Vai ky niem ve thay hoc – Tran Van Khe

Mỗi năm học có 10 Thầy chia nhau dạy nhiều khoa: Pháp văn (quan trọng nhất), Luân lý, Sử Địa, Việt văn, Hán văn, Toán (quan trọng thứ nhì), Lý Hóa, Khoa học tự nhiên, Họa, Thể thao. Năm đầu tất cả giáo sư đều là người Việt, từ năm thứ hai trở lên mới có giáo sư người Pháp. Mỗi giáo sư đến lớp dạy lần đầu đều được ông Giám học giới thiệu với học trò, cho biết tên họ, môn dạy, lịch dạy trong tuần. Trong số gần 30 Thầy tôi chỉ nhắc đến vài vị hoặc có ảnh hưởng lớn trong việc dạy dỗ rèn luyện tôi, hoặc có những điểm lạ, vui vui khiến tôi nhớ mãi như ông Chợ, ông Phạm Thiểu và ông Champion.

Ông Chợ tên thật là Huỳnh văn Nhung, dạy môn Toán, Lý, Hóa, lúc nào cũng mặc một bộ đồ tây màu vàng vàng. Da ông sậm đen, đôi mắt lé, mang cặp mắt kiếng gọng vàng hơi xệ xuống mũi, dáng đi chậm, lưng khom. Ông đậu bằng Brevet superieur bên Pháp, trong khi các Thầy Việt Nam khác hầu hết đều xuất thân từ trường Sư phạm Hà Nội với bằng Diplôme Pédagogique.

Ông rất dễ tính. Học trò hôm nào sợ bị trả bài, chỉ cần một đứa đứng lên hỏi: “Hồi trước lúc ông học bên Tây chắc vui lắm?”, là ông thuật lại đời sống bên Pháp như thế nào, gặp những khó khăn gì… Ông nói thao thao bất tuyệt cho đến lúc gần hết giờ, bỏ qua việc gọi học trò trả bài và chỉ còn chút ít thời gian cắt nghĩa bài mới mà thôi. Nhờ ông mà chúng tôi biết đời sống bên Pháp ra sao, biết dân Pháp ưa ăn phó mách, thích uống rượu chát đỏ. Ông Chợ có cách dạy Lý Hóa rất lạ. Dạy Lý Hóa mấy lớp trên ông bảo: “Trong sách ghi lại những thí nghiệm về điện khí là họ nói thật chớ không ai gạt tụi bây làm gì. Họ nói sao mình tin vậy, chớ không cần thí nghiệm hay kiểm soát làm chi. Bây giờ lơ mơ lỡ điện giựt thì cong như con cá nướng.” Vậy là ông khỏi phải làm thí nghiệm cho học trò coi.

Thuở ấy trong lớp tất cả các môn học đều phải giảng bằng tiếng Pháp, trừ môn tiếng Việt và chữ Hán. Ông Chợ đi Tây về lại thích nói tiếng Việt, hay tiếng Pháp pha tiếng Việt. Ông không thích cho học trò học thuộc lòng theo sách mà bảo phải tự quan sát, suy nghĩ rồi mới đặt bài học. Giờ học với ông rất vui, học trò giành nhau nói và góp ý kiến. Chẳng hạn dạy môn Hóa học, ông nói: “Khi học về một chất nào, mình phải theo thứ tự mà đặt câu hỏi – chất đó tìm thấy ở đâu hay từ đâu mà có, rồi tìm hiểu về các tính chất vật lý, tính chất hóa học.” Thí dụ như đứa nào biết “chlorure de sodium?” Cả lớp không ai biết, chỉ có tôi coi bài trong sách trước nên biết đó là “sel de cuisine” nên đưa tay lên. Ông nói: “Cả lớp chỉ có thằng Khê biết ăn muối hả?”. Học trò nhao: “Dạ muối thì biết, chớ không biết chlorure de sodium là muối”. Vậy thì bây tìm thấy chlorure de sodium ở đâu? Cả lớp đồng thanh đáp: “Trong nhà bếp.” Trước khi có trong bếp thì chlorure de sodium ở đâu? – Dạ ở tiệm hàng xén. Trước khi tới tiệm hàng xén thì muối có ở đâu? – Dạ trong vựa bán sỉ của mấy chú khách trú. Trước khi tới vựa, muối có ở đâu? – Dạ thưa hết biết rồi!

