề Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

+ Cánh chim là một ảnh tượng đẹp và buồn, nhất là buồn và cô lẻ:

Con chim bói cá trong tàn tối, Soi vĩnh hằng xanh rợn mặt hồ… (Nỗi Đợi)…Thăm hỏi con chim màu sặc sỡ, Lời ca u uất giấu nơi đâu? Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc…, Bóng chim, tăm cá, cành trôi giạt…(Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm), Di điểu qua sông xẻ luống sầu… Núi xa chim giục giã hoàng hôn… (Tưởng Tượng Ta Về Nơi Bản Trạch), Con chim nào hớt hãi kêu van (Bất Tận Nỗi Đời Hung Hãn Đó), Con chim động giấc gào cô đơn… (Trường Sa Hành), Con chim lạc bạn kêu trời rộng… (Vườn Hạ), Giữa khuya có tiếng chim ai oán… (Nỗi Đợi)

+ Có khi phảng phất chút thần bí, siêu hình:

Con chim thần thoại mắt khoen sâu, Giật mình như đã ngàn năm ngủ, Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em Nhỏ, Làm Chi Chim Biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu, Hót gọi tiền thân ta tái sinh…(Mùa Hạn), Con chim nào vỗ cánh, Động gợn thời gian… (Ánh Tàn Dư), Khắc khoải chim kêu mùa xóa giải… Chim vút lên như hòn đá ném, Rồi thôi, cái có chỉ là qua…(Chim Kêu Bãi Quạnh).

Tôi chỉ lược trích sơ sài chứ thật ra, mỗi câu thơ trên đây là một ảnh tượng riêng biệt có thể là một chủ đề cho một bài khảo sát. Nhất định mai nầy thơ ông phải được nhìn nhận công bình hơn, công phu hơn hầu đúng với giá trị cao cả nó vốn có.

Con chim nhào chết khô trên cửa là hình ảnh chim muông buồn thảm nhất trong thơ TTY. Vì sao con chim nhào chết khô? Ta không rõ. Chỉ biết ở đây chỉ còn nỗi chết. Chết trên cửa. Cửa nào? Đó là cảnh cửa âm dương mở ra cho cái chết nhưng đã đóng chặt rồi. Thiên thu. Im bặt. Vô âm tín. Không ai có thể hiểu gì. Đó là cánh cửa bị yểm bùa, vĩnh viễn không có người khai mở. Người ta chỉ biết sống và chết và không bao giờ biết tại sao. Phải chăng đây chỉ là hình ảnh ẩn dụ cái chết phi lý của người tử sĩ, người chồng của góa phụ trong bài thơ. Một triết gia hiện sinh có nói rằng chính vì con người tuyệt nhiên không biết tại sao mình sống và tuyệt đối mù tịt sau khi chết, chính vì cánh cửa âm dương đóng sập nên tử biệt trở thành tận cùng bi đát và là sự trừng phạt quá nặng trên số phận con người một cách phi lý. Người góa phụ khiếp kinh và không dễ chấp nhận nỗi đau tang tóc là có thật. (Phía sau nỗi chết, thấp thoáng cái nền xám xịt của cuộc chiến tranh phi nghĩa). Thế nên:

Em chạy tìm anh ngoài cõi gió

      Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn,

      Tiếng kêu đá lở long thiên cổ,

      Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

Thú thật tôi rợn người khi đọc khổ thơ trên. Ngoài cõi gió gợi nỗi buồn mênh mang, cô quạnh và lạnh lẽo. Thứ lửa oan nghiệt, tàn khốc nào lại mỉa mai giỡn cười trên số phận con người trầm luân, trên chết chóc bi thương? Lửa mà giỡn cười? Làm sao không ghê hồn cái thần bí ma quái ở đây? Câu thơ thứ 3 là “âm thanh cuồng nộ” vô cớ của trời đất hay tiếng kêu thương của hồn người vọng động cả càn khôn? Đá đổ, cát bay long thiên cổ, loạn muôn trùng cho ta cảm tưởng con người quá bé nhỏ trước thiên nhiên rộng lớn không cùng và dữ dội vô tận. Và số phận con người, chung cuộc cũng bị xóa dấu chôn mà thôi. Thơ TTY nhiều lần nói tới bôi xóa, tới “mặt đất bôi trôi”. Người ta bảo TTY chỉ tin ở sự hư vô, họ có lý. Tôi liên tưởng tới mấy câu thơ ông nói với người chiến binh CS cuồng điên say sưa chiến đấu, mê tưởng “sự nghiệp” mình lớn lắm, ngỡ mình làm được chuyện “Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa”:

      Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm

      Có cùng gom góp lại,

      Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

(Chiều Trên Phá Tam Giang)

Và nhất là mấy câu này trong bài Lão Trượng:

  Cát vùi cả xương trắng lưu dấu…

      Mặt đất vô danh, ký ức lòa.

Hai khổ thơ tiếp sau là cảnh tượng người vợ góa một mình canh xác chồng.

      Em độc thoại lời kinh ánh xanh

      Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn.

      Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa.

      Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn.

Tác giả chỉ nghe mà thấy được lời kinh ánh xanh (Cũng như Phan Khôi Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc, Nghe trong tiếng ếch một màu xanh),giác quan ông cũng chuyển đổi chức năng khiến câu thơ rõ ràng có tính tượng trưng. Ngoài ra lời kinh ánh xanh cũng gợi chút gì bí hiểm rờn rợn. Câu kế chỉ là liên tiếp ba cụm chủ-vị đơn giản nhất, có tính từ làm vị ngữ trong tiếng Việt, vậy mà tài tình thay, lại là câu thơ nhiều hình ảnh nhất gợi nơi lòng người một nỗi tàn phai thê thiết. Đọc câu này tôi không thể không so sánh với một khổ thơ trong bài Ta Về:

      Ta về như tứ thơ xiêu tán

      Trong cõi hoang đường trắng lãng quên.

      Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách,

      Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

Cấu trúc ngữ pháp câu cuối ở đây y hệt câu 2 khổ thơ thượng dẫn, nhịp điệu và nhạc điệu cũng tương tự. Và ngữ nghĩa nữa, toàn động từ, tính từ hàm nghĩa xiêu đổ, điêu tàn, phôi pha, mờ tối, tàn phai. Thanh điệu của 3 từ cuối trong cả 2 câu giống nhau, chùng xuống những thanh bằng diễn một niềm đau thương, cô quạnh.

Nguyễn Bắc Sơn có câu thơ hay: Khu phố quận những đời người đã mỏi, cụ thể, chính xác nhưng không mới lạ bằng khuya mỏi. TTY có biệt tài dùng những chữ vốn già nua và sáo mòn, đặt vào một văn cảnh bất ngờ để tạo hình ảnh mới, chẳng hạn cũng từ này: Ta đợi, nghe chừng thiên cổ mỏi… Tàu đi, lúc đó đêm vừa mỏi, Lúc đú sao trời đã ngủ mê. Kiểu dụng ngữ này nhan nhản trong thơ ông tạo thành điển hình cho một phong cách, thật thú vị nếu để tâm khảo sát.

Ta thấy, trong khổ thơ, tác giả ghi nhận ba thứ âm thanh, ta có cảm tưởng các giác quan ông nhạy bén không cùng và tưởng tượng thì vô tận, ông nghe thấy những gì giác quan người thường không hề cảm nhận được (tới cường độ đó): Cát loạn muôn trùng, đá lở long thiên cổ, Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa. Tuyệt vời từ thăm thẳm và ngây. Quả thật chỉ mình ông thấy đất trời cũng ngây dại nghe tiếng chó tru buồn thảm trong đêm tang tóc đó. Trong xã hội nông nghiệp tối tăm ngày trước, tiếng cú và chó tru đêm điển hình cho điềm báo chết chóc, tai ương – quái, kinh nghiệm bản thân tôi thấy đúng, mới ghê! (Đọc câu này tôi không thể không nhớ lại một scène trong phim Doctor Zivago của David Lean, xem rồi, mấy chục năm sau còn nhớ. Giữa cuộc CM loạn ly bạo liệt, vợ chồng bác sĩ Zivago lánh nạn, trở về làng quê Variquino, đêm đầu tiên ngụ trong ngôi biệt thự hoang tàn, khuya muộn, họ thảng thốt nghe tiếng chó sói tru quanh nhà. Hé cửa nhìn ra, dưới ánh trăng bạc trên đồng tuyết lạnh lẽo, những con sói ốm đói đầy hung tợn ngửa mặt lên trời gào tru thê thiết mà cũng đầy đe dọa. Tôi tin không phải tình cờ David Lean đưa cảnh này vào phim mà không gửi theo một ẩn dụ; tiếng chó tru ghê rợn đó cùng với bản nhạc nền Lara theme u uẩn của Maurice Jarre cứ âm vang ray rứt trong lòng khán giả cho tới hết phim và, với tôi, mãi nhiều năm sau nữa; tiếc cho các thế hệ sau này không được xem phim nầy với màn ảnh rộng).

      Ngọn đèn hư ảo chong linh vị

      Thắp trắng thời gian mái tóc em.

      Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh.

      Hồn xa con đóm lạc sâu đêm.

Mấy câu trên đây, cảnh thì hiện thực nhưng được nhìn qua nhãn quan…siêu thực. Ngọn đèn thức canh quan tài có thật sao gọi là hư ảo? Mái tóc góa phụ hẳn cũng chưa bạc trắng và tim làm sao duỗi đập ngoài thân? Thời gian trong thơ TTY là một thứ ký ức lòa, bị lãng quên, bị bôi xóa. Câu trên nếu thuận nghĩa thì phải là thời gian thắp trắng mái tóc em, nhưng thế thì còn gì thơ! Tôi chưa quên mấy câu thơ khác của ông về thời gian, thứ thời gian trắng không lưu dấu, không ký ức:

      Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ.

      Trong cõi hoang đường trắng lãng quên.

       Bay tự ngàn năm trắng cổ thi…

Đêm tối triền miên chốn ruộng vườn, ánh lửa ma trơi và ánh sáng lập lòe của đom đóm trên đồng hoang gợi cảnh tượng lạnh lẽo của cõi âm, chính tác giả cũng tưởng tượng hồn người lạc loài theo ánh sáng xanh bí mật của con đốm. Thứ ánh sáng ma quái chỉ làm đêm tối càng thêm tối và chỉ là không gian đe dọa.Tiếng Việt chỉ có thâu đêm, không có sâu đêm. Sâu ở đây vừa có nghĩa trong không gian và cả thời gian, nghĩa thật rộng và thật mới. Đọc đoạn này, ta còn nhớ tới mấy câu rợn lạnh trong bài Lão Trượng:

Mơ màng có một hồn xiêu lạc

      Ngoài tối tăm, nhờ chỉ nẻo về.

Bài thất ngôn ngắn nhất của TTY trong tập Thơ Tuyển kết thúc với khổ thứ 5:

      Cỏ cây sống chết há ta thán.

      Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?

      Thảng như con ngựa già vô dụng,

      Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình.

Làm sao ta biết cỏ cây sống chết không hay có ta thán? Chẳng là giác quan ta hạn hẹp nên chỉ nhìn ra vậy; ý thức ta chỉ biết được chết là hết, là vĩnh viễn xa lìa nên tử biệt là điều ghê khiếp quá sức chịu đựng của cõi người. Góa phụ chắc cũng biết tới lẽ diệt sinh nhưng không thể âm thầm chấp nhận được nên phải “khóc hoài”.

Hai câu kết gợi hình vô kể tượng trưng của buồn đau, bị bỏ rơi, bị hất hủi; ẩn dụ của phận làm người phi lý. Con người mù lòa bị ném vào đời với đam mê vô ích, loay hoay với lao khổ, cô đơn, rồi chết. Chẳng để làm gì. Ngựa ở đây gợi nhớ tới con ngựa trong bài thơ nổi tiếng của TTY thời trai trẻ “Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu”. Chúng nhiều hay ít nhất quán ở tính bi đát.

Như đã nói, bài thất ngôn nầy ngắn nhất trong tập Thơ Tuyển nhưng theo tôi, vì cô đọng và hàm súc nhất nên phải ngắn. Cô đọng và hàm súc về nội dung, chặt chẽ về bố cục, Phong phú về hình ảnh. Ngôn từ thì tinh xác và mới mẻ, càng đọc càng thấy chưa hiểu đủ nên phải cứ đọc hoài.

