Trương Vĩnh Ký và chuyến Âu du 1863-1864

Nguyễn Vy Khanh

[Nguồn: Chương V “Cuốn Sổ Bình Sanh”. Trương Vĩnh Ký: Tinh-hoa Nước Việt (Toronto, Canada: Nguyễn Publishings, 2018, tr. 353-381)]

*

Sau khi ba tỉnh miền Đông mất vào tay người Pháp và phải ký Hòa-ước Nhâm Tuất 5-6-1862 (còn gọi là hiệp ước Bonnard, vua Tự Đức ký 16-4-1863, phải nhượng cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, và Côn-đảo và  bồi thường chiến phí mỗi năm 4 triệu francs trong 10 năm), vua Tự Đức đã gởi sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình xin chuộc lại các tỉnh đó. Phái đoàn do Phan Thanh Giản làm chánh sứ (Như Tây chánh-sứ), Phạm Phú Thứ phó-sứ và Ngụy Khắc Đản bồi-sứ, tổng cộng 63 (65) người. Phái đoàn rời kinh thành Huế ngày 27-6 trên chiếc tàu Echo và chính thức rời Sài-Gòn ngày 4-7-1863 trên tàu chiến Européen (thuyền trưởng là Henri Rieunier mà có “sử gia” hậu sinh suy-diễn thành “phái đoàn Rieunier”!). Chuyến hải-hành đi qua Tân-gia-ba, Sumatra, Tích-lan, Aden, Ai-cập, Jérusalem, La-mã, đảo Corse. Khi đến kinh Suez ngày 17-8, lúc bấy giờ kinh chưa đào, phái đoàn đổi sang đi xe lửa từ Suez đến Alexandrie, được cựu phó vương Ismaïl-Pacha tiếp đón, ở lại Ai-cập đến cuối tháng 8-1863 đổi sang tàu Labrador để đi Toulon. Ngày 13-9-1863, tàu đến Paris sau khi ghé Toulon và Marseille. Sau gần hai tháng chờ đợi, ngày 5-11-1863, phái đoàn mới được vào triều kiến Pháp hoàng Napoléon III ở điện Tuileries – Trương Vĩnh Ký là người dịch (và đọc) diễn văn của chánh sứ họ Phan. Từ 10 đến 21-11-1863, một phần sứ bộ đi Tây-Ban-Nha (vai-trò ở Paris và Tây-Ban-Nha của Palanca cựu trưởng phái bộ đồng ký Hiệp ước Nhâm Tuất 1862). Ngày 17-10-1863, phái đoàn yết kiến vua rồi trên đường về, ghé Ý-đại-lợi. Ngày 2-12-1863, Trương Vĩnh Ký yết kiến Giáo hoàng Pio IX ở Vatican. Ngày 18-3-1864, phái đoàn về tới Saigon và ngày 28-3 về đến kinh-đô Huế.

(Source: Hervé Bernard.

http://nguyentl.free.fr/Public/Herve-Bernard/Souvenirs-Amiral-Henri-Rieunier_Petrus_Ky.pdf)

Chuyến đi được xem như thất bại vì vua Napoléon III và chính phủ Pháp đã không hứa hẹn gì về việc xét lại hòa-ước Nhâm Tuất. Tháng Tư 1864, triều đình Pháp đã muốn bỏ rơi Cochinchine, chính Henri Rieunier đứng đầu nhóm thuyết phục nhà vua giữ lại (ký H. Abel xuất bản 2 tập La Question de Cochinchine au Point de vue des intérêts françaisSolution pratique de la Question de Cochinchine ou Fondation de la politique française dans l’Extrême-Orient).

Về chuyến Âu-du này, chánh-sứ Phan Thanh Giản đã có một số bài thơ trong tập Lương Khê Thi Thảo. Phó-sứ Phạm Phú Thứ khi trở về đến kinh thành Huế đã dâng lên vua Tự Đức tập Như Tây Sứ Trình Nhựt Ký (còn được ghi là Tây Hành Nhật Ký, Giá Viên Biệt Lục và Tây Phù Nhật Ký), tậpNhật Ký ghi chép việc từng ngày trong chuyến công du, Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản duyệt lại (1). Ông còn là tác-giả tập thơ Tây Phù Thi Thảo liên hệ đến chuyến đi này.

Về các thông ngôn, phía Pháp đứng đầu có Gabriel Aubaret (tức Hà-Ba-Lý trong Như Tây Sứ Trình Nhựt Ký của Phạm Phú Thứ), sĩ quan Hải quân giỏi tiếng Việt, Hoa và là dịch giả truyện Lục-Vân-Tiên và viết về văn-học, văn-hóa Việt; phía Việt-Nam có linh-mục Nguyễn Hoằng (1) và Nguyễn Văn Trường (mất trên đường đi) cùng một số nhân viên người Nam-kỳ như Trương Vĩnh Ký, Petrus Nguyễn Văn San và Tôn Thọ Tường cùng Phan Quang Hiệu – hai người này là ký-lục, riêng Tôn Thọ Tường thay thế vai-trò Nguyễn Văn Trường khi đến Pháp. Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho sứ bộ Phan Thanh Giản theo lời yêu cầu của chánh-sứ họ Phan như các tài liệu và ấn phẩm của Pháp và Việt-Nam đều ghi nhận như thế – ở Pháp, Trương Vĩnh Ký cũng được nhìn nhận như vậy, thí dụ tạp-chí Bulletin de la Société de géographie giới thiệu khi đăng bài viết của ông, rằng “tác-giả bài viết, ông Petrus Trương Vĩnh Ký là thông ngôn trong phái bộ An Nam đến viếng nước Pháp hồi tháng 10-11 năm 1863…” (2). Phạm Phú Thứ trong Như Tây Sứ Trình Nhựt Ký tường trình chi tiết các công tác, như ngày 30-9-1963, một sứ bộ gồm Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản đã cùng thông ngôn Trương Vĩnh Ký đi thăm một giáo đường truyền giáo vùng Á-đông, cũng là nơi có các tu sĩ người Việt (BAVH, 1921, tr. 168). 