Ông bèn giảng cho chúng tôi biết muối có trong nước biển. Rồi ông nói thêm: “Chỗ nào có nước mặn là có muối.” Một trò đưa tay đứng dậy nói: “Thưa ông nếu vậy thì trong mồ hôi em cũng có muối.” – Đúng rồi! Hèn gì khi em đổ mồ hôi ướt áo, lúc áo khô em thấy có muối đọng lại. Mà nước mắt của em cũng mặn, rồi còn nước mắm nữa, chắc đều có muối trong đó phải không ông? – Thôi mày đừng có nói xàm. Muối làm ra nước mắm chớ đâu phải nước mắm làm ra muối. Tụi bây nói coi chất muối thuộc về corps solide (thể đặc) hay corps liquide (thể lỏng)? Màu gì? Có tan được hay không? Chậm hay mau?

– Dạ tùy theo – một trò trả lời – có khi là thể đặc cứng như đá, đó là muối hột, màu xám. Có khi như bột, màu trắng, đó là muối bọt. Có khi lại là thể lỏng như nước muối.

– Khoan khoan, mày lẫn lộn cái này với cái kia. Hỏi đặc hay lỏng là hỏi về état naturel (trạng thái tự nhiên) của nó. Còn khi mình bỏ muối vào nước, nó tan ra thành nước muối, đó là một propriété physique (tính chất vật lý), vì muối có thể soluble dans l’eau (tan trong nước).

– Dạ thưa muối còn tan trong canh, trong nước dừa xiêm nữa.

– Thôi, đừng nói tẩm xàm! Sao không nói soluble dans le lait de coco et mieux encore avec une cuillère? (tan trong nước dừa xiêm và nếu có muỗng quậy còn mau tan hơn nữa).

Thầy trò đối đáp qua lại và chúng tôi học một bài Hóa học rất vui, không đơn điệu như học thuộc lòng bài soạn sẵn trong sách. Ông Chợ vừa dạy vừa pha trò, nói chuyện thì nửa tiếng Tây, nửa tiếng ta, vậy mà lớp học trở nên sinh động và học trò rất thương ông.

Từ năm thứ nhất đến năm thứ ba chúng tôi học chữ Hán với Giáo sư Đặng. Tôi vốn thích chữ Hán nên thường học bài trước khi thầy giảng. Nhờ chút vốn Hán học mà thầy Thượng Tân Thị dạy từ hồi ở Tam Bình, tôi biết nhiều mặt chữ và viết bằng bút lông, nét sổ nét mác, chấm phết, ngang bằng số ngay, vì vậy ông Đặng rất thích. Mỗi buổi học ông cho tôi chép bài trên bảng đen và giảng sơ lược cho học trò trong lớp rồi ông mới giảng sau. Đây là những bài học chỉ nói về chuyện thông thường, học biết thêm mặt chữ nên không có cái thích thú được học văn chương Trung Quốc.

Biết muối ở trong nước biển là đủ rồi. Vì vậy nước biển mới mặn chớ không ngọt như nước sông. Lên năm thứ tư, cấp Cao đẳng sơ học, nay gọi là cấp 2 thì Giáo sư Phạm Thiều dạy Việt văn và Hán văn cho học sinh. Ông người mảnh mai, nhưng đôi mắt rất to và sáng, vào dạy học luôn đứng trên bục và giảng bài say sưa như đọc diễn văn nên rất hấp dẫn.

Trước khi theo Tây học, Giáo sư Phạm Thiều có căn bản Nho học. Trong lớp thầy nói cho chúng tôi biết cách học và thi thời trước, kể chuyện thí sinh ngày xưa lều chõng đến trường thi như thế nào, giảng cho chúng tôi biết Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình là gì nên học trò rất thích. Nhờ Giáo sư Phạm Thiều mà chúng tôi hiểu được Truyện Kiều, biết những điểm nào hay trong cách hành văn, biết những tư tưởng triết lý, quan niệm về chữ hiếu, chữ trinh, về bỉ sắc tư phong, về luật nhân quả trong triết lý nhà Phật…

Cách ông dạy chữ Hán cũng khác với Giáo sư Đặng. Giáo sư Phạm Thiều dạy chúng tôi học cổ văn, cổ thi, học những bài trích trong kinh thi. Ông cho học trò soạn trước một bài giảng theo đầu đề tự chọn rồi lên bục thuyết trình trong 40 phút, sau đó Thầy phê bình và học sinh đặt câu hỏi. Các bạn học của tôi phần đông nhút nhát, còn tôi thì ngược lại, rất thích thuyết trình. Lúc đó tôi mới 18 tuổi mà đã tình nguyện thuyết trình về âm nhạc Việt nam vì tôi rất thích nhạc, tối nào trước khi đi lên lầu ngủ cũng đờn cổ nhạc ngoài sân cho các bạn nghe.