NGUYỄN KHIÊM

bar_divider

Nói Về Thơ, Người Làm Thơ và Người Đọc Thơ

** TÔ THÙY YÊN **

ToThuyYen-2014

Nhà thơ Tô Thùy Yên đang nói chuyện tại buổi ra mắt sách tại Houston (Ảnh Nguyễn Hoàng Nam)

LTS: Trong dịp ra mắt tuyển tập thơ Tô Thùy Yên tại nhà hàng Song Long ở Houston vào tối 9 tháng 3-1996, nhà thơ Tô Thùy Yên, từ Minnesota xuống, đã nói chuyện về sáng tạo và thưởng ngoạn mà sau đó ông dành cho NGÀY NAY được đăng tải nguyên văn dưới đây.)

Trong phần mở đầu, sau khi cám ơn gần 200 quan khách và thân hữu hiện diện, ông nói “Ban Tổ Chức buổi ra mắt sách hôm nay đã dành cho tôi một vinh dự lớn lao được đứng nơi đây trong tư cách một người làm thơ để nói về thơ. Thực sự, tôi hoàn toàn không dám nghĩ rằng tấm thịnh tình của quý vị, của các bạn được dành riêng cho cá nhân tôi, dành riêng cho thơ tôi, mà tôi chỉ dám nghĩ rằng tấm thịnh tình đó được dành cho thơ, thơ nói chung, thơ của mọi người làm thơ và đọc thơ, thơ như một điều gì đó rất đỗi thiết thân nhưng cũng cực kỳ xa lạ của đời sống.”

Phải, từ bao giờ, cổ lẽ từ lúc hồn thơ bắt đầu phát sinh trong tâm thức con người, cùng với sự sáng tạo thần kỳ của tiếng nói, dường như thơ luôn luôn bị người đời trong một định kiến hết sức oan uổng cho thơ, hoặc ruồng rẫy rẻ rúng nó đến độ tưởng như nó không hề hiện hữu, hoặc lưu đầy quản thúc nó vào một cõi vô thức, hão huyền dành riêng cho một số ít tâm hồn bị nguyền rủa nào đó lui tới.

Thơ như một đứa con chẳng trông nhờ gì được của người cha mù lòa quờ quạng là đời sống không ngừng hoài vọng tìm gặp cho được một lần những giải đáp soi sáng niềm bí ẩn lớn lao đời đời bao quanh nó, ở trong nó.

Giữa đời sống và thơ, từ bao giờ dường như đã có một khoảng cách xa vời chẳng thể thu ngắn, người đọc đến với cõi thơ luôn luôn có cảm tưởng mơ hồ đã phải tạm thời tách lìa thế giới thực tại vây bủa, thơ mặc nhiên bị coi như ngày nghỉ xả hơi nào đó của trí não tù hãm, u trệ, như một khác thường đôi lúc xẩy ra của đời sống, và ý niệm như vậy về thơ tưởng cũng như là làm một điều ân sủng tử tế lắm lắm cho thơ. Nói cách khác, đời sống trong vận động miên man sinh tồn và phát triển của nó, giữa những chập chùng ngặt nghèo hỗn độn của bao nhiêu là sự kiện thực tế hiển hiện lúc nào cũng chực gây thương tổn và hủy hoại phẩm cách của con người, vâng, đời sống, trong những điều cực kỳ bi đát như vậy, dường như thường xuyên có phản ứng gần như bản năng chối nhận thơ như một đeo đẳng trì kéo phiền toái có nguy cơ phá hoại trầm trọng chính sự vận động sinh tử đó của đời sống. Nhưng chính cái phản ứng gần như bản năng chối nhận thơ đó phần nào cũng xác nhận rằng thơ luôn luôn có mặt một cách cơ hữu mật thiết ở trong đời sống, cùng với đời sống.

Tất nhiên, khoảng cách có tính tưởng chừng đó giữa đời sống và thơ chẳng phải do chính người làm thơ cố tình tạo ra như thông thường hắn vẫn bị chê trách nặng nề như đó chính là lỗi của hắn vậy. Và khoảng cách đó, cuối cung rồi cũng phải được người làm thơ, để làm tốt công việc của mình là chụp bắt hồn thơ trong cái hình trạng hoàn toàn trung thực vốn biến ảo khôn lường của nó, bất đắc dĩ chấp nhận như là điều kiện mặc nhiên của thơ.

Thơ như một điều gì đó mập mờ, hư giả, thậm chí lắm lúc còn tối tăm, bí hiểm, và do đó, không những đã vô ích mà còn bị tình nghi có hại là đằng khác. Nhưng dù thế nào đi nữa, thơ, như vừa nói qua, vẫn đời đời ở lại với loài người như một tình nhân định mệnh thắt buộc, không muốn cũng không được. Và cũng vì tính chất thoạt trông có vẻ phù phiếm vô bổ đó của thơ nhiều lúc có thể tạo thành dễ dàng một mặc cảm nặng nề nơi người làm thơ nên một số không ít những người làm thơ đã muốn dĩ thi tải đạo, làm những bài thơ giáo huấn tuyên truyền luận giải thuyết phục, để thấy mình cũng như thơ có được một mục đích lợi ích xã hội thiết thực.

“Khi người làm thơ sử dụng thơ như một công cụ cho chế độ chính trị thì đã tự mình chối bỏ danh xưng thi sĩ…

Khi làm bài thơ, phần người làm thơ tận lực cố gắng đã đành, mà cả người đọc, khi đọc bài thơ đó, cũng phải tận lực cố gắng phần mình nữa trong việc thể hiện được trọn vẹn cái hồn thơ chung chạ của cả đôi bên.”

Tất nhiên không hiếm những chế độ chính trị đã tận lực góp thêm phần tạo thành dầy đặc cái mặc cảm vô dụng đó nơi người làm thơ để dễ dàng sử dụng hắn như một công cụ cũng khá cần thiết cho chúng, và khi đã ưng chịu như vậy thì người làm thơ một cách mặc nhiên đã làm một công việc hoàn toàn khác biệt với công việc làm thơ, đã tự mình chối bỏ danh xưng thi sĩ.

Một chế độ chính trị bao giờ cũng bắt buộc phải chứng minh bằng cách này hoặc bằng cách khác. Còn thơ tự bản thân nó chẳng nhằm chứng minh bất kỳ điều gì, ngoại trừ chỉ chứng minh nó là thơ, thế thôi. Sự thiết thân gắn bó của thơ đối với con người, cái lý do tồn tại chính đáng cao cả đó của thơ sẽ phải chỉ được tìm thấy ở một nơi chốn nào khác, và nơi chốn đó là hồn thơ của chính người đọc. Điều ngộ nhận thông thường của người đời là mặc nhiên coi hồn thơ như cái phần sở đắc trời đất đã ưu ái – hay độc địa? – dành cho người làm thơ mà thôi, và hắn phải cam chịu mịt mùng cô độc vô vọng vì cái phần sở đắc ngặt nghèo riêng tư đó.

Sự thật không phải như vậy, hồn thơ luôn luôn là sở hữu chung đều của mọi con người, cả người làm thơ lẫn người đọc thơ, không phân biệt ai ai. Tất nhiên, qua thời gian chung đụng với đời sống, mỗi cá nhân hoặc giả đã đầu tư phát triển ít hay nhiều theo một cách thức nào đặc biệt của mình cái vốn liếng sẵn sàng đó, hoặc giả đã không muốn đá động sử dụng gì đến nó cả.

Nói cách khác, hồn thơ ở mỗi cá nhân lâu ngày chầy tháng khuôn thành theo hình dạng tâm tính đặc thù của cá nhân đó. Nhưng cho dù hồn thơ ở một cá nhân nào có tuyệt đối bị bỏ quên trùm lấp chăng nữa, ở cá nhân đó, hồn thơ cũng chẳng hoàn toàn tàn rụi mất biến được.

Bởi lẽ hồn thơ vĩnh viễn tàng ẩn bàng bạc trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức con người giăng mắc mạng lưới phức tạp những xúc cảm tư duy cực kỳ tinh vi trong tương phùng chuyển hóa sinh động miên man của ngôn ngữ hàm xúc trùng trùng những huyền nhiệm bất khả tư nghị, nó trường kỳ nghi phục bất động đâu đó, để rồi trong những thoáng cơ duyên nào bất chợt nhất, nó lại xuất đầu lộ diện ngự trị, điều động con người theo những luật tắc riêng biệt vừa rộng rãi mà cũng vừa nghiêm ngặt của nó. Và kinh qua những lần chứng nghiệm thơ như vậy, con người bỗng nhận thức được như một đốn ngộ về một nghịch lý: thơ, với tất cả những gì mà người đời cho là những khuyết phế vốn dĩ của thơ, lại cũng là một phương thức nhận thức đặc biệt cùng với những phương thức nhận thức khác của con người triền miên theo đuổi công cuộc tìm kiếm những sự thật lẩn khuất chung quanh mình, ở trong mình.

Và thơ, tội nghiệp thay, cũng là đứa con nhờ vả được đã dẫn dắt người cha mù lòa đi sâu vào những cõi u ẩn huyền nhiệm tuyệt vời mà chính những đứa con sáng sủa hằng được trọng vọng khác của trí tuệ con người chẳng tài nào tiếp cận. Phải, ở những lằn ranh cuối cùng mà tôn giáo, triết học, khoa học đã phải đứng lại, thơ, vâng, chỉ có thơ, vẫn nhẹ nhàng tiến bước, xông pha, bay lượn, vùng vẫy.

Lúc đó, những lúc đó, con người chợt cảm nhận rằng mình phơi phới nhẹ nhàng như đã được giải phóng khỏi những nặng nề đè áp thường nhật, rằng mình đã thật sự sở hữu được chính mình nhiều hơn nữa, đã thật sự hòa nhập vào một đời sống có khi còn chính đáng hơn cả cái đời sống mà mình vẫn thường lầm tưởng là duy nhất chính đáng, một đời sống khác nữa không hẳn là không xác thực, một đời sống khác nữa ở ngay trong cõi sâu cùng thăm thẳm nhất của chính đời sống. Những lúc đó, con người nương thả theo thơ, sống trọn vẹn là con người với đầy đủ các tính cách kỳ diệu lạ lùng mà bình thường chưa từng nghe thấy có, tưởng chừng chẳng thể có. Bởi lẽ hồn thơ chính là cái phần u uẩn lẩn khuất mênh mông tuyệt đối của hồn người, nó chính thị là hồn người trong ý thức sau cùng hết của hồn người.

Người đọc thơ, những lúc đó, mặc nhiên trở thành thi sĩ theo định nghĩa cao cấp nhất của danh xưng: kẻ tạo dựng một thị cảm, một cách thức nhìn thấy độc đáo và cái thế giới vừa ngoại quan và cũng vừa nội quan mà chính mình đang sống. Thơ chính là một thị cảm dù được thể hiện theo kỷ luật riêng biệt của bất kỳ trường phái hay khuynh hướng thi ca nào, và nếu như bài thơ nào không truyền đạt được những khêu gợi phải có nhằm đánh thức thôi thúc được một cách mãnh liệt cái hồn thơ ẩn náu bất động nơi người đọc để hình thành một thị cảm nào đó, chắc chắn bài thơ đó là một thất bại, bài thơ đó đương nhiên không phải là thơ.

Tất nhiên, khi làm bài thơ, phần người làm thơ tận lực cố gắng đã đành, mà cả người đọc, khi đọc bài thơ đó, cũng phải tận lực cố gắng phần mình nữa trong việc thể hiện được trọn vẹn cái hồn thơ chung chạ của cả đôi bên. Một cách thông thường, con người ù lì bất động trước những quen thuộc nhàm chán nhưng lại sẵn sàng có phản ứng tức thì xô chối phủi xua những điều đầu tiên còn xa lạ ngỡ ngàng.

Người làm thơ thành công dường như bao giờ cũng phải là người vừa có vẻ là cố tri, lại vừa thật sự là sơ ngộ đối với người đọc. Đó cũng là yếu tính chung cua mọi nỗ lực sáng tạo, phải trông thấy quen quen để được đón nhận, rồi sau đó mới có thể trưng bày được những khác biệt phải có.

Trong nghệ thuật, không hề có niềm tự hào vô lối về một sự làm mới tuyệt đối. Có thể quả quyết rằng mọi sáng tạo đều phải phát xuất từ một gia sản có tính truyền thống nào đó. Mọi sáng tạo, trong giai đoạn đầu tiên ngắn ngủi thôi, là một mô phỏng, một lặp lại. Kể cả những người khai phá làm mới táo bạo nhất trong nghệ thuật cũng ít nhiều để lộ ở nơi họ những vết tích nào đó của một quá khứ xa xôi. Không có một thứ gì không có cội nguồn. Cái quá khứ xa xôi tồn đong đó chính là cốt tủy khuất ẩn của hồn người. Thơ không ở ngoài lề luật chung đó, bao giờ nó cũng khởi đi từ lớp lớp quá khứ truyền thống của ngôn ngữ.