Theo “L’Ambassade de Phan Thanh Gian 1863-1864” (3), Chánh sứ Phan Thanh Giản đã chọn phó-tế (sau được thăng Linh mục) Nguyễn Hoằng, một trong hai người tín cẩn của Giám Mục Gauthier, làm thông ngôn tiếng Pháp cho phái đoàn, khi Toàn quyền báo tin thuyền sẽ rời cảng ngày 29-7-1863 đồng thời cho biết Lý-A-Nhi, Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn San làm thông dịch viên.

Theo A. Delvaux trong “L’ambassade de Phan-Thanh-Giản en 1863, d’après les documents francais” thì đoàn khởi hành tử Sài-Gòn ngày 4-7-1863. Ngoài Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Hoằng là thông ngôn chính, phái đoàn còn có hai thông-ngôn khác là Petrus Nguyễn Văn San và Nguyễn Văn Trường (4). Ông Nguyễn Văn Trường bị bệnh mất ngày 8-8-1862 lúc ở cảng Aden (hai người khác trong đoàn cũng mất trên đường đi trong tháng 8 đó). Ở Pháp, Tôn Thọ Tường, ký-lục,  phụ  trách giúp thông dịch cùng với Trương Vĩnh Ký.

Gần đây, Hervé Bernard phổ biến trên mạng Internet tài liệu “L’enseigne de vaisseau Henri Rieunier et L’Ambassade Annamite de la cour de Hué de L’Empereur Tu-Duc au Palais des Tuileries – Quelques souvenirs du Grand Savant lettré Truong-Vinh-Ky – Documents”; ở phần Phụ lục “Annamites de la Cochinchine française allant en France avec l’Ambassade du Roi TU-DUC” (Người Việt-Nam ở Nam-kỳ thuộc Pháp sang Pháp với sứ-giả của vua Tự Đức) ghi danh sách : “Premier Interprète, PÉTRUS KEY, Professeur au collège des Interprètes francais – Deuxième Interprète, PETRUS SANG”,…  (5). Danh sách ghi nguồn gốc, “địa chỉ” của những người đó “đi Pháp với sứ-giả của Vua Tự-Đức”!

Theo thiển ý, các thông-ngôn đã làm việc chung mà không hẳn với tư cách riêng biệt, do đó Trương Vĩnh Ký tuy là thông ngôn công chức của Pháp nhưng được cảm tình của vua Tự Đức và chánh-sứ Phan Thanh Giản, do đó không gì lạ khi Trương Vĩnh Ký dịch diễn văn của họ Phan và Tôn Thọ Tường thay thế thông-ngôn Nguyễn Văn Trường! Cũng có thể hiểu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn tiếng Pháp ra tiếng Việt và linh-mục Paulus Nguyễn Hoằng (chủng-sinh đồng môn với Trương Vĩnh Ký ở Penang) từ tiếng Việt ra tiếng Pháp hoặc ngược lại. Và chính phủ Pháp đã đài thọ mọi chi phí cho chuyến đi này, cho sứ bộ triều đình cũng như nhân viên người Pháp, nếu các “cưỡng ép” Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho phái đoàn Việt hay Pháp thì phải chăng cũng nên xem sứ-bộ Phan Thanh Giản … làm cho Pháp!?

[Trần Giao Thủy trên diễn đàn Internet Đàn Chim Việt có bài Petrus Trương Vĩnh Ký trong chuyến đi Tây 1863″ phê-bình Vũ Ngự Chiêu và chúng tôi. Tập sách này hy vọng đã nói lại cho rõ ý chúng tôi, ở đây chỉ xin đề cập một chi tiết nhỏ nhưng rất quan-trọng vì thiển nghĩ ông Thủy đã dịch sai câu tiếng Pháp trong bài phát biểu của ông Nguyễn Văn Của tại lễ đặt tượng Petrus Trương Vĩnh Ký (Báo Tiếng Vang Người An Nam, số ngày 21 tháng 12 1927): “Danh tiếng của ông đã đến Triều đình Huế. Vì thế năm 1863 khi Vua Tự Đức cử một đoàn sứ giả đi gặp Vua Napoleon Đệ III thì Petrus Ký đã xin được đi theo làm thông ngôn cho Thượng thư Phan Thanh Giản, một viên quan cao quý nhất của Nam Triều ngày trước”. Trong câu “ce fut Pétrus Ky que demanda à s’adjoindre, comme interprète, le ministre Phan thanh Giang” (Discours de M. Nguyên-Van-Cua à L’inauguration de la statue de Truong-Vinh-Ky (L’Écho annamite, 21 décembre 1927), thì Pétrus Ký là túc từ, là đối tượng của động từ “cử” (mà ông TGT dịch là “XIN”): tức là theo tinh thần câu nói của ông Nguyễn Văn Của thì PTG “XIN” hoặc yêu cầu Vua Tự Đức cho Trương Vĩnh Ký đi theo làm thông-ngôn (6)!].