Tôi lại có Cậu Năm, ông Nguyễn Tri Khương, trước đây dạy tôi biết về lịch sử của mấy cây đờn, bài bản, làn điệu, hội nhạc trong tài tử. Tuy còn nhỏ nhưng tôi rất chững chạc, không bị khớp, nói năng mạch lạc về một đề tài mà trong lớp, kể cả thầy tôi, không ai biết rành bằng tôi. Tôi nói xong các bạn vỗ tay hoan nghênh còn Giáo sư Phạm Thiều thì không ngớt lời khen. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ lời giáo sư nói ngày hôm đó: “Tôi cho em 19 điểm mặc dù bài thuyết trình của em đáng được 20 điểm. Một điểm tôi để dành lại, vì nếu không làm như thế em sẽ nghĩ mình đã toàn thiện, toàn mỹ rồi không còn cầu tiến nữa. Em nên tiếp tục trau giồi kiến thức về văn chương và âm nhạc, sau này sẽ còn tiến xa.” Đây là bài thuyết trình về âm nhạc đầu tiên trong đời tôi. Sau này, dầu đã đến hơn 40 nước để thuyết trình về nhạc Việt Nam, đã nói chuyện hàng ngàn lần về âm nhạc truyền thống dân tộc, nhưng tôi vẫn giữ ấn tượng sâu đậm về bài thuyết trình vào năm 1938 trong lớp Việt văn của Giáo sư Phạm Thiều hồi học năm thứ tư trung học.

Khi đã lên ban Tú tài tôi vẫn thường đến nhà thăm Thầy để nghe Thầy nói chuyện văn chương kim cổ. Tôi cũng muốn nhắc lại đây một kỷ niệm khó quên và độc đáo của tình thầy trò giữa Thầy Phạm Thiều và tôi.

Từ lúc học Y khoa tại Hà Nội cho đến lúc sang Pháp, tôi không có dịp gặp lại Thầy, chỉ biết Thầy làm Đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Tiệp Khắc. Mãi đến năm 1980, tôi về nước dự hội thảo về Nguyễn Trãi và đọc bài tham luận về “Âm nhạc các nước Đông Á thời đại Nguyễn Trãi”, Giáo sư Phạm Thiều chủ tọa phiên hội thảo này.

Hôm đó tôi trình bày sơ lược về âm nhạc nhà Minh bên Trung Quốc, âm nhạc Triều Tiên dưới thời vua Se-jong (Thế Tông), âm nhạc Nhựt Bổn dưới thời Muromachi và âm nhạc Việt Nam thời vua Lê Thái Tôn. Tôi cũng nói về sự bất đồng ý kiến giữa Nguyễn Trãi với Lương Đăng, một hoạn quan triều Lê, rồi đi đến kết luận là vào đầu thế kỷ 15, tại các nước Đông Á đều có khuynh hướng phát triển bản sắc độc đáo nên âm nhạc của mình, bớt đi ảnh hưởng ngoại lai. Nhạc triều đình nhà Minh được chấn chỉnh sau một thời kỳ bị thay đổi dưới triều nhà Nguyên, tức là bỏ đi ảnh hưởng của Mông Cổ. Triều Tiên dẹp bớt “Đường nhạc” thay thế bằng “Hương nhạc” gốc dân gian Triều Tiên. Bên Nhật thì “Gagaku” (Nhã nhạc) từ Trung Quốc chuyển sang, thạnh hành dưới thời Nara, Heian, nay bị lu mờ và nhường chỗ cho những loại nhạc kịch mới như hát Nô được các Samurai ưa chuộng. Tại Việt Nam, khi Lương Đăng bắt chước nhạc triều đình nhà Minh thì Nguyễn Trãi và nhiều người khác không đồng ý, còn trong dân gian đã sáng tác ra loại ca trù, chế tạo được đờn đáy.

Sau bài tham luận của tôi, Giáo sư Phạm Thiều đứng dậy phát biểu và mở đầu bằng 3 chữ: Thưa Thầy Khê. Tôi hoảng hốt chạy đến bên thầy nói: “Thưa Thầy, em không bao giờ quên rằng em là học trò của Thầy. Lúc nào Thầy cũng là Thầy của em. Xin Thầy đừng gọi như vậy tổn đức cho kẻ hậu sinh.” Thầy tươi cười: “Thầy cứ cho tôi cái vui được gọi cựu môn sinh của mình bằng Thầy. Ta có câu “nhứt tự vi sư, bán tự vi sư”, ai dạy mình một chữ cũng là thầy mà nửa chữ cũng là thầy. Hôm nay nghe Thầy thuyết trình tôi đã học được rất nhiều điều thú vị và thấy rằng Thầy có được cái nhìn bao quát cả nước Đông Á chớ không chỉ thu hẹp trong phạm vi đất nước mình. Tôi vẫn còn nhớ bài thuyết trình của Thầy ngày xưa trong lớp của tôi, lúc đó tôi đã tiên đoán Thầy sẽ còn tiến xa. Nay tôi rất vui mà thấy Thầy đã đi xa hơn tôi dự đoán. Tôi không dám nhận chữ Thầy, tạ ơn Thầy khen.” Rồi thầy trò ôm chầm nhau mà không cầm được nước mắt.