Cũng như mọi sáng tạo khởi đầu vốn là công việc của một người đơn độc để rồi sau đó, chỉ có thể hoàn thành trọn vẹn với sự hợp tác gia công của một người khác nữa, người thưởng ngoạn. Lẽ đơn giản rõ ràng là nghệ thuật bao giờ cũng mang nặng trong bản chất của nó niềm mong mỏi chia xẻ. Cả lúc khởi đầu cũng đã là sự chia xẻ ngay trong tự thân, với chính mình, của người làm nghệ thuật.

Thế giới mà chúng ta đang sống đây càng lúc càng hiển lộ một hiện tượng tách biệt trầm trọng lạ lùng giữa thơ và đời sống. Tách biệt đến mức tưởng chừng bây giờ thơ đã trở thành một công việc riêng tư hết sức chuyên môn như trong một hội kín giữa các người làm thơ với nhau thôi. Tách biệt đến mức tưởng chừng bây giờ hồn thơ của loài người đang hồi cạn kiệt rồi vậy, nòi giống của những người làm thơ và những người đọc thơ đang lâm vào nguy cơ tuyệt diệt rồi vậy.

Trước đây trong lịch sử, cũng đã có những thời đại suy thoái cùng khốn vất vưởng của thơ, nhưng dường như chưa từng có một thời đại nào mà thơ đã bị dồn đẩy thảm thương tuyệt lộ vào một xó góc tù túng bí thở tăm tối lãng quên như trong thời đại của chúng ta. Ngày nay, số người thật sự đọc thơ càng lúc càng hiếm hơi, và người làm thơ càng lúc càng bị quy kết một cách nghiệt ngã, hoặc oan hoặc ưng, đã chẳng có đủ tài năng và cả thiện chí thực hiện mỹ mãn công việc của mình. Lý do viện dẫn thông thường làm sao thơ bây giờ khó khăn bí hiểm quá, sỗ sàng thô trọc quá, xa lạ kỳ cục quá, nó thế nào ấy, nó không còn giống như thơ nữa.

Từ những nguyên nhân nào và phần lỗi thuộc về ai, ở đây chúng ta không đề cập rốt ráo một phân tích chi li và rốt ráo. Ở đây chỉ ghi nhận là hiện có một chênh lệch rất đỗi lớn lao tưởng chừng khó thể trùng nhập được nữa giữa hai màng lưới xúc cảm tư duy đã bắt đầu khác biệt về khuôn khổ cũng như về cấu trúc của người làm thơ và người đọc thơ. Một chênh lệch như vậy đôi khi cũng được bắt gặp trong giai đoạn khởi đầu của những thời kỳ văn học nghệ thuật được canh tân nhưng nó không đến mức trầm trọng vô phương điều chỉnh như là sau đó không lâu, may mắn thay, đã điều chỉnh được, thông thường từ phía quần chúng đã có đủ thời gian kết thân thích nghi.

Khác hẳn với sự chênh lệch có tính chia lìa chẳng thể còn quay về, được ghi nhận hôm nay và được nhìn thấy như một hậu quả đương nhiên của tính gia tốc khốc liệt của lịch sử đã làm nẩy sinh tính tức thời vụn nát và tính thực tiễn đáp ứng tối thiết yếu của đời sống. Được nhìn thấy như mối đe dọa bị hủy hoại càng lúc càng trầm trọng bức bách con người. Ngôn ngữ, công cụ tư duy duy nhất của con người, thành tựu cao cả tuyệt vời của con người càng lúc càng giảm nhẹ uy thế lâu đời của nó trong đời sống, lần lượt bắt buộc phải nhường chỗ cho một ngôn ngữ khác cụ thể hơn, gọn gàng hơn, dễ nhận hơn, nhanh chóng hơn, ngôn ngữ của những dãy dãy tiếp chuyển hình ảnh tới tấp chồng chất.

Thơ bây giờ sẽ phải như thế nào đây? Có lẽ không một người làm thơ nào không trăn trở vì câu hỏi đó. Ngôn ngữ đích thực đã bị sàng sẩy giản lược vào mỗi chức năng đầu tiên thô sơ là trao đổi giao thiệp xã hội thuần túy. Phần huyền nhiệm sâu thẳm vốn ôm ấp ẩn chứa bao nhiêu là tình tự tích lũy nghìn đời của ngôn ngữ đã bị chính đời sống xã hội một cách không thương tiếc, tước bỏ, lãng quên không cần dùng tới nữa.

Nhiều thể loại văn học cáo chung. Sách vở bị truất phế. Thư viện có nguy cơ trở thành hầm mộ của những xương cốt cổ thời. Và rồi theo cái đà đó, điều gì sẽ xẩy đến với con người? Hẳn cũng chẳng khó khăn gì mà chẳng tiên cảm được điều này: đó sẽ là thời kỳ khô hạn, héo rụi khác thường của con người cằn cỗi, rã rời, thời kỳ đáng sợ nhất trong suốt dòng lịch sử nhân loại. Có lẽ vậy. Việc đánh mất cái phần trừu tượng của con người hiển nhiên sẽ dẫn đưa đến việc đánh mất toàn thể con người. Sự tắt lụi của ngôn ngữ đích thực cũng đồng nghĩa với sự tắt lụi của chất lửa tồn trữ trong phiến đá sống là con người.

Và rồi sau đó nữa thì sao? Mong mỏi thay cho con người sẽ vì niềm luyến nhớ ám ảnh day dứt khôn nguôi về chính hồn mình từ lâu lạc loài thất tán, lại phải đem thân dầu dãi vào một cuộc phiêu lưu khác nữa, một cuộc phiêu lưu chắc chắn cực kỳ gian truân để tìm gặp cho bằng được chính hồn mình giữa cảnh giới bao la trù mật thanh sắc của ngôn ngữ đích thực mà ở đó, bao giờ thơ cũng là hình dáng biểu hiện cao diệu nhất. Và như vậy, cho dù ở vào tình huống nào đi nữa, càng thách đố càng phải nỗ lực, chúng ta đã chẳng muốn để mất đi lòng tự hào được làm người, chúng ta sẽ còn tiếp tục vun dưỡng cái thần siêu đẳng của ngôn ngữ, còn tiếp tục đọc thơ, làm thơ, nếu như chúng ta còn có một phẩm giá nào đó cần phải bảo trọng. Bởi lẽ thơ chính là phần sinh lực dự trữ tối hậu mãnh liệt nhất của con người không bao giờ khứng chịu bị hủy hoại vong thân. Đó là lý do tồn tại chính đáng cao cả của thơ để cho con người cùng tồn tại với. Khoảng cách cho là có giữa đời sống và thơ sẽ chẳng còn là khoảng cách nữa nếu như hồn thơ trong con người đã thức dậy, đã hiển minh.

Thơ là con đường trải dài của thời gian, nối liền quá khứ với hiện tại nhằm hướng đến tương lai, không gián đoạn, trong nỗ lực xác nhận sự đồng nhất của hồn người toàn vẹn. Nếu lịch sử là nỗ lực mô tả những diễn biến cụ thể của thời gian thì thơ, một cách khái quát, là lịch sử trừu tượng của thời gian, là phần hồn thiêng của lịch sử. Nhìn thấy thơ như vậy mới thật sự nhìn thấy đầy đủ thơ.

Tô Thùy Yên
(Ngày Nay Minnesota số 164, 31-3-1996)

tranduyduc-tothuyyen-dtl-huyphuong

bar_divider

Xúc cảm cùng thơ Tô Thùy Yên

** Đinh Trường Chinh ** May 24, 2019

thubutTTY
Thủ bút nhà thơ Tô Thùy Yên và ảnh Đinh Cường & Tô Thùy Yên

“ví dù ta ngủ không còn dậy
ắt hẳn lòng ta cũng dửng dưng

đã đôi lần, tôi đã rơi vào cảm giác ấy. chỉ muốn ngủ một giấc thật dài. dửng dưng tạm biệt cuộc đời vô lượng. nhưng rồi khi thức dậy, thấy mặt trời lên bừng cháy, lòng lại không khỏi reo vang.

“bạn có nghe, này bạn có nghe
vũ trụ miên man chuyển động đều”

phải chăng. con người luôn có những cuộc xung đột thẳm chung trong mình như thế. thậm chí, khi tỉnh giấc, lại tham lam muốn ôm hết cái đẹp của cuộc đời. muốn cảm ơn một nhành hoa lẻ loi. muốn đi đến tất cả những ngóc ngách cuộc đời.

“đến ngã ba, đành theo một lối
tiếc ngẩn không cùng theo lối kia”

những ngày này, có khi tôi cảm thấy dửng dưng trước cả cái chết của một ai đó, ngay cả người thân quen. cùng lúc, lòng lại chùng xuống vực sâu, cũng vì một cái chết ấy.

và có lẽ buồn hơn cả khi chúng ta đã ngồi chờ đợi một sự ra đi, sẽ đến, sẽ kề bên. như hơi thở. yếu dần. tôi đã từng ngồi bên bố tôi với ba hơi thở cuối. mỗi hơi thở mỗi cách nhau dần xa hơn. từng nhịp. 1 giây, 2 giây, 5 giây…
rồi ngưng hẳn. im lặng.

nhận ra rằng im lặng cũng là một tiếng động. the sound of silence. như một tiếng rơi sủi tăm xuống vực thẳm.

tử là quy, là trở về quê hương đích thực của mình. tôi thấy ông như trở về miền đất cũ. không hẳn phải là Gia Định. quê hương, có khi ông gọi là “Ngôi Nhà Lớn”, hay có lúc chỉ xem như “gian nhà cỏ”. quê hương là vũ trụ lớn/nhỏ này. để trở về, rất thảnh thơi. vì những người thi sĩ như ông đã nhìn ra, đã hiểu, thấy tất cả. “vinh dự lầm than” một kiếp người. đã sống trọn và trao tặng cuộc đời những bài thơ đẹp đến từng đơn vị chữ .

nếu có nhớ đến thi sĩ thì cũng chỉ biết lấy thơ của họ, “viết” lại cho chính người thi sĩ ấy .

“ngày kia trở lại Ngôi Nhà Lớn,
lòng những bằng lòng một kiếp chơi

mai sau, nằm lại bên bờ cỏ
thôi cũng an lòng ta có đi”

đtc
chút cảm xúc trưa 22.5.2019

(*) những câu thơ trích trên đều của Tô Thùy Yên.

ToThuyYen-DinhCuong2
Tô Thùy Yên & Đinh Cường
to-thuy-yen-1
Đinh Cường vẽ Tô Thùy Yên

bar_divider

Bài viết về nhà thơ Tô Thùy Yên dưới đây được được trích từ tập di cảo “Mặc Khách Sài Gòn” của cố nhà thơ Tô Kiều Ngân. Hình ảnh nhà thơ Tô Thùy Yên được Tô Kiều Ngân khắc họa bằng những dòng văn đầy cảm xúc.

MacKhachSaiGon-ToKieu%20Ngan.jpg

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu

Trại của tôi cách xa trại Tô Thùy Yên nhưng thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau trong những lần đi lao động, đẵn cây đốn nứa. Có lần gặp chỉ đủ để Yên dúi vào tay tôi một gói thuốc lào rồi sau đó là mỗi người một ngả.

Có lần đứng trong sân trại nhìn qua hàng rào kẽm gai tôi thấy Tô Thùy Yên đang gánh một gánh khoai mì đi qua. Anh bước đi có vẻ nặng nhọc. Vai bị gánh khoai mì trĩu xuống, lưng cong như lưng tôm, mồ hôi chảy có giọt.