Ngoài công việc thông-ngôn, tiếp xúc, ông có viết bút-ký chuyến hành-trình bằng tiếng Tây-Ban-Nha – “Alguna reflexiones de su viaje por Europa”, một bài tiếng Pháp đăng trên tạp chí Paris (Novembre 1863) và theo tương truyền, ông còn viết “Nhựt trình đi sứ Lang-sa” (1863) có thể là bút ký tiếng Tây-Ban-Nha vừa nói. Khoảng thời gian đó, một số tạp chí bác học Âu-châu đã đăng bài của ông như Bulletin de la Société de géographie (1863) (2). Ông cũng được cử làm hội viên của Hội chuyên khảo về Con Người, và hội chuyên học tiếng Đông-phương. Chuyến đi này, Trương Vĩnh Ký 26 tuổi, được quen biết nhiều trí thức và tai mắt ở Pháp – Victor Hugo, Paul Bert, Émilie Littré và Ernest Renan. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, đó là do sự giới thiệu của linh-mục học-giả Charles Emile Bouillevaux tức Cố Long đang có mặt ở Paris (7).

Năm 1873, Trương Vĩnh Ký đại diện cho Việt-Nam và là thành viên ban tổ chức Hội nghị quốc tế đầu tiên về Đông-phương học (Congrès international des orientalistes) gồm 33 nước tham dự; thuộc phái đoàn đại diện cho Cochinchine tham dự Congrès provincial des orientalistes français năm 1874. Đến năm 1889, nhân Hội chợ quốc tế (Expo) tại Paris, Trương Vĩnh Ký lại đại diện Việt-Nam dự Hội nghị quốc tế về dân tộc học (Congrès international des sciences ethnographiques).

Jean Bouchot trong Pétrus J.B.Trương Vĩnh Ký: un savant et un patriote cochinchinois 1837-1898 (1927) cho biết rằng chính Trương Vĩnh Ký đã dịch bài diễn văn của Phan Thanh Giản đọc ở điện Tuileries. Nhờ thông thạo ngoại ngữ, khi ở Pháp, Trương Vĩnh Ký đã làm quen được với giới trí thức bản xứ như Victor Hugo, Émile Littré, Duruy, BS Alexis Chavannes, Ernest Renan, Paul Bert, Léon Gautier,…

Theo L. Gautier (1832-1897), trong buổi gặp gỡ trò chuyện ở trú-quán Việt-Nam, Trương Vĩnh Ký đã so sánh khá lý thú hai nền văn-hóa và chính trị Âu Á. Ông Gautier đã ghi lại nhận xét của mình về Trương Vĩnh Ký và nội-dung các đề tài trong một tài liệu còn lưu trữ ở Thư viện Quốc-gia Pháp ở Paris và ông Khổng Xuân Thu đã tham khảo và ghi lại trong biên-khảo Trương Vĩnh Ký (1958), mục “Trương Vĩnh Ký quan niệm về vấn-đề văn-hóa Đông-phương giao tiếp với văn-hóa Tây-phương”. Theo Gautier, “có lẽ vì ôm cái mộng bước ra ngoài để tìm học sâu xa và phóng tầm mắt quang đãng để so sánh, nhận thức các vấn-đề cho nên khi bước chân lên đất Pháp cùng với phái bộ Phan Thanh Giản là ông tìm cách giao-tiếp thân-ái với các nhà văn-hóa về mọi ngành, mọi tổ chức. Cái sở đắc học vấn của tiên-sinh về mọi vấn-đề văn-chương cũng như khoa-học, đạo đức, siêu hình cũng như luân lý, tâm lý, vật lý học, đã khiến cho những văn-hữu và tôi càng khâm phục hơn nữa. Những vấn-đề đó, theo lời của tiên-sinh mách lại cho chúng tôi hay thì một phần là nhờ các đức Giám-mục ra công chỉ-dẫn cho, một phần lớn cũng là nhờ tinh thần tự học, tham-bác của tiên sinh hay là chiêm nghiệm ngay ở trong đời sống hàng ngày của mình (ví dụ như vấn-đề sản-dục, vấn-đề thuộc sinh lý, bệnh-lý, vậy-lý học về nhân thể chẳng hạn). Đáng quí hơn là tiên-sinh đã biết áp-dụng những điều đã học vào đời sống hàng ngày và những điều sinh hoạt hàng ngày để bổ túc lại lý-thuyết của mình. Nhờ vậy mà các nhà khoa học yêu-chuộng, kính nể tiên-sinh hơn nữa.

Bất cứ ở đâu đâu, Trương-quân vẫn giữ đúng thái-độ, tác phong của con nhà nho Đông-phương: kính-cẩn, tín nhiệm và lễ độ với tất cả mọi người. Tiên-sinh đã gây được cảm mến với các văn sĩ, bác học, danh nhân của Pháp cũng như các anh-tài thế-giới đến trú-ngụ hay viếng thăm kinh-đô Ba-lê lúc bấy giờ. Nhờ vậy mà tiên-sinh gây được nhiều tinh thân-hữu đằm-thắm, nồng nhiệt, có ảnh-hưởng đến con đường tiến-thủ của mình trong mọi địa-vực”.