Từ đó thầy trò lại ít gặp nhau. Một hôm nhân nói chuyện với các bạn, tôi nhớ lại có một bài thơ của Thầy Phạm Thiều mà anh Mỹ Ca phổ nhạc rất dễ thương. Tôi nghe anh Mỹ Ca hát một lần mà thuộc và hát lại cho anh đàn. Bài thơ của Thầy viết về những ngày hè:

Ngày hè về
Ngày hè về
Nắng um mưa tưới
Vườn hoa cây cỏ thêm xuê
Cỏ cây ngắm lại càng xuê
Vì chưng trời đất chở che trăm đường
Này đóa hoa hường
Chúm chím đầu tường
Đài hoa xanh
Cánh hoa đỏ
Nhụy hoa ngào ngạt mùi hương
Cơn gió thoảng
Khi nghiêng, khi ngửa, êm ái nhịp nhàng
Khi cười khi nói hớn hở dịu dàng
Đùa vui dưới ánh Thái dương
Trăm hoa dáng điệu Nghê thường trong mây
Ấy cũng nhờ ai
Sưởi tối sương mai
Thấm nhuần ơn tạo hóa
Ngày tháng biết bao dài
Hoa xin gìn giữ trọn đời
Hoa xin gìn giữ trọn đời
Hương nồng sắc đượm
Đủ mười phần hay
Mới thỏa lòng này
Mới thỏa lòng này…

Tôi ghi âm bài thơ đã được phổ nhạc định đem về tặng Thầy Phạm Thiều, nghĩ rằng Thầy sẽ ngạc nhiên và rất vui. Nhưng khi về nước tôi mới hay tin Thầy không còn nữa! Được tin Thầy từ trần, tôi vô cùng đau xót và từ đáy lòng, tôi suốt đời ghi nhớ rằng những kiến thức căn bản về Hán văn, Việt văn của tôi đều nhờ Thầy Phạm Thiều mà có.

Trong các thầy người Pháp, chỉ có ông Champion là người dạy tôi rất nhiều trong cách viết văn bằng tiếng Pháp. Ông cũng là người Pháp đầu tiên mời tôi đến uống trà, gặp phu nhân và đứa con gái nhỏ mới lên năm của ông. Một tháng đến chơi nhà ông một hai lần, tôi được dịp thực tập tiếng Pháp với vợ chồng ông.

Ông Champion tới Việt Nam lần đầu vào năm 1938. Ông có bằng Cử nhân Văn chương và Sử Địa. Ông rất giỏi về lịch sử, nhất là về địa lý, có thể vẽ chính xác bản đồ của nhiều nước trên thế giới. Lúc nào ông cũng mặc bộ đồ màu nâu lợt, bụng hơi to và tướng đi mau, hai cánh tay như bơi trong không khí, mái tóc vàng sậm che phủ vầng trán.

Trong bài diễn văn nhân ngày phát phần thưởng cuối năm, ông bày tỏ sự ngạc nhiên về những học trò Việt Nam của mình: Văn phạm giỏi hơn học trò Pháp đồng tuổi. Rất lễ phép và tôn trọng kỷ luật, trong lớp không nói chuyện và phá rối trật tự, nét mặt lúc nào cũng bình tĩnh. Ông kể một hôm ông nghe cây viết chì rớt xuống đất nhưng tất cả đều ngồi yên, không thấy ai cúi xuống lượm viết. Ông hỏi ai làm rớt viết chì, có một trò đưa tay lên. Ông hỏi tại sao không thấy cúi xuống lượm, trò ấy nói là đã lượm viết chì bằng chân. Ông rất phục và cho rằng bàn chân trẻ con Việt Nam làm được nhiều việc hơn bàn chân trẻ con Pháp. Ông cho rằng học trò Việt Nam phần đông viết chữ tốt hơn học trò Pháp, tập vở, bài làm rất sạch sẽ.

Lúc tôi thi bằng Thành chung, ông xem điểm Pháp văn của tôi và khen tôi làm bài rất hay. Ông cũng là giám khảo chấm bài văn dự thi của tôi trong cuộc thi tuyển chọn học sinh để tặng học bổng đi du lịch trong nước. Mãi sau này, khi tôi lên đại học, những lúc về Sài Gòn, thầy trò vẫn gặp nhau, cùng uống cà phê, ăn bánh ngọt.