Tôi bỗng xót xa nhớ đến đêm nào cùng anh và Cung Tiến còn đi “tăng hai” ở Sài Gòn… Bữa ấy Trần Lê Nguyễn có bày tiệc nhậu. Có mặt Mai Thảo, Thanh Nam, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Tô Thùy Yên và tôi. Tiệc tàn, mọi người lục tục đứng lên. Trịnh Công Sơn say xỉn vào nôn mửa trong phòng tắm. Trần Lê Nguyễn sau đó cũng đã ra về. Còn lại Cung Tiến và Tô Thùy Yên chẳng chịu về, nhất định đòi đi “tăng hai”. Đêm đã hầu khuya, chiều bạn tôi đem hai cậu lên xe hơi chở xuống Phú Nhuận. Trời mưa lất phất. Con đường vào hẻm sũng nước, loáng loáng ánh đèn. Tô Thùy Yên xuống xe, hai tay vén ống quần chạy lúp xúp trên đường mưa, vừa chạy vừa cười khanh khách. Cung Tiến thì nhà nào cũng đập cửa rầm rầm báo hại bọn thanh niên trong xóm nhào ra, xô ngã Cung Tiến nằm lăn ra đất. Cơ khổ chàng nhạc sĩ tác giả những bản nhạc tuyệt vời: Hoài Cảm, Nguyệt Cầm, Hương Xưa tay chân vung vít, miệng la bải hoải: “Sao lại đánh tôi… sao lại đánh tôi…” Còn tỉnh nên tôi xin lỗi bà con trong xóm và lại đem hai lãng tử lên xe, chạy về gần thấu nhà mà còn chưa chịu xuống, còn đòi “đi nữa”.

Tiếng cười của Tô Thùy Yên đêm ấy và hình ảnh anh chạy lúp xúp trong mưa tôi còn nhớ rõ. Tiếng cười sao mà hồn nhiên ngây thơ so với hình ảnh Tô Thùy Yên oằn mình dưới gánh khoai mì hôm nay thật là một sự đối nghịch quá đau lòng.

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, lúc bấy giờ là một quận ngoại thành Sài Gòn. Anh học đến đại học, bị động viên đi học trường sĩ quan Thủ Đức, ra thiếu úy rồi được bổ về một đơn vị tác chiến thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sợ anh chết uổng, anh em vận động bốc thẳng anh từ Vùng Bốn về ngay trung ương để làm văn nghệ.

Cùng Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Ngọc Dũng… Tô Thùy Yên là nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, anh thường đăng thơ trong mục Thơ tự do của tạp chí Sáng Tạo, nơi được coi như đại diện của phong trào thơ tự do miền Nam thời 50-60.

Sau 30 tháng Tư, Tô Thùy Yên đi học tập cải tạo 10 năm. Được tha về rồi bị bắt lại, tính ra 13 năm tất cả. Ba năm sau, có lần anh bị biệt giam 7 tháng sau khi cắt mạch máu định quyên sinh. Cuối cùng, anh được cùng vợ là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và gia đình sang định cư ở hải ngoại theo diện H.O.

Tô Thùy Yên được nhiều người biết đến nhờ bài thơ “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” đăng trên tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo, năm 1956:

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu…

Cả bài thơ như những thước phim vụt qua. Hình ảnh đuổi bắt nhau. Cây cối, lũng đồi quay vòng đến chóng mặt. Cuối cùng con ngựa thở dốc, lăn kềnh ra giữa thảo nguyên “Chấm giữa nền nhung một vết nâu”. Hình ảnh như chụp từ trên cao xuống – cánh đồng thì mông mênh như vô tận, mướt cỏ nhung xanh còn con ngựa thì chỉ còn lại một vết nhỏ. Nó chết mà không biết vì sao mà chết. Cũng không biết suốt đời mình lao đầu phi về phía trước để làm chi? Những câu hỏi đó cũng đặt ra cho con gười, những tra hỏi không có lời giải đáp. Xưa nay trời đất vốn vô ngôn.

Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu
Ngựa thở hào hển, thở hào hển
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau

Tô Thùy Yên thật trẻ mà thơ lại thật già. Mỗi câu viết ra dường như chưa nói hết mà sau đó còn một chuỗi ý nghĩ để cho người đọc suy cảm thêm ra. Ý tại ngôn ngoại. Luôn bị cô đơn vậy hãm, bị đọa đày thân xác, dày xéo tâm hồn nhưng Tô Thùy Yên luôn chịu đựng, tìm chỗ dựa tâm linh, đề cao cái tâm độ lượng để vượt qua gai góc, khổ đau. Anh vẫn luôn mơ ước:

Bao giờ ta trở về dương thế,
Sống đáng vinh danh lại kiếp người,
Để thấy đường đi muôn lối rộng
Dập dìu những chéo áo reo vui?

Thơ Tô Thùy Yên đăng rải rác trên các báo tạp chí văn học, mãi đến năm 1995 anh mới xuất bản tập “Thơ tuyển”, có tất cả 37 bài, có nhiều bài rất dài, đó là tác phẩm chọn lọc của Tô Thùy Yên, một đời làm thơ, một đời yêu thương, một thời tù ngục.

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a ! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn, mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

1956

ToKieuNgan.jpg

Tô Kiều Ngân

bar_divider

SÁNG TẠO

** VÕ PHIẾN **

SangTao1-1956.jpgTháng 10 năm 1956 tạp chí Sáng Tạo ra đời. Tờ báo đáp ứng một sự thiếu vắng, nó được hoan nghênh ngay.

Trước “vận hội mới” quần chúng độc giả chờ đợi một xuất hiện mới trên lãnh vực văn nghệ. Loại thơ văn trên báo Đời Mới của Trần Văn Ân chẳng hạn không còn sức thu hút nữa, những sáng tác ra mắt trên nhật báo không thể thõa mãn, tờ Mùa Lúa Mới vẫn chỉ là của một địa phương. Tờ Sáng Tạo chính đã đến đúng lúc. Và nó đã nhằm đúng vào tâm trạng quần chúng: chờ cái mới.

Thoạt ra mắt, Sáng Tạo đã phát động ngay “một nền nghệ thuật mới”, “nghệ thuật hôm nay”. Phát động thật ồn ào. Mười bốn năm sau, Mai Thảo nói về lúc khởi đầu ấy vẫn còn nói bằng giọng say sưa: “Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu” (1) – Cách mạng chống lại cái gì? Phá bỏ cái gì vậy? – Những cái không thuộc về hôm nay: “Trong một thực trạng dày đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân thu, những luận đề Tự lực.” (2) Cuộc cách mạng này “tựu trung vẫn chỉ là lịch sử tiến trình biện chứng của những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế” (3)

Nhưng đến khi cần biết về “ngọn triều lớn” thì không thể biết gì rõ rang. “Văn nghệ hôm nay” chủ trương ra sao? Đưa ra lý thuyết gì? Vạch ra những đường lối gì? Bác bỏ văn nghệ hôm qua ở chỗ nào? – Nhóm Sáng Tạo không có giải đáp: “ … thế nào cũng được. Điều đáng ghi nhận là lên đường ấy đã có.” (4) Vâng, thì lên đường đã được ghi nhận xong; nhưng lên đường đi về hướng nào đây? Về thi ca, Mai Thảo bảo rất đại khái: “Và thơ bây giờ là thơ tự do.” (5); về các bộ môn khác, không thấy có ý kiến gì. Thơ tự do không phải là cái mới mẻ nữa. Nó không phải là sáng kiến của văn nghệ hôm nay, của cách mạng. Sau này, có lần Mai Thảo thú nhận: “Tôi không nhìn Sáng Tạo như nơi phát xuất và hình thành một dòng văn học nghệ thuật. Lớn chuyện quá. Một tinh thần nào, một cách thế thì có.” (6)

Nhìn như một tinh thần, thì đó là một tinh thần đổi mới đầy tự tin, đầy hứng khởi. Tinh thần ấy có sức lôi cuốn, động viên; một tinh thần đáng tán thưởng. Nhưng nhìn như một cách thế, thì cách thế Sáng Tạo có những chỗ khó bảo là “tuyệt đẹp”. Chẳng hạn trong lối “khai tử” nền văn học tiền chiến có một cách thế kiêu căng; chẳng hạn trong lối diễn đạt của những vị trong nhóm chủ trương có một cách thế kiêu kỳ; hoặc hoa hòe hoa sói, kiểu cách ưỡn ẹo, hoặc tối tăm rối rắm.

Tuy nhiên Sáng Tạo đã có những đóng góp đáng kể. Mặc dù chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn 31 tháng, nó đã phát huy được một số văn tài đông đảo. Nhiều người trong số đó về sau, sau khi tờ tạp chí đình bản, tiến lên giữ vai trò quan trọng trong những hoạt động văn nghệ riêng biệt của mình. Thanh Tâm Tuyền dần dần viết truyện nhiều hơn làm thơ, viết truyện rất thành công và có ảnh hưởng rộng trong văn giới lớp sau; Doãn Quốc Sỹ chủ trương một nhà xuất bản, giới thiệu thêm một số cây bút mới nữa (trong đó có Phan Nhật Nam); Nguyên Sa rồi đứng ra chủ trương các tạp chí Gió Mới, Hiện Đại, và có một uy thế riêng; Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (sau đổi ra là Nguyễn Đức Sơn) rồi trở thành những thi sĩ có bản sắc đặc biệt; Dương Nghiễm Mậu sáng tác mỗi lúc mỗi phong phú mỗi độc đáo, chủ trương nào nhà xuất bản nào tạp chí Văn Nghệ (cùng với Lý Hoàng Phong), là một cây bút xuất sắc hoạt động mạnh mẽ cho đến ngày cuối cùng của Miền Nam v. v…

NVVoPhien-06.jpg

Võ Phiến
(Trích “Văn Học Miền Nam Tổng Quan”
(Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ, tháng 7-1988)

1,2,3) Mai Thảo, “Đứng về phía những cái mới”, Tuyển truyện Sáng Tạo, Sống Mới tái bản tại Hoa Kỳ, các trang 8, 11, 13.

4) Sđd, trang 12.

5) Sđd, trang 11.

6) Nguyễn Nam Anh, “Mai Thảo, nhà văn ở phút nói sự thật”, tạp chí Văn, Sài gòn, số 192 ra ngày 15-12-1971.

bar_divider

SangTao8-1957.jpg

Tôi lên tiếng

Hãy nhìn ra máu chảy ngoài đường
PABLO NERUDA

Tôi gật đầu trước mặt ái tình
Như một loài cỏ ngoan vâng lời gió dạy
Kìa máu chảy ngoài đường
Kìa máu chảy
Tôi ra giữa công trường cất tiếng kêu oan
Nhân loại ngây thơ đời đời chịu tội
Sắt đỏ cày nhăn trán mịn màng
Lúa đầy đồng người gặt thiếu ăn
Chúng nó đòi thủ tiêu thi sĩ
Tôi là thi sĩ tôi yêu
Chúng ta góp tay đẩy đời đi tròn
Hỡi những người chỉ dám khóc trong giấc mơ
Tôi đáp lời bình minh tuổi trẻ
Được nhìn mặt trời sung sướng thay
Chúng ta cười trên môi bằng hữu
Trong mỗi bài thơ phải có những danh từ
Cách mạng hòa bình tự do nhân đạo
Nguồn ở đây thì biển cũng gần
Chúng ta yếu hèn chúng ta thắng trận
Tôi chào mừng thế kỷ ra giêng
Buổi chiều đỏ
Không khí đầy hơi thở khó khăn
Chúng nó hành hình thủ tiêu ám sát
Tôi là một người trong đám đông

Tô Thùy Yên

(tạp chí Sáng Tạo – số 8 tháng 5, 1957)

blinkingblockTHƠ TÔ THÙY YÊN TRONG TẠP CHÍ SÁNG TẠO (PDF) – Thư Quán Bản Thảo 

ToThuyYen-MaiThao.jpg
Tô Thùy Yên & Mai Thảo

bar_divider

5bd558ac

blinkingblock TRANG THƠ TÔ THÙY YÊN – Website: http://www.thivien.net

blinkingblockTÔ THÙY YÊN ĐỌC 2 BÀI THƠ: “CÁNH ĐỒNG, CON NGỰA, CHUYẾN TÀU” VÀ “TRƯỜNG SA HÀNH” (MP3)

ToThuyYen-banhuu2.jpg

Hàng ngồi từ trái: Ngọc Hoài Phương, Tô Thùy Yên, Đăng Khánh, Du Tử Lê.

Hàng đứng: Phương Hoa, bà Tô Thùy Yên, Khánh Minh, Tuấn Ngọc, Nguyễn Lương Vỵ, Bùi Xuân Hiến

bar_divider

ToThuyYen-NgoNhanDungDQAnhThai.jpg

Ngô Nhân Dụng và Đinh Quang Anh Thái – Người Việt Daily News – bàn về nhà thơ Tô Thùy Yên

blinkingblock Phần 1   blinkingblock Phần 2   blinkingblock Phần 3    blinkingblock Phần 4

bar_divider

Tô Thùy Yên: thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người

** BÙI VĨNH PHÚC **

Nguồn: Bài này đã đăng một vài đoạn khác nhau, lần đầu trên các nguyệt san Hợp Lưu và Văn Học (California), vào những năm 1992 và 1994. Toàn bộ bài viết được in trong Lý Luận và Phê Bình / Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995 của Bùi Vĩnh Phúc, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1996. Bài viết hiện tại được nhuận sắc và cập nhật vào tháng Một, 2019.