Khi được hỏi “ngài nhận định về chính-trị nơi đây như thế nào”, Trương Vĩnh Ký cho biết “tiến bộ về sinh hoạt chính-trị của Tây-phương thật quá rõ-rệt và mạnh-mẽ về đường thực-dụng. Công trình của các nhà văn-hóa có công trong cuộc cách-mạng tư-sản dân-quyền ở Pháp 1789 (…) thật tiến bộ và đáng nêu gương sáng”, sau đó họ Trương nêu những sách vở đã đọc về vấn-đề này, của các tác-giả mà ông thán phục “chẳng những họ đã sống một cuộc-đời gian khổ, cực nhọc, vào tù ra tội, đày ải hiểm-nghèo, mà điều đáng cho chúng ta khâm phục hơn là trình-bày thẳng-thắn giá-trị tự-do, bình-đẳng của con người, của người dân, của kẻ dưới được có một địa-vị rõ-rệt. Chính-trị của thầy Mạnh-tử cũng có nhiều điểm rất tiến-bộ như thế (…) Công-việc khai-hóa dân-tộc cũng phải nhắm vào việc nâng cao dân-trí mới được”. Trương Vĩnh Ký cũng đã cho Gautier và bạn hữu của ông thấy rằng “trong phương pháp giáo dục thiếu nhi của Đông-phương luôn luôn chú trọng đến hứng-khởi” và ông đã trích Minh-đạo Gia-huấn để chứng minh. Hai ông vẫn giữ liên lạc thư từ sau đó; Gautier đã nhận ra ở Trương Vĩnh Ký có những“cơn khủng hoảng tinh thần vì có nhiều kẻ dèm-pha, ghét bỏ mình” mà theo ông này, “Âu đó cũng là tâm trạng chung của những con người đem tất cả tâm hồn, chí khí, năng lực vào việc bảo tồn cơ sở tinh thần của nước nhà nhưng không được mấy ai đoái hoài đến; đã vậy họ còn đứng ra tìm đủ cơ-mưu để chống-đối nữa”“con người chuyên về văn-học khó lòng mà bước sang địa hạt chính-trị được, dù rằng chỉ coi đó là một phương tiện, một giai đoạn lâm thời mà thôi cũng vậy ” (8). 

Trương Vĩnh Ký đã đặt chân lên 4 nước, là Pháp (Paris, Rouen, Havre, Lorient, Tours, Lyon, Bordeaux), Tây-Ban-Nha (Barcelone, Madrid, Alicante), Ý (Gêne, Florence, Rome – ở đây ông diện-kiến Đức-giáo-hoàng ở Vatican) và Ai-Cập (Alexandrie).

Về phần thuyền trưởng Henri Rieunier mà Trương Vĩnh Ký trong suốt hành trình đã dạy tiếng Việt cho (9), ông cũng trở thành tâm giao với Trương Vĩnh Ký vừa là bạn vừa cùng chung nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Việt-Nam, sau nhiều năm đồn trú ở Sài-gòn, đã trở lại thăm Trương Vĩnh Ký và gia đình nhiều lần, 1876-1877 rồi 1885.

*

Các vị tiền bối của chúng ta đã nhận xét về Âu Tây như thế nào? Những cảm nghĩ đích thực của những người Việt đầu tiên đặt chân đến Âu-châu? Chúng tôi đã tình cờ khám phá được một ấn-phẩm viết bằng tiếng Pháp, tựa là Impressions d’un japonais en France suivies des impressions des Annamites en Europe (recueillies par Richard Cortambert (1836-1884). Paris : Achille Faure, 1864. 208 pages), do Richard Cortambert thu thập và nhà xuất bản Achille Faure ở Paris ấn hành năm 1864 – tức ngay sau chuyến Âu-du của sứ bộ Phan Thanh Giản. Phần viết về Trương Vĩnh Ký từ trang 179 đến 205. Phần chính của tập sách ghi lại theo đề-mục những cảm tưởng của sứ thần người Nhật-bản có mặt ở Paris cùng thời với sứ bộ Việt Nam.

Trương Vĩnh Ký đã ghi nhận như sau về chuyến đi Âu châu năm 1887 trong thư tiếng la-tinh ngày 8-4-1887 gửi BS Chavanne: “Riêng về phần tôi, điều đáng quí-báu nhất là được tháp tùng nhà vua sang Pháp, cơ hội này ĐÃ mang lại cho tôi nhiều niềm sung sướng vô cùng tận. Vì trong dịp đó, tôi đã thấy lại thành phố Ba-lê với nguồn sung sướng bất tận, thành phố uy nghi nhứt thế-giới mà vào năm 1863 tôi đã tiếp-xúc với nhiều nhà bác học, danh sĩ về văn-chương và khoa học. Sau khi trở ra khỏi trường học quí-báu đó, tôi đã thâu nhặt được nhìều kinh nghiệm và nhiều kiến thức tốt đẹp…” (246). Như vậy, Trương Vĩnh Ký muốn dựa vào kẻ mạnh về khoa học và giáo dục, để làm việc với ước mong dân tộc Việt-Nam tiến bộ theo!