Biểu dương—hãy biểu dương cùng tận
Vinh dự lầm than của kiếp người
Hy hữu một lần trên trái đất
Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai.
TTY

.1.

Tô Thùy Yên là một giọng thơ đặc thù, có một, và vô cùng u hiển của nền thi ca Việt Nam trong dòng văn học miền Nam kể từ Sáng Tạo.

Từ cuối thập niên năm mươi cho đến thời điểm bị cắt đứt 1975, dòng thi ca miền Nam Việt Nam không phải là không thấy nổi bật lên những khuôn mặt khôi ngô của thơ, những tiếng nói mới lạ của tình cảm, của cảm xúc, của trí tuệ; không phải là nó không thấy rạo rực lên trong chính thân xác và tâm hồn mình cái thiết tha và mạch sống của thời đại. Mà không phải chỉ ở Việt Nam, nơi các luồng ý thức hệ trái chiều đã dùng làm địa bàn để thử nghiệm những con toán suy tư của mình, nơi những con sóng của các triều nước lý trí, dâng lên từ phương Tây và từ châu Mỹ, thỉnh thoảng hắt lên trên mặt đất này những lượng nước cuối mùa từ cái dòng trào của nó, con người nói chung, ở Việt Nam cũng như ở khắp nơi trên thế giới, nơi ánh sáng của văn minh nhân loại vẫn còn có cơ hội soi rọi đến, trong những thập niên ‘50, ‘60 và ‘70, đều đã tìm thấy cho mình một hơi thở mới, một tiếng nói mới, một cái nhìn mới về đời sống. Hơi thở ấy đẩy người ta đi vào cuộc sống mỗi ngày với một thái độ dấn thân và tha thiết hơn. Cái nhìn ấy đem vào nhãn giới con người những gì đã trượt ra khỏi tầm nhìn của nó ở những thế hệ trước, vì lý do này hay lý do khác. Và tiếng nói mới mà con người tìm được trong thời đại này đã giúp cho nó tìm xuống những chiều sâu mới của chính tâm hồn mình, dẫn nó đi qua những bậc đá trắng và lạnh của ngôi đền thâm u, kỳ bí, có khi in đậm hình bóng rêu rong của kinh hoàng, khủng khiếp, nhưng cũng có khi ứ đầy và chói sáng ánh mặt trời khiết bạch. Ngôi đền này chính là trái tim con người. Trái tim ấy bóp và đập, bóp và đập, nhưng trong từng giây phút, qua chính những nhịp bóp và đập ấy, nó để nở vào đời sống muôn vàn đoá hoa bí nhiệm làm nên cuộc đời của mỗi con người. Và làm nên cuộc sống của nhân loại.

Nhà thơ là người nhìn vào được trái tim của những đoá hoa bí nhiệm ấy.

Thơ, chẳng phải chỉ là những cửa ngõ để nhìn vào trái tim, mà thường khi, nó chính là trái tim. Nó là ngôi đền thâm u kia. Và nó cũng chính là những đoá hoa bí nhiệm của đời sống.

Tô Thùy Yên là một nhà thơ Việt Nam lớn lên trong cái bối cảnh tinh thần ấy của con người thế kỷ. Ông đã nhận chịu và đã kế thừa cái gia sản chung của nhân loại trong suy nghĩ và trong tiếng nói của mình. Nhưng trong tiến trình sống và phát triển, trong khi học hỏi và chia sẻ những kinh nghiệm chung của nhân loại, ông còn có được những kinh nghiệm riêng của chính mình. Những kinh nghiệm riêng này của Tô Thùy Yên là những kinh nghiệm của một con người nói riêng, mang cá…

BuiVinhPhuc

Bùi Vĩnh Phúc

Đọc tiếp: blinkingblock trang 3 bản pdf  

bar_divider

Tô Thùy Yên,thời gian, tồn tại, cô đơn và đá

** THỤY KHUÊ **

Hành giả của cô đơn, Tô Thùy Yên đáp chuyến tốc hành “cánh đồng con ngựa chuyến tàu”, năm 56, vào vòng khác biệt của thời gian, nghiền nát hình hài, đập tan bão tố, giã vụn tâm tư, biến tất cả thành hư vô, trừ đá: Đá ở lại. Đá ở lại, trong ánh tàn dư, khiến cho thời gian, đá và con người trở thành tương quan tồn tại.

Trên cánh đồng hoang thuần một mầu
Trên cánh đồng hoang dài đến nỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, tở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! Cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.  
          

(Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu, tháng 4-1956)

Ý niệm “chạy đua” lạ lắm. Mà đây không phải là cuộc chạy đua tầm thường giữa phường tục tử. Đây là cuộc chạy đua giữa ba “kẻ” không phải người, không cùng “giống”: Cánh đồng (đất và cỏ) vừa là một tĩnh thể bất biến (đất), vừa là một sinh thể lụi tàn (cỏ). Ngựa thuộc loài tử kiếp (mortel), cố rượt theo con tàu, guồng máy vô tri, vô kiếp. Tô Thùy Yên đã đoạn tuyệt với quá khứ thơ tiền chiến bằng cuộc đua này, một cuộc đua rất cô hồn, siêu thực và có thật. “Chúng” chạy đi đâu? Chạy vào không gian và thời gian, mịt mùng vô tận. Ngựa chạy mau, tàu càng mau hơn. Vân tốc (thời gian) càng gia tăng, cánh đồng (không gian) càng “dãn” ra như thể hai cái biển gian ấy cùng nhập bọn một lúc, điều mà Phạm Duy rất ngại: đừng cho không gian đụng thời gian (Thương tình ca).

Như thế, ý thức thời gian gia nhập lãnh phận Tô Thùy Yên ngay từ đầu, “thời gian” vào thơ như một nhận thức về sự tồn tại xuyên qua thời gian.

Ở ông, thời gian phát động những câu thơ rất sâu và rất mạnh:

“Thời gian” rũ trắng xương làm nhớ . . . .

“Thời gian” gia tốc thảm thê thay . . . .

“Thời gian” đứt quãng dài vô định . . . .

“Thời gian” mất trí trắng vô âm . . . .

Lục lại “thời gian” kiếm chính mình . . . .

Thăm thẳm trưa “thời gian” chết xanh . . . .

Hồn “thời gian” phất phơ lưới nhện

Thời gian đứt quãng là một nhận thức cô cùng sâu, dẫn đến những đớn đau khác: thời gian rũ trắng xương làm nhớ, thời gian mất trí, thời gian gia tốc, thời gian chết xanh, hồn thời gian phất phơ lưới nhện … và trong cái biển thời gian dữ dằn, tàn khốc ấy, có kẻ đi lục lại thời gian kiếm chính mình, thì quả là cao đạo.

*

Cùng với Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên đem ý thức về bản ngã, về nỗi hoang tưởng của con người vào thi ca những năm 60, với một phong cách khác.

Ở Thanh Tâm Tuyền, con đường ý thức được vẽ trên cấu trúc gián đoạn, tượng trưng mạch đứt của thời gian.

Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
Em bé quàng khăn đỏ ơi
Này một con chó sói

(Tôi Không Còn Cô Độc)

Ở mỗi tích tắc, Thanh Tâm Tuyền chụp một bức ảnh và dàn trải chúng bên nhau.

Ba hình ảnh “đêm ngã xuống”, “em bé quàng khăn đỏ” và “con chó sói” rời rạc, không có gì liên lạc với nhau, cả ba xuất hiện cùng một lúc thành một bức tranh “siêu thực lập thể”.

Ở Tô Thùy Yên, ý thức hoang tưởng xuất hiện dưới dạng cổ điển và liên tục. Tô Thùy Yên không phá cách trong hình thức mà phá cách trong tư tưởng:

Thời gian đứt quãng dài vô định
Như sợi dây diều băng mất tăm.
Lòng anh thảng thốt, sông chao song
Kỷ niệm buông tay, rú ngất chìm.

(Vườn Hạ)

Cách tạo hình siêu thực gắn với ý thức về bản ngã, về sự đứt quãng của thời gian, được Tô Thùy Yên nhào nặn nhuần nhuyễn trong một cấu trúc liên tục: Thời gian đứt quãng dài vô định như sợi dây diều băng mất tăm, lòng anh thảng thốt, sông chao sóng đến đây vẫn là một “chuỗi thơ” hiền lành theo lối cũ, bỗng “kỷ niệm buông tay, rú ngất chìm”, từ đâu rớt xuống khiến người đọc thảng thốt, giật mình kịp thấy nỗi hoang mang, hoang tưởng. Trễ rồi. Hắn đã nhập cuộc. Vào cõi thơ Tô Thùy Yên, vào cõi hoang tưởng của chính mình, với những hình ảnh cực kỳ phức loạn: “nằm nghe tóc rụng”, “chiều hôm nhìn lửa nhớ tiền thân”, “con rạch đen nồng như máu chết”, “mắt người sâu vời vợi ẩm hơi chiều”, “đất bạc màu đi, đất bạc màu”.

Đi từ những nghiệm sinh về sự tồn tại và thời gian, rất Heidegger ấy, thơ Tô Thùy Yên đớn đau và sâu sắc, ông tạo ra một mẫu cô đơn hành giả, có khả năng đi ngược thời gian, suốt đời tìm lại chính mình, đằng vân trong một vũ trụ đau thương, ô nhiễm những lừa lọc, tội tù và chết chóc:

Nao nao mường tượng bóng mình
Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền
Xuống đò, đời đã bỏ quên
Xuống sông nước lớn trào lên mắt ngời.

(Qua Sông)

Những chyến đi tuyệt vọng chỉ kéo dài thêm, lâu thêm, nỗi khắc khoải của cô đơn:

Năm tháng nhúng hoàng hôn
Đến rã rời thể xác
Tôi đã thấy mất mát
Tất cả trừ cô đơn.
Cuộc sống nhiễm lầm than
Nằm liệt trên buồn bã
Thượng đế điềm nhiên lạ
Tôi đánh liều cười khan

(Thân Phận Của Thi Sĩ)

Nhưng nói gì, làm gì rồi cũng thế thôi, cũng thừa thôi. Bởi từ lâu, người đãng tử ấy đã biết rằng:

Chim đã bay quanh từ vạn cổ
Gió thật xưa, mây thật già nua.

(Đãng Tử)

*

Với đá, Ngô Thừa Ân bắt đầu Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không là con khỉ đá. Tào Tuyết Cần mở Hồng Lâu Mộng bằng đá, Giả Bảo Ngọc là hậu thân của hòn đá dưới núi Thanh Ngạnh. Luận Ngữ, Tam Tự Kinh … trong Văn Miếu tại Trường An cũng khắc trên bia đá. Rút cục chỉ có đá còn lại. Đá ở lại. Đá ở lại sau khi tất cả những ánh tàn dư khác đều đã trôi đi, biến đi:

Trên dốc thời gian, hòn đá tuột
Lăn dài khinh động cả hư vô

(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

Tiếng kêu đá lở long thiên cổ
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn

(Góa Phụ)

Đá là thể xác của vĩnh cửu. Nhưng đá cũng lại muôn kiếp cô đơn. Đá không có bạn. Đá không nói. Không có thông ngôn. Đá đợi ngàn năm. Đá là nỗi đợi vô tận.

Nữ Oa góp nhặt những hòn đá lớn, ngoan cường nhất để vá lại bầu trời thương khuyết, nứt nẻ, tật nguyền. Với sự tính toán tỉ mỉ, Nữ Oa cho rằng: Phải cần đến hàng vạn năm mới kiếm được 36.500 hòn đá lớn để lấp kín vết thương của bầu trời. Bà chuẩn bị được 36.501 hòn đá, nhưng lại chỉ cần có 36.500. Hòn đá duy nhất, bé nhất còn sót lại bị bà bỏ quên trên núi Thanh Ngạnh.

Về tâm sự đứa con út của Nữ Oa, Tào Tuyết Cần viết: “Đá khát vọng lên trời, nhưng bầu trời bao la rộng lớn lại vứt bỏ nó. Đá muốn xuống với đất nhưng năm tháng dằng dặc qua đi, mòn mỏi đợi chờ vẫn không có cơ may để nó được đặt chân lên bàn cờ huyền bí trên mặt đất.” Nhà văn muốn giải thích cái nhân duyên của đá. Không được lên trời, không chôn xuống đất. Đá hóa thân thành: Giả Bảo Ngọc. Đứa con út của Nữ Oa, chẳng qua là con người bị kết án chung thân di chuyển, lủng lẳng giữa thời gian và không gian một chiều đi duy nhất: Tiến về cõi Không. Dẫm lên lầm than, tang tóc, cô đơn, phi lý, nguyền rủa, căm thù, lắng nghe những chuyện trần thế thất thiệt. Thân phận đợi chờ, di biến, trơ đá ấy, Tô Thùy Yên đã viết được, như một định mệnh, một vinh dự lầm than của kiếp người, như một định nghĩa của cô đơn, của con người, lửng lơ trong cõi vô chung, vô thủy:

Con chim bói cá trong tàn tối
Soi vĩnh hằng xanh rợn mặt hồ
Hư ảnh lờn rờn tụ tán tụ
Hoài công không định nổi chân như
Trái đất thì buồn như xác rỗng
Ta thì như gió, tuyệt bơ vơ,
Trăm năm, cửa khép hờ mưa nắng …
Mãi chẳng ai về qua gọi cho.
Ta đợi nghe chừng thiên cổ mỏi
Hàng hàng thân trụ đứng hư hao
Hoàng hôn, thần thánh bưng mặt khóc
Ta chẳng buồn thăm hỏi tại sao
Ôi đá địa đầu vần vụ mộng
Ai xưa qua yểm lại tình sầu
Thời gian rủ trắng xương làm nhớ
Gió cát không nguôi khóc dãi dầu.

(Nỗi Đợi)

Ý thức về đá làm lạnh thơ, giá băng những câu thơ tha thiết nhất:

Từng chút vỗ về, từng chút một
Em tạt vào anh rồi rút đi …
Thương tích chẳng lành chan muối xót
Bào sâu thân đá, nước tay ghì

(Hải Phận)

Và với lạnh băng ấy, nhà thơ đi vào hành trình ý thức, tìm lại chính mình:

Một sáng ta về qua bãi sụp
Thấy tàn tro váng biết là ta.

(Nỗi Đợi)

*

Ở Tô Thùy Yên, còn một con người nữa trong đó chất hành giả, ý niệm quân tử và hào hung nhào nặn thành một tâm hồn “tráng sĩ” hiện đại. Hình ảnh này rất được quần chúng (di tản) ngưỡng mộ. Giọng thơ quan hoài, biên tái, mang hào khí của người (anh hùng) bại trận, bất khuất. Coi nhẹ tù đày. Xem thường gian khổ. Kể chuyện mười năm lao cải nhẹ như lông.

Bài Ta Về được phổ biến ngay khi Tô Thùy Yên còn ở trong nước như một bài ca ngất ngưởng của người tù cải tạo, cao ngạo trở về, với cái ta khinh mạn và ngạo nghễ:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai …
Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ?
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta – mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm, mặt xạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ,
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

. . . .

(Ta Về)

Nhiều người cho Ta Về, Chiều Trên Phá Tam Giang, Trường Sa Hành … là những bài thơ tiêu biểu Tô Thùy Yên, có lẽ tiêu biểu thơ chính khí, chính luận thì đúng hơn. Bài Ta về, như có ý tái tạo một chính nghĩa, môt chí khí cho người bại trận, xướng lên cái căn cước của miền Nam, tấm long “rộng lượng” của người tù lao cải, sẵn sàng tha thứ cho những kẻ đã hành hạ, đày đọa mình.

Nhưng dường như thơ hay không cần chính nghĩa, không cần bày tỏ. Lão Tử có nói đến tính “vô ích” của các sự xướng danh. Vô danh mới là Đạo. Đạo thường ẩn. Đạo vốn mộc mạc, không có tên. Không có tên nên mới có khả năng biến hóa. Thơ hay không lộ. Mà lại ngại những hình ảnh cliché, sáo mòn như thơ đề vạt áo, niềm đau phế phủ, chốn rừng thiêng, tiếng nghìn thu, truông cùng phá, hóa thân thành vượn … Những nỗi đau thật không hợp với tạng chữ lấp lánh láng diện, như thể đám tang không mặc áo màu.

Cho nên những câu thơ như:

Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn
Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ.

trong Trường Sa Hành, dù được ca tụng, e rằng chúng cũng rất xa với nỗi quạnh hiu dù rất lớn của nhà thơ và của con người.

*

Ở Tô Thùy Yên, cô đơn, hiu quạnh và thất phận âm ỷ dưới những câu thơ khác không viết hoa, khiêm tốn hơn, tinh tế hơn và ít được chú ý hơn.

Dường như nỗi đau đã đến với Tô Thùy Yên từ rất sớm, từ những ngày đầu chiến tranh, nỗi đau đời, bắt gặp một đêm qua bắc Vàm Cống:

Đêm qua bắc Vàm Cống,
Mối sầu như nước sông,
Chảy hoài mà chẳng cạn,
Cuốn phăng kiếp bềnh bồng.

. . . .

Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy về hồn
Khi tôi vuốt lấy mặt
Nghe bàn tay trống trơn

Đây là một trong những bài thơ lọt vào người như kẻ trộm như lời Tô Thùy Yên. Chính cái khẽ khàng, cái nhỏ nhẹ ấy mới thấm và đau, nó là những sợi thần kinh của cảm giác. Không hề có những chữ “lớn” mà mối sầu vẫn lớn. Một thời gian gian dối: Đốt tàm thêm tháng năm. Một trống vắng âm thầm xâm lấn, cô đơn nạo sát hồn người: Khi tôi vuốt lấy mặt, nghe bàn tay trống trơn. Thơ đã tìm được tần sóng của những ngõ vắng, những lối lạc của tâm hồn; thơ mở những cửa kín, phát lộ những nỗi đau dấu sâu trong tim người.

Bài Vườn Hạ, lạnh lung chăng lên phận số con người, những kiếp mỏng manh như những sợi diều, bị bắt làm con tin cho một mẹ mìn thời gian luôn luôn bất trắc phản bội chỉ chờ dịp là quất ngựa truy phong:

Thời gian đứt quãng dài vô định
Như sợi dây diều băng mất tăm
Lòng anh thảng thốt, sông chao song
Kỷ niệm buông tay rú ngất chìm.
Ai ngắt dùm anh cây cỏ sướt
Làm đôi gà đá, đá ăn cười
Mùa hè đi khuất kêu không lại
Bãi mía điêu tàn gốc cháy thui.

Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh.
Ngoài cõi chói chang hư áo múa
Dường như ai gọi ấu danh anh.
Hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc
Đất ẩm vương hương, cỏ trở màu
Ai cúi soi mương rong khỏa mặt
Thấy hồn mùa cũ đọng xanh xao.
(Vườn Hạ)

Một mối ‘sầu” mới dấy lên, không phải sầu tiền chiến, sầu lãng mạn Lưu Trọng Lư, Huy Cận. Sầu Tô Thùy Yên mang tính chất nội tại, sầu hiện sinh, sầu sống, sầu hôm nay, sầu tự bản thân lan ra vũ trụ “lòng anh thảng thốt sông chao sóng” khác với sầu hôm qua, “sóng cuộn tràng giang buồn điệp điệp” (Huy Cận). Sầu mới xuất phát từ người, làm chao đảo thiên nhiên, khác với sầu cũ: thiên nhiên gây thương cảm trong lòng người.

Ở cõi sầu mới, con người làm chủ tình cảm và tình thế, vũ trũ bị nhân hóa (việc nhân hóa này rất khác với nhân cách hóa trong thơ lãng mạn: phất phơ hồn của bông hường, Xuân Diệu) như: Trời cao mỏi mắt chòm mây bạc: trời, mây ở đây là người, chứ không bị ví là người như bong hường của Xuân Diệu.

Thăm thẳm trưa thời gian chết xanh, ngoài cõi chói chang hư ảo múa, hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc, đất ẩm vương hương cỏ trổ màu …: thời gian, hư ảo, hàng cây, đất, cỏ … đều là người, và người lại biến thành vật ảo, thành bóng ma của chính mình:

Ai cúi soi mương rong khỏa mặt
Thấy hồn mùa cũ đọng xanh xao.

Những rung động mới này xuất phát từ những nghiệm sinh về tồn tại và thời gian, hợp với cách tạo hình siêu thực, tạo thành ”nỗi đau hôm nay”, một nỗi đau xâm thẳng vào bản thể, dày vò tâm thức, cực kỳ nhức nhối (khác hẳn với nỗi đau lãng mạn êm dịu thời tiền chiến), tạo nên những hình ảnh thầm lặng mà vô cùng chua xót như mùa hè đi khuất kêu không lại, thăm thẳm trưa thời gian chết xanh, thấy hồn mùa cũ đọng xanh xao … Nơi Tô Thùy Yên, có tồn tại nào qua mắt được thời gian? Tồn tại và thời gian ẩn kiếp trong nhau: Không biết ai phụ ai? Ai lấn át ai? Ai chết trước ai?

Hải Phận, một bài thơ nhỏ với mối sầu lớn. Tô Thùy Yên dựng hải phận tình yêu trong hải phận người. Vừa chia cắt, vừa gần gụi như biển và cát, như nước và đá. Ảo tưởng gần xa, hợp tan, sáng tối, tuy một mà hai, giao nhau tạo nên một mối sầu non trẻ luôn luôn bắt đầu, luôn luôn trở lại:

Như một con sò giữa chiếc vỏ
Chúng ta cuộn trốn trong tình yêu
Như đôi dã tràng không biết mỏi
Chúng ta khởi sự lại mối sầu
 
Từng chút vỗ về từng chút một
Em tạt vào anh rồi rút đi
Thương tích chẳng lành chan muối xót
Bào sâu thân đá, nước tay ghì.

Người lính trong hải phận cũng nhập nhằng, khiêm tốn. Ở đây không có khí hạo nhiên, không có lời hào sảng mà chỉ là những tích tụ đau thương, nhục cảm, tìm đến đối tượng yêu đương như một cõi sống, cõi về, cõi hải đăng sáng diệu:

Anh sống làm quen cùng cái chết
Liếm lấy mặn mà trên đau thương
Chìm mãi xuống em và mất tích
Như mặt trời rã trong nước loang.
Vị thần mun hải đăng trơ trọi
Trừng mỏi con mắt ngó không gian
Em trở về em chờ biến đổi
Trở về em như kim chỉ nam.

(Hải Phận)

Sau này, nếu tất cả nhân gian đã bị thời gian cuốn đi, ý thức cô đơn nơi Tô Thùy Yên sẽ còn dội lại như một âm thừa tưởng lạc đến muôn sau. Và những gia tốc vận hành của nhà thơ, ngược thời gian, tìm về tiền thân, rồi cũng sẽ được lưu lại như một thử nghiệm tư tưởng.

May ra, trong một mùa hạn nào đó, Tô Thùy Yên sẽ tìm thấy:

Ở đâu còn cụm mây hư ảo
Bay tự ngàn năm trắng cổ thi
Tưởng tượng ta gom vào hiện kiếp
Trọn luân hồi ấy, một lần đi.

ThuyKhue

THỤY KHUÊ

Paris tháng 10/1998
(Trích Sóng Từ Trường II, Thụy Khuê, nxb Văn Nghệ, 1998)

bar_divider

NGỰA PHI ĐƯỜNG XA

Đặng Tiến

ToThuyYen-DangTien

… Gần đây và hiện nay, về mặt văn hóa, trong nước đang thảo luận dài dòng về đề tài: truyền thống và hiện đại; dân tộc và thế giới; cái riêng trong cõi chung… Ý hướng tốt: muốn liên minh cái nọ với cái kia, điều hòa cuộc sống dân tộc trong một thế giới đang bước đi những bước khổng lồ.

Thực tế văn hóa, nghệ thuật không rắc rối như vậy. Người nghệ sĩ làm thơ, vẽ tranh một cách hồn nhiên muốn sao làm vậy, rồi tác phẩm của họ nó ra sao còn tùy; dân tộc hay hiện đại là do người xem người đọc. Nếu rung cảm chân thành và sâu sắc thì phải mang đủ hai yếu tố, với phần liều lượng khác nhau.
Nói rằng điều hòa truyền thống với hịện đại, ngày nay trở thành một khẩu hiệu, một cách chào hàng trong thị trường văn hóa. Trong thâm tâm người sản xuất đã có hậu ý đối lập: làm sao cho có bản sắc dân tộc mà vẫn hiện đại; làm sao theo kịp các trào lưu của thế giới mà vẫn giữ truyền thống. Hai chữ “mà vẫn” có tính cách lãnh đạo và tham lam. Mà lãnh đạo và tham lam là phi văn hóa. Người nghệ sĩ chân chính, dù cho bề ngoài phải chịu ức thúc, nhưng trong đáy tâm hồn, trong cõi thâm sâu của sáng tạo, họ là những cá nhân tự do sống và sáng tác với “cái có trong ta” như chữ nghĩa Tô Thùy Yên.