Và trong bản tường trình của Richard Cortambert mà chúng tôi giới thiệu đây, khi được hỏi “nếu nước Pháp (Gallia), cứ địa của văn học, chẳng phải là đất nước của trí thức ông và như thế thì đó cũng là quê hương thật sự của ông”, thì Trương Vĩnh Ký đã đáp lại rằng “con người ta có hai quê hương, một của lý trí và một của con tim; người ta nâng niu quê này nhưng đồng thời tha thiết với quê kia, và có cả hai, ông nhận chân rõ rằng trong tâm hồn ông rằng ông được sinh ra ở vùng Đông-phương; rằng đó là quê hương đích thực của ông” (10)

Trương Vĩnh Ký đã hội kiến Victor Hugo là người đã dám chống lại guồng máy và chính trị của Louis-Napoléon Bonaparte và có vẻ đã tiếp thu quan điểm của nhà văn này về các thuộc địa. Sự tiếp xúc với văn minh Âu-châu có thể đã cho Trương Vĩnh Ký những kỳ vọng về khả năng canh tân và phát triển phong hóa và văn minh Việt Nam bằng cách tiếp nhận văn hóa và kỹ thuật phương Tây, cùng lúc làm sống lại các thành tố văn hóa cố hữu của Đông-phương. Thiển nghĩ con người và tinh thần học hỏi, khai phóng của Trương Vĩnh Ký đã giúp “minh xác” thế nào là người Việt và dân-tộc Việt – bởi thời đó người Âu châu vẫn nghĩ sai lầm về đất nước và con người Việt-Nam, thí dụ như một trí thức người Đức tên Herder đã viết như sau vào đầu thế kỷ XIX: “Nam-kỳ (tức Việt-Nam) đã vay mượn của đế-chế Trung-Hoa, chẳng khác nào một thuộc đĩa chính-trị; do đó người ta nhận thấy hai dân-tộc này giống nhau về tính-khí và phong tục, nghệ-thuật và khoa-học, tín ngưỡng, thương mại và guồng máy Nhà nước. Vua là một chư hầu cũa Trung-Hoa, và hai quốc-gia rất liên-kết về thương mại (…) giống như con suối không bao giờ có thể vươn cao hơn nguồn nước, không nghi ngờ gì nếu Nam-kỳ không hơn khuôn mẫu Tàu: chính quyền rất chuyên-chế; tôn giáo và khoa-học chỉ là những vang vọng của mẫu quốc…”(“La Cochinchine a tout emprunté de l’empire chinois, dont est n’est pour ainsi dire qu’ une colonie politiques; ainsi trouve-t-on une extrême ressemblance entre les deux peuples en tout ce qui regarde le tempérament et les coutumes, les arts et les sciences, la religion, le commerce et le gouvernement. L’empereur est un vassal de la Chine, et ces deux nations sont étroitement unies par le commerce (…) comme le ruisseau ne s’élève jamais plus haut que sa source, nul doute que la Cochinchine ne dépassera pas son modèle: son gouvernement est plus despotique; sa religion et ses sciences ne sont que des échos de celles de la métropole…”(11). Cochinchine nói đến ở đây gồm cả triều đình Huế và quan niệm của Herder có thể là tiêu biểu cho người Âu-châu nói chung vào thời bấy giờ.

Sau này, vào năm 1880, Trương Vĩnh Ký từng nhắn gửi học trò trong đó có Diệp Văn Cương (Chủ bút tờ Phan Yên Báo 1898) và Nguyễn Trọng Quản (tác-giả Thầy Lazarô Phiền, truyện đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ năm 1887), khi Trương Minh Ký dẫn đoàn sinh viên sang Alger (Bắc Phi) du học; ông đã tiễn dặn họ: “Hãy đi đi và hãy trở về, như những con chim, biết tha những cọng cỏ khô làm tổ hạnh phúc cho dân tộc mình“. Trương Vĩnh Ký và các hậu sinh đã thực sự tin tưởng ở quá trình tiếp thụ văn hóa Pháp sẽ giúp Việt Nam đạt được văn minh tiến bộ và độc lập.

Tháng 12-2008, khi chúng tôi giới thiệu văn bản này về Trương Vĩnh Ký, thì chưa thấy ai ở hải-ngoại  nhắc đến tài liệu này; sau đó thì một số bài viết đã tham khảo và trích dẫn tài liệu. Bản văn đã được viết lại, thanh lọc, dĩ nhiên theo cảm quan và nhận thức của Richard Cortambert, người ghi lại các cuộc gặp gỡ và đối thoại, nhưng những gì đã xảy ra và các ý chính thế nào cũng vẫn được ghi nhận và diễn tả. Câu văn dài của thời đó ( nhiều ; ) chúng tôi tùy nghi thay đổi lại. Người Pháp lúc bấy giờ gọi người Việt là An-Nam, người Nam là Cochinchinois (Nam-kỳ), Pháp hóa tên thánh La-tinh Petrus ra là Pétrus, chúng tôi cũng tùy nghi dùng lại. Qua chương sách này, bạn đọc sẽ được thấy một Trương Vĩnh Ký thông thái như một nhà bác học, ngây ngô nhưng đạo dức như một nhà tu, bình dị và thẳng ruột như một người Nam-kỳ. Nhưng trên hết, thái độ và lời nói và viết của Trương Vĩnh Ký chứng tỏ niềm tự hào là một người Việt Nam tiến bộ.

Impressions des annamites en Europe : l’interprète Pétrus Truong Vinh Ky, trang 179-205 in  Impressions d’un japonais en France suivi des impressions des annamites en Europe, do Richard Cortambert thu thập (Paris: Achille Faure, 1864).

Đây là tường trình của R. Cortambert sau khi nói chuyện và quan sát Trương Vĩnh Ký và phái đoàn, lời của Cortambert kèm trích dẫn lời của Trương Vĩnh Ký. Nguyên văn bản Việt dịch của chùng tôi:

Cảm tưởng của người Việt-Nam ở Âu châu : nhà thông-ngôn Pétrus Trương Vĩnh Ký

(Impressions des annamites en Europe : l’interprète Pétrus Truong-Vinh-Ky)

I.

Ông Henri Bineteau bạn tôi, một nhà du hành Đông-phương, đã giới thiệu tôi với các đại sứ Việt-Nam và đặc biệt với nhà thông-dịch bác-học của phái đoàn, ông Pétrus Trương Vĩnh Ký – ngay hôm sau khi họ đặt chân đến (Paris), tôi đến thăm họ ở một khách sạn đường Lord Byron, nơi khoảng sáu mươi người Đông-phương đáng thương đóng trại.

Một người trẻ Nam-kỳ tướng mạo có vẻ khả nghi, đôi mắt hấp háy, đưa tôi đi xuyên qua nhiều phòng nơi mà những người lao công năm ngũ trong góc như những con chó trong ổ. Tôi leo lên cầu thang mà những tấm bậc cầu thang và hai bên tường chưa sạch dấu vết của người Xiêm-la đã trú ngụ ở đó một năm trước.

Sau vài phút đi dạo, người hướng dẫn viên gõ một cửa phòng được mở ra ngay liền đó; tôi nhận ra  trong đám khói mờ, ba bốn người Việt Nam đang nằm nghĩ trên giường, và kề bên họ là một người trẻ đang cúi mình trên cái gọi là bàn học và chăm chú làm việc trong khi những người đồng trang lứa kia đang ngũ ngon.

Diện mạo của người này tôi thấy khác những người đồng hành kia; tuy nhiên nước da ông hơi xanh, sống mũi hơi tẹt, đôi môi dày và hai gò má rất nhô cao; nhưng vầng trán thì nét tuyệt diệu biểu lộ những thiên hướng triết lý đậm nét. Y phục ông ta thật giản dị, gồm một loại áo dài đen gợi nhắc nhở loại áo của các linh mục. Một chiếc khăn đóng màu xám tối bọc quanh đầu và để lộ vài khoảng tóc đen. Dưới chân là đôi giày hạ lịch sự trông giống như những chiếc păn-túp của các bà đầm. Người thanh niên này thấy tôi đến gần liền đứng lên, đưa tay bắt một cách trìu mến và nói một câu tiếng Pháp rất chuẩn mực để chào đón tôi và đoan chắc với tôi rằng tôi không phải là người xa lạ với ông; ông cuốn một điếu thuốc dài dùng môi tẩm ướt vấn lại rồi mời tôi. Phần tôi, bất chấp ngại ngùng bình thường, tôi lại rất thích thú tận tình thưởng thức thuốc lá hòa đồng với hơi thuốc lá của người bạn mới này.

Tôi rất nhanh chóng nhận thức được mức thông minh xuất sắc và những phẩm tính thanh cao của người thông dịch trẻ tuổi này, mà trước hết lời nói nhẹ nhàng và dễ mến đã chinh phục tôi. Ông phát biểu tiếng Pháp rõ ràng, khúc chiết, gần như không pha giọng. Đôi mắt ông đen nháy lâu lâu lại nháy sáng tùy theo mạch câu chuyện.

Tôi dễ nhận ra rằng thần-học là món chuyên môn được ông rất ưa thích: ông ta bàn chuyện một cách khiêm tốn, nhưng liên tục lôi cuốn người nghe; ông ta đang ở trong một lãnh vực mà ông rất thích thú – một vùng đất mà ông đã rèn luyện khá lâu và hiểu biết tới nơi tới chốn : dù vậy, ông ta chỉ mới hai mươi lăm tuổi đầu!

Tôi hỏi ông ta :

–  Ông là người Công giáo ?

Ông trả lời :

–  Vâng, đúng vậy; các vị thừa sai ở Poulo-Pinang đã giáo dục tôi trong đức tin Công giáo; tôi cũng đã suýt trở thành tu-sĩ như họ; định mệnh đã quyết định khác đi, tôi đã lập gia đình và làm cha chủ gia đình.

–  Như vậy, tất cả giáo dục ông nhận được đều từ họ?

–  Gần như tất cả những gì tôi học được; các vị thừa sai đã dạy tôi chữ La-tinh và Hy-lạp khi tôi còn rất nhỏ; sau đó tôi học tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây-Ban-Nha với các vị thừa sai của ba nước đó, và tất nhiên tôi cũng đã học thêm tiếng Hán, một ít tiếng Phạn (sanscrit) và vài thổ ngữ Việt Nam chúng tôi.

Tôi nói:

–  Như vậy, ông tinh thông khoảng mười thứ tiếng?

–   Khoảng đó; nhưng tôi hơi khó có thể đối thoại lâu dài bằng tiếng Hy-lạp.

– Tất nhiên rồi! Tôi cũng chưa từng gặp được ở nước Pháp thông thái này ba vị có khả năng dễ dàng trả lời bằng tiếng Hy-lạp một câu nghi vấn nào đó.

Pétrus tiếp lời:

–  Tôi chẳng tin đâu; nước Pháp này vốn nổi tiếng thông thái.