Con người nô lệ, vụ lợi và xu thời, giỏi lắm là nghệ nhân hay văn công. Trong thực tế sáng tạo, dân tộc và hiện đại là một đơn vị bất khả phân. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, trong một tác phẩm mới in, đã nói chí lí và dũng cảm: “cái khẩu hiệu Dân tộc Hiện đại của văn nghệ chúng ta trong nhiều năm nay là một mệnh đề thiếu chính xác và hoàn chỉnh ngay ở mặt tu từ (…) khẩu hiệu này thiếu cái hàm ý nhân loại trong truyền thống” (tr 58). Trong một bài khác, anh nói thêm “ Cũng vậy đối với nghệ thuật bản sắc dân tộc và tính toàn cầu phải được hiểu là một”.(tr 73).

Cần nêu lên tiền đề này trước khi đề cập đến đề tài cục bộ: Tô Thùy Yên, dân tộc và hiện đại, đặt một trường hợp riêng lẻ trong cuộc thảo luận chung của đất nước – dù rằng cuộc thảo luận khập khiễng. Nói khác đi, vấn đề không đặt ra với tôi; với tôi chỉ có thân xác những bài thơ ngoài thời gian và vô quốc tịch; nó là thơ Tô Thùy Yên thế thôi, không dân tộc hiện đại gì ráo. Nhưng với người đọc – người đọc báo chẳng hạn, người viết có nhiệm vụ (và hạnh phúc) phải cập nhật hóa bài viết, trong bối cảnh lý luận rộng lớn hơn, hiện hành trên đất nước.

Tô Thùy Yên đến với văn học Việt Nam ở một giai đọan mới, mở ra tại miền Nam khoảng 1955-1956. Anh là thanh niên trí thức, đọc nhiều sách báo nước ngoài, trên một mảnh đất mở vào “Thế giới tự do” thì dĩ nhiên tâm hồn và trước tác cũng phải hiện đại: câu thơ, nhịp thơ, hình ảnh, ý tứ trong thơ Tô Thùy Yên minh chứng điều đó, chúng ta không cần đồ họa lôi thôi. Cái chính là làm nổi bật tính dân tộc trong thơ Tô Thùy Yên, đã đưa thơ anh đến với một nhân loại muôn đời, vượt qua hàng rào “hiện đại”…

MỜI XEM TOÀN BÀI: “NGỰA PHI ĐƯỜNG XA” CỦA ĐẶNG TIẾN

NguaPhiDuongXa.jpg

Tranh: Nguyên Khai

bar_divider

MuaHan-TTY-p1.jpg

MuaHan-TTY-p2.jpg

MuaHan-TTY-p3.jpg

TraiCaiTaoCongSan.jpg

bar_divider

TauDem-ToThuyYen-p1.jpg

TauDem-ToThuyYen-p2.jpg

ToThuyYen-04
Đứng: Luân Hoán, Tô Thùy Yên, Phan Ni Tấn, Trần Hoài Thư, Song Thao / Ngồi: Nguyễn Hữu Chung, Trang Châu

bar_divider

Triết trong thơ Tô Thùy Yên

** VÕ PHIẾN **

(…) Bảo rằng trong thơ Tô Thùy Yên có chủ đề triết lý, bảo thế e chưa thích hợp. Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ. Bí ẩn đó là ám ảnh chủ yếu của đời ông (…)

Đãng tử – cũng như góa phụ, như chim biển bắc – của ông chẳng qua là biểu tượng. Cuộc đi ông nói đây là cuộc đi trong kiếp nhân sinh mờ mịt, không bến bờ không định hướng, cuộc đi bắt đầu từ vạn cổ mà rồi không bao giờ kết thúc, là cuộc “tuần du bất tận”. Sự sống giục giã: gió thổi, chim bay, mây xôn xao, thủy triều sôi réo… Phải lên đường chứ. Nhưng lên đường về đâu?

“Đến ngả ba, đành theo một lối
Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia.
” (Đãng Tử)

Ôi, thân phận người đãng tử của Tô Thùy Yên.

Có lần khác ông viết về mối tình ngày nhỏ: “Vườn Hạ”. – Tình xưa, kìa, có phải như Tố với Hoàng một đời thiết tha? hoặc giả có phải thân nhau từ thuở bé thơ như Mùi của Siêu chăng? Vậy thì mùi mẫn biết mấy!

– Hừm. Đâu có. Làm gì có sự mùi mẫn đối với một người tình không chân dung? Ở đây không có dáng hình kiều diễm nào. Không mặt mũi vóc dáng, không tên tuổi, không có cả một màu áo. Không ai trông thấy giai nhân đâu, ở đây chỉ gặp một nhân vật tàn nhẫn mang tên là Thời Gian.

(…) Cái yêu (…) không là chủ yếu (…) ông (…) suy tưởng buồn rầu về chuyện “mai kia mốt nọ”. Khiếp, cái mai mốt nghĩ mà kinh. Mai mốt anh về:

“Hỏi em, em lấy chồng xa xứ
Hỏi bạn, bạn lìa quê bặt tin.

Không còn bạn, không còn tình, ông chiêu hồn tuổi dại, ông lay gọi:

“Thơ ấu, dậy đi, mừng dụi mắt
Cùng anh chạy nhảy tiếp thời vui.

Thời vui, anh với em đá gà bằng cỏ xướt, đùa giỡn la rân dưới mưa, lăn vòng, đá bong bóng nước v.v. Nhưng mai mốt không ai còn có thể chạy nhảy tiếp một thời vui. Không ai tiếp được cái gì nữa cả. Thời gian xóa hết. Cái chân dung nghìn mặt của Thời Gian có những nét đáng hãi:

“Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh
Ngoài quãng chói chang hư ảo múa
Dường như ai réo ấu danh anh (…)

(…) Nằm đây phủ sáng hằng hà sao
Nghe thủy triều lui bậc bậc sầu
Nghe tiếng mõ chùa khô khốc khóc
U minh ngày tháng bóng lao đao (…)

(…) Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi
Chờ nhau cho đáng kiếp chờ thôi
Tuổi già gom lại bao thương tưởng
Như cuối vườn chiều mót củi rơi.” (Vườn Hạ)

Giữa cái vui hôm nay với cái buồn mai kia mốt nọ, sự thay đổi khiến ta liên tưởng đến cảnh Hồng lâu mộng. Mới ngày nào, một cậu bé trên mười tuổi giữa cái xôn xao của đám đông đảo hàng bốn trăm rưởi nhân vật, đa số là đàn bà con gái thơm tho xinh đẹp, nói cười ríu rít, quấn quít yêu thương. Rồi chẳng mấy chốc, xuân chưa qua hạ chưa đến, mà tan tác đã xảy ra (…)

(…) một lần khác, Tô Thùy Yên làm thơ về đảo Trường Sa. – Ờ ờ, ông đi nhiều mà. Gặp cảnh đẹp ông dừng chân hứng bút đề thơ, bốn câu ba vần, hay tám câu năm vần chứ gì?

– Nói vậy sai lắm, sai quá lắm. Đừng nói với ông làm chi chuyện đẹp với không đẹp, chuyện ngắm với nghía. Ông đến đây, trong lòng trong trí bận bao nhiêu cái khác. Ông thắc mắc hỏi han:

“Mùa đông bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.”

Ông tủi hổ về sự nhỏ nhoi của kiếp người; ông muốn cùng bể khơi cùng khóc:

“Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.
” (Trường Sa Hành)

Ở Trường Sa, cũng như ở phá Tam Giang, và có lẽ ở động Hương Tích, ở đỉnh đèo Ngang hay ở Động Đình hồ cũng thế thôi, ông không có thái độ thưởng ngoạn; thái độ ông vượt ra ngoài sự bận tâm về cái đẹp xấu:

“Chiều trên phá Tam giang
Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng
chợt hãi hùng
Dớn dác ngó
.” (Chiều Trên Phá Tam Giang)

Ở Trường Sa, cũng như ở phá Tam Giang, và ngay những khi không đi đến đảo xa phá rộng nào cả, đến chốn đại dương mênh mông hay trước sóng to gió lớn nào cả, ngay một buổi sáng như mọi buổi sáng, ngồi trước ngôi nhà ở làng quê, ông cũng nghe được cái ít người nghe: cái cựa quậy của đất trời:

“Ta ngồi trước ngõ nghe xao động
Trời đất bào thai cựa cựa nhanh
Mầm cỏ nhoi nhoi lên rạo rực
Con chim chèo bẻo hót lanh chanh.”

Rồi đứng lên đi loanh quanh, gặp dăm ba người làng, ông cũng nói được cái ít người nói trong những dịp ấy: ý nghĩa đời người.

“Ta ngồi cho đến khi trời trắng
Đồng ruộng xanh đông đúc tiếng người
Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi.”

Và ngộ nhất là dẫu không làm gì cả: không đi không ngồi không nghe không nói gì cả, chỉ có hoặc nhìn một ngọn cỏ, hoặc chỉ thở, chỉ sống không thôi, ông vẫn có dịp đề cập đến tận vấn đề rốt ráo của nhân sinh:

“Gặp buổi trời mưa bay phới phới
Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân
Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá
Vậy mà ta sống có kỳ không?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm…”(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

Ông Tô Thùy Yên! Giá Thượng Đế mà biết được trong vô vàn chúng sinh có những đứa sống đầy ý thức như thế, không một phút giây nào không chăm chú từng hiện tượng lạ lùng của cuộc sống, không thấp thỏm ngạc nhiên, có đứa sống một cuộc sống đầy thao thức sáng tạo như thế, chắc Thượng Đế không khỏi thêm hãnh diện về công trình của mình, và chắc chắn Người… yêu ông biết chừng nào (…)

(…) “Cây dừa ngất gió trùng điệp” gợi ông một “kiếp đau dài” (Trường Sa Hành); “gốc cây nứt nở vỏ” nói với ông “bao điều thầm lặng lớn” mà “trí ta không đủ lực đo lường” (Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ); góa phụ khóc chồng, ông kêu “em khóc làm chi lẽ diệt sinh”; tiếng con chó tru ông thấy “thăm thẳm ngây thiên địa”; gái góa tìm chồng không phải tìm trong vườn ngoài nội mà là… “chạy tìm anh ngoài cõi gió”… Tâm hồn ông tưởng chừng có kích thước vũ trụ (…)

(…) Ông (…) hàng ngày ra vào cửa sinh cửa tử, đàm đạo với khí Âm khí Dương, chuyện trò với cái Vô Cùng cái Bất Tận v.v… Trông cây dừa ông không chỉ thấy cây dừa, nhìn gốc cây ông không chỉ thấy gốc cây, nghe chó tru không chỉ nghe chó tru v.v. Những hình ảnh âm thanh nọ còn là những ký hiệu, để ông đọc cái nghĩa đời, ông đọc ra lời nói của Thượng Đế, đọc những tiết lộ về bí nhiệm của cuộc sống. Thơ ông là thế. Không sao? Thơ ông là thế, là triết đấy. Thơ ông là triết, nhưng ông không phải là triết gia. Theo cái nghĩa một đấng suy tư, theo cái hình ảnh một kẻ sói đầu, khắc khổ miệt mài. Nếu miễn cưỡng phải là triết gia, ông là thứ triết gia ràn rụa nước mắt, triết gia héo hắt tâm can. Ông không vắt óc nghĩ ra tư tưởng; ông cảm xúc triết lý, bằng tấm lòng, bằng ngũ quan. Cái triết này không tháp ngà tháp nghiếc gì. Không tháp, không đền, cũng không phải thành hình từ trong phòng, trong liêu, trong am, trong động, trong hang nào cả. Những câu hỏi của Tô Thùy Yên đặt ra là đặt giữa trời đất bao la, giữa bể khơi ầm ĩ, giữa phá rộng sông dài, đặt ở ngả ba sông, ở mép nước lao xao lính tráng một chiều dừng quân, đặt giữa súng ống ngổn ngang, thây người chồng chất v.v. Giữa dòng đời tấp nập, giữa sinh hoạt náo nhiệt… (…)

(…)

(…) băn khoăn siêu hình là chủ yếu trong thơ Tô Thùy Yên, ngay từ lúc bắt đầu, từ những ngày ông còn rất trẻ (…)