–   Trong thực tế thì cũng thật bác học đấy, nhưng cũng nổi tiếng là dốt nát về ngôn ngữ. Ông đã gặp người Pháp nào tinh thông ngôn-ngữ Việt Nam (Annamite) của các ông chưa?

–  Ông làm tôi ngạc nhiên! Nhưng ít ra tất cả người Pháp đều rành tiếng La-tinh, vì các ông dùng tiếng La-tinh để đọc kinh nguyện.

– Ồ, thưa ngài thức giả, ông khiến tôi rất ngạc nhiên về sự tin tưởng mù quáng về kiến thức của người chúng tôi. La-tinh là một ngôn ngữ tuyệt vời mà học sinh phải mất mười năm cực khổ rèn luyện, nhưng khi sắp nắm được lõi cốt tinh túy của La-tinh thì chúng đã bỏ rơi rồi.

Chúng tôi ngưng chuyện ngôn-ngữ ở đó, Pétrus trở lại đề tài thần-học, ông đưa cho tôi xem bản thảo viết tay dày cả ngàn trang, được viết với nét bút cứng cỏi và thành thạo, ông nói với tôi với một khiêm cung tuyệt vời của một tác giả trẻ mới vô nghề – một thứ khiêm tốn chừng mực điểm nhẹ tự trọng – rằng trong việc chuẩn bị chuyến du hành đến một quốc gia có học thuật cao và Công giáo như nước Pháp, ông đã dịch ra tiếng La-tinh một tác phẩm đã được khởi đầu bằng tiếng Việt. Ông nói thêm là cuốn sách của ông chuyên đề về thiên-chất của Chúa Giê-su. Ông nói với tôi:

–  Ông có nghĩ là tôi sẽ dễ dàng tìm được một nhà xuất bản ?

Thú thật là tôi khá ngần ngại làm nản chí người tín hữu sùng đạo Công-giáo này, người đã dám tưởng chừng một cách khá ngây thơ là một tác phẩm bằng tiếng La-tinh Công-giáo có thể thành công giữa chúng ta (người Pháp). Tôi bèn trả lời ông ta là có thể một số tạp chí chuyên môn có thể đăng một vài phần của bản thảo.

Trong đầu tôi chợt nảy sinh một ý tưởng ngao ngán: cuộc đời của Giê-su được một đứa con Đông-phương viết một cách sùng tín nhắc nhở tôi một tác phẩm khác mà tựa đề cũng giống hệt vừa được xuất bản. Người tín đồ trẻ tuổi, con cái của một vùng đất hãy còn ngoài đạo, trình diện với người Âu-châu một tập sách viết với thần-cảm của một đức tin thật thuần thành, và tất cả các nhà sách sẽ từ chối; trong khi đó thì những ấn phẩm chĩa mũi dùi tấn công đức đã sáng lập ra đạo Thiên-Chúa thì lại được các hiệu sách tranh giành nhau bán.

Sau một tiếng đồng hồ trò chuyện thân mật thú vị về Đông-phương, về văn học Ấn-độ, về những hoang tàn của Cao-Miên và những vấn đề trầm trọng ở Nam-kỳ (Cochinchine), tôi muốn ra về, để người thông ngôn trẻ nghĩ ngơi. Pétrus liền nói:

–  Xin ông hãy chờ, tôi muốn giớì thiệu người em trai của tôi với ông.

Và ông thân mật đập lên vai một người to con tuổi chừng 22, đang ngữa người trên chiếc ghế dài, người này chậm rãi đứng dậy. Người em của Pétrus thân hình đẫy đà gần như béo phì; hai con ngươi sẫm màu với màng mắt vàng lợt lạt chỉ gợi hình ảnh một người biếng nhác. Hai má và trán còn giữ dấu vết của bệnh đậu mùa. Nước trầu đỏ trên môi, và khi đáp trả lại lời chào lịch sự của tôi, anh ta để lộ những chiếc răng khủng khiếp tôi chưa bao giờ từng thấy, hai hàm để lộ chân răng và đen như mực Tàu (răng nhuộm).

Tôi bắt tay Pétrus khi ông tiễn tôi xuống nhà và trên đường đã hỏi tôi nghĩ sao về người em của ông. Tôi lúng túng vì câu hỏi bất ngờ:

–  Tình thực mà nói, tôi phải thú là tôi đã không chú ý kỹ lắm; do đó tôi chưa thể đánh giá được.

–  Cậu em tôi đẹp người.

Pétrus nói thêm pha chút tự hào. Tôi đã chẳng chờ đợi ở điều vừa được tiết lộ đó. Nhưng người thông-ngôn tiếp tục nói:

–  Đúng vậy, cậu em tôi là một người rất được chuộng và rất được quí mến; cậu ta chỉ được cái quá thành công với phái nữ; tôi rất ngại cho cậu những cạm bẫy của thành phố Paris.

Tôi phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh. Anh chàng Nam-kỳ khủng khiếp này là một anh trai tình như Céladon đây sao! Anh chàng bụng xệ này là một anh đẹp trai cở Adonis sao! Tôi có cảm tưởng mọi luật thẩm mỹ dường như bị phá bỏ hết!

Hai hoặc ba ngày sau đó, tôi gặp lại Pétrus; ông đến nhà thăm tôi; chúng tôi đã trãi qua nhiều giờ đàm đạo. Cách nói chuyện của ông lúc nào cũng vậy: rất có cảm tình, thanh lịch, nhẹ nhàng tự nhiên, nhưng diện mạo ông cho tôi cảm tưởng ông có nỗi buồn mà ông đã không thành công giấu diếm được. Bỗng nhiên ông nói :

–  Có thể ông cũng đã nhận thấy, tôi rất lo lắng, những gì tôi dự đoán cuối cùng cũng đã xảy ra.

–  Ê! Ê! Cái gì vậy ông trí thức?

–  Cậu em tôi bắt đầu ra đứng ở cửa sổ; có một cô gái khá xinh ở phía đối diện đã để ý cậu ta và tôi tin chắc chắn rằng cô ta đã phải lòng nó.

Người An-Nam ngây thơ đó nói tiếp :

–  Tôi tin chắc là như vậy, cô ta đã viết cho cậu sáng nay; và vì cậu em tôi không rành tiếng Pháp, tôi đã đọc lá thư và cũng đã trả lời.

–  Ông đã trả lời thế nào?

Pétrus tuyệt vời đã đáp lại:

–  Tôi đã cho cô ta một số lời khuyên bảo.

–  Vậy ông còn giữ bản nháp lá thư đó chứ?

–  Vâng, tôi còn giữ tờ nháp với tôi đây.

–  Tôi rất vui nếu ông có thể đọc cho tôi nghe.

–  Sẵn sàng!

Pétrus trả lời một cách rất bình tĩnh. Ông lấy ra một tờ thư gấp làm bốn từ cái bóp nhỏ và đọc bức thư đại khái như sau:

Thưa cô,

Cô không nên chiều theo phản ứng đầu tiên của con tim; vì cô rất xinh đẹp, cô có một tâm hồn tốt lành, cô sẽ dễ dàng đem lại hạnh phúc cho người chồng của cô và cho một gia đình. Tôn giáo khuyên nhủ chúng ta tiết chế bớt những ngọn lữa khát khao quá mãnh liệt. Các tông đồ đều nói rằng Thiên đàng chỉ dành riêng cho những ai khắc phục được dục vọng. Cô hãy mạnh dạn lên để kiềm chế bước đầu tình ái này. Vả lại, cậu em tôi không thể phá bỏ đức-tin vì cậu đã có gia đình; – và trong vài ngày tới, chúng tôi sẽ cùng chung lên đường về nước. Cô ơi, cô sẽ quên cậu em tôi, và cô sẽ không phải hối hận đã khuấy động sự yên ổn của một gia đình. Nếu người thanh niên mà cô yêu mến không bị ràng buộc bởi bí tích hôn-phối Công-giáo, có thể tôi đã phải xin cô làm vợ cho cậu em và cô sẽ tháp tùng chúng tôi về một nơi rất xa xôi; nhưng dù sao thì cô cũng phải nguôi bớt cơn bão tình ái của con tim cô.

Người nô bộc xin kính cẩn,

Pétrus

Bạn đọc nghĩ sao về sự ngây thơ đáng phục của người thông-ngôn tốt lành này? Lúc bấy giờ tôi có cảm tưởng là một ngây thơ đặc biệt khiến tôi không thể nín được đành cười một cách thực thà mà tôi nghĩ bạn đọc hiểu được dễ dàng hơn là người bạn đồng hành. Tôi phải cắt nghĩa cho ông biết cô gái đó chỉ là một gái điếm, và cái thật thà dễ tin của ông dễ bị chế nhạo; chúng tôi đã cười vui về việc đó. Nhưng dù tôi có cố gắng thuyết phục nghiêm trang đến mấy, tôi vẫn không thành công lung lay tin tưởng đó của ông; ông bỏ đi, cứ tin là vẻ đẹp trai của cậu em đã mê-hoặc cô gái ông tin có phong cách tốt và lối sống đơn thuần. (Tôi hy vọng người bạn tốt của tôi tha thứ cho tôi về tiết lộ này của tôi. Tôi không muốn bạn đọc thiếu mất chi tiết riêng tư về phong hóa này – là điều đã vẽ lên cái cao nhã và ngây thơ chân thành dễ thương của tâm hồn cao quí của Pétrus).

II.

Vài ngày sau, chúng tôi thân mật khoác tay nhau dung dăng khắp những đại lộ và con đường chính của Paris; nào là cùng vào thăm một cơ sở tôn giáo, hay một dinh thự, xa hơn là một nhà máy, xa hơn nữa là một quán cà-phê hoặc một nơi hòa nhạc.

Tất cả những gì đã gợi cảm cho Pétrus nói chung ít diễn tả bằng lời nói, nhưng tôi nhận thấy ngọn lửa sáng lên trong ánh mắt của ông chứng tỏ ông không dửng dưng trước những diệu-kỳ của kỹ thuật và những hoang phí của thiên tài Âu-châu.

Ở Thư viện hoàng-gia, Pétrus rất thích thú khi xem xét những bộ sách nhắc nhớ ông về Đông-phương; ông đặt những câu hỏi rất đúng đắn và những đối đáp của ông chứng tỏ một kiến thức thật sâu xa; ông lật xem những bản thảo chép tay và những cuốn sách quí khổ đôi một cách thỏa mãn khó tả nên lời của một người yêu sách; một thứ thỏa mãn phải có mới hiểu được ở người khác. Một nhà ngữ học chuyên sâu về lịch sử Phật giáo