(Trích từ bài nhận định về thơ Tô Thùy Yên trong bộ sách Văn học Miền Nam)

ToThuyYen-banhuu4.jpg
Ngồi, từ trái : ÔB Nghiêu Đề, Võ Phiến, Tô Thùy Yên. Đứng: ÔB Trúc Chi Tôn Thất Kỳ

bar_divider

THẮP TẠ

Tô Thùy Yên

Tặng Huỳnh Diệu Bích

Trăm năm đã chẳng nề hà…

HuynhDieuBich-ToThuyYen-2019

Một mai nàng lên núi chan chứa
Hỏi tìm cho gặp đá tiên tri…
Về sau, đời có ra sao nữa
Cũng đã đành tâm sẵn một bề

Đá, chẳng đá nào lên tiếng với…
Nàng đi thôi đã nát chân hồng
Nghe con vượn ẩn thân khóc hối
Một lần bỏ lỡ chuyến lìa non

Một mai nàng vô rừng u ẩn
Nhặt trái nưa về nhuộm dạ sầu
Thấy trăm họ cỏ cây chen quấn
Nương náu nhau mà tội nợ nhau

Con loan, con phượng bay đâu lạc
Đến nỗi nào, sao chẳng gọi bầy?
Nếu như hoa biết chiều nay rụng
Âu cũng vui mà nở sáng nay

Một mai nàng qua cầu cam mặc
Mưa nắng gì thôi cũng một thì…
Rau hạnh, rau vi từ lúc có
Chưa từng nguôi biếc bãi Kinh Thi

Cửa đẩy lầm, vô lường cuộc diện…
Ba ngàn thế giới đã nhà chưa?
Lâu ngày, thân thế rách như gió
Thấy lại mình như kẻ đáng ngờ…

Một mai nàng đến thành hoa gấm
Hát một chiều, tiền tưởng ngập chân
Vui nốn náo trời, thốc tháo biển…
Một lần, thử đổi bỏ chân thân

Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn
Ai hồ nghi lộn kiếp bên này?
Con chó khóc tru ngoài địa giới
Ngờ ngợ người góc biển chân mây

Một mai nàng ra bãi vô định
Nhìn sông đổi lòng, nhìn núi chuyển chân
Mây bay bay như những vẫy biệt…
Nàng đứng cho tàn như một nén nhang

Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương
Biển Đông đã một ngày xe cát…
Khuất giạt, mơ lai kiếp dã tràng

7.1998

Nguồn: Tô Thùy Yên, Thắp tạ, An Tiêm xuất bản, Houston 2004

ToThuyYen-HuynhDieuBich
Từ trái: Ngọc Hoài Phương, Du Tử Lê, Huỳnh Diệu Bích, khách, Tô Thùy Yên

bar_divider

Nói Chuyện Thơ

** Ngô Nhân Dụng **

ToThuyYen-RMSThapTa.jpg

Cuối tuần rồi nhiều người làm văn nghệ ở Quận Cam và ở San Jose đã họp mặt, được nghe thi sĩ Tô Thùy Yên nói chuyện, nhân dịp cuốn thơ Thắp Tạ của ông mới ra đời.

“Thắp Tạ” nghĩa là gì? Nhiều người đặt câu hỏi đó. Ðó là tên một bài thơ và tên cả tập thơ. Thắp tạ nghĩa là gì? Thi sĩ Tô Thùy Yên không đáp.

Nhưng có một người đã trả lời, một người chúng ta không ngờ cũng phát biểu ý kiến về “thơ” và cũng trong dịp cuối tuần rồi. Ở bên kia bờ Ðại Tây Dương, tại thành phố Berlin, Ðức Quốc. Ðó là ông Jean Claude Prichet – Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Khối Liên Hiệp Âu Châu, ông đang dự phiên họp của các bộ trưởng tài chánh và Ngân Hàng Trung Ương 20 nước – gọi là G-20.

Cái hội nghị này lạ lắm. Một vấn đề đang làm cả thế giới băn khoăn là giá đồng đô la Mỹ đang xuống, nhưng bản thông cáo sau cùng của hội nghị không nói một câu nào đến chuyện đô la hết. Nhưng trước khi hội nghị họp thì ông Allan Greenspan – Chủ Tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang – tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, đã “cho nổ một trái bom” khi ông báo động sẽ tới lúc các nhà đầu tư quốc tế bỏ chạy không mua các chứng khoán của Mỹ nữa vì đồng đô la xuống giá mãi. Khi họ không mua các trái khoán và cổ phần của Mỹ thì họ cũng không cần đổi lấy đô la Mỹ, tức là đô la Mỹ càng xuống hơn. Trước khi ông Greespan phát biểu ở Frankfurt, thành phố này là nơi trụ sở của Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu, thì tuần trước đó ông Trichet cũng nói đến hối suất đô la và đồng euro mà 11 nước Âu Châu đang dùng chung. Ông nói rằng đồng euro lên giá quá cao và quá nhanh so với đô la Mỹ từ đầu năm tới nay. Ðó là một hiện tượng “tàn bạo và không hoan hỉ,” (brutal and not welcome.) Thứ Sáu vừa rồi có người mới hỏi lại ông Trichet ông muốn nói gì trong mấy chữ “tàn bạo và không hoan hỉ”? Ông Trichet trả lời: “Câu đó cũng như là thơ vậy, tự nó đã nói đủ nghĩa rồi!” Tức là quý vị nghe câu “tàn bạo và không hoan hỉ,” về chuyện đồng euro lên giá cũng nên giữ thái độ như khi quý vị nghe những câu thơ Tô Thùy Yên. Bà Tô Thùy Yên, tức là chị Huỳnh Diệu Bích, cũng không giải thích cho tôi hai chữ Thắp Tạ mà chỉ đọc hai câu trong bài thơ tặng chị:

“Thắp tạ càn khôn một vô tích

Thắp tạ nhân quần một luyến thương.”

Nếu như quý vị chưa thỏa mãn, thì xin trích dẫn thêm vài câu nữa trong bài Thắp Tạ, ngay trước hai câu thơ trên:

“Một mai nàng ra bãi vô định

Nhìn sông đổi lòng, nhìn núi chuyển chân.

Mây bay bay như những vẫy biệt…

Nàng đứng cho tàn một nén nhang.”

Rồi sau đó là hai câu thơ bắt đầu bằng hai chữ Thắp Tạ. Tôi nghĩ rằng tự các câu thơ đó đã nói đủ. Nếu giải thích thêm nữa sẽ thành vô lễ với độc giả và tác giả. Và sẽ bị ông Jean Claude Prichet chê cười là chẳng hiểu thơ là cái gì cả.

Một tập thơ, một bài thơ mới đem trình làng cũng giống như là làm bữa ăn đầy tháng cho một đứa con mới sinh. Có ai đi tới dự tiệc mừng mà lại đặt câu hỏi, “Thưa cháu bé là cháu trai hay cháu gái vậy?” Bố mẹ em bé chắc phải trợn mắt lên mà đáp: “Cứ nhìn kỹ thì biết, nhìn không thấy thì mở ra mà coi, hỏi gì nữa?” Có lẽ chính sách tiền tệ của các Ngân Hàng Trung Ương cũng như vậy.

Cái ý so sánh một cuốn sách mới với em bé sơ sinh là của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Ông có mặt chiều Thứ Bảy vừa rồi ở phòng sinh hoạt Nhật Báo Người Việt để bắt tay Tô Thùy Yên. Hai người cùng sống ở những nhà tù do cùng một chế độ cai quản, nhưng với các kinh nghiệm và cảm xúc khác nhau. Như các thi sĩ thật sự không ông nào giống bà nào. Nguyễn Chí Thiện bảo rằng dự một buổi ra mắt sách cũng giống như đi ăn tiệc mừng một em bé đầy tháng. Chúng ta chỉ nhìn những nét nào đẹp nhất của em bé, những nét mạnh mẽ, bụ bẫm, mắt sáng, môi son, chứ không ai nên nhìn vào những chỗ mình không vừa ý cả. Trong thời gian Nguyễn Chí Thiện một mình chiến đấu âm thầm ở trong nhà tù miền Bắc thì Tô Thùy Yên sống giữa cuộc chiến tranh thật ở miền Nam Việt Nam:

“Nhớ xưa thiên địa dấy binh lửa

Xứ xứ rần lên, người giết người…”

Hoặc là:

“Làng đã cháy, im lìm bất trắc…

Người nhớ người mà cũng sợ người.

Trời ơi những xác thây la liệt

Con ai, chồng ai, anh em ai?”

Những câu thơ đó là những suy niệm về chiến tranh, 20, 30 năm sau khi cuộc chiến đã chấm dứt. Cũng như những câu:

“Ðêm trước, đại quân vừa hạ trại.

Chiều nay, lều cháy, xác thây phơi.”

Ðọc hai câu này thì thấy Tô Thùy Yên rất cổ kính, rất Ðường thi, vì chợt nhớ đến những câu thơ cổ như của Ðặng Trần Côn:

“Kim triêu, Hán há Bạch Ðăng thành.

Minh nhật, Hồ khuy Thanh Hải khúc.”

(Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại.

Mai Hồ về Thanh Hải dòm qua.”)

Rồi sau đó:

“Em về giồng dưới qua bưng gió,

Dạ bời bời, nỗi sậy niềm mây”.

Nghe như những lời ca dao mới cho sông Tiền, sông Hậu. Tôi nghĩ những ý đó nhưng nghe lời khuyên của Nguyễn Chí Thiện không nói gì với Tô Thùy Yên. Nếu Ðỗ Phủ sống qua thời đại này với Tô Thùy Yên chắc cũng nhìn thấy cảnh tiếp theo:

“Xa giá càn dân lấy lối chạy.

Trẻ giữa đường đứng khóc một mình.

Sau cùng có người lính chấp kích

Ra trước ngọ môn mà quyên sinh.”

Tô Thùy Yên đã ghi lại những hồi tưởng về chiến tranh. Một phần tư thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt. Nếu quý vị nghĩ đến làm một cái gì để đánh dấu 30 năm kể từ 1975 thì đọc tập thơ mới của Tô Thùy Yên cũng là một cách. Ðể thắp, tạ. Như thi sĩ viết:

“Thôi, ráng giữ gìn chút nước mắt,

Mai sau nhờ đó nhận ra nhau.

Sẽ mưa, trời sẽ mưa châu ngọc.

Ta sẽ về qua bãi lệ rào.”

Những người Việt Nam dưới lớp tuổi 30, 40 chắc không cảm động vì những lời nhắn gọi “mai sau nhờ đó nhận ra nhau.” Cũng không thể chia sẻ niềm hy vọng bùi ngùi “Sẽ mưa, trời sẽ mưa châu ngọc.”

Thứ Bảy vừa qua Tô Thùy Yên nhận xét rằng nếu trải qua một thế hệ mà dân tộc nào không sản xuất được một tác phẩm văn nghệ đáng kể thì dân tộc đó không còn sức sống. Trong 30 năm qua kể ra người Việt Nam ở khắp 10 phương cũng đã sản xuất được nhiều tác phẩm đáng kể. Trong đó có những bài thơ của Tô Thùy Yên. Sự kiện có hàng trăm người họp mặt với nhau để chào đón một thi sĩ cũng chứng tỏ tiếng Việt Nam và dòng giống Việt Nam còn đầy sức sống. Các thi sĩ có mấy khi nói chuyện với nhau đâu?

Tuần rồi, Nhật Báo New York Times đăng những lời phát biểu của 8 thi sĩ người Mỹ về thơ của nước Mỹ này. Họ đặt câu hỏi là trong 25 năm qua, ông, bà thấy bài thơ nào hoặc tập thơ nào đáng đọc, đáng nhớ nhất đối với chính mình. Có lẽ Tạp Chí Thơ cũng nên tổ chức một diễn đàn để các thi sĩ nói tiếng Việt Nam phát biểu về một câu tương tự. Một dân tộc, một cộng đồng mà không yêu tiếng nói của mình nữa thì chết.

“Nếu như hoa biết chiều nay rụng

Âu cũng vui mà nở sáng nay.”

Ðọc những câu thơ như vậy mà không đem lòng yêu mến tiếng Việt Nam sao được?

NgoNhanDungDOQUYTOAN

Ngô Nhân Dụng
22-11-2004 
  

bar_divider

XIN VUI LÒNG GỞI THÊM TÀI LIỆU / Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ Phan Anh Dũng: dathphan1@gmail.com

5bd558ac

bar_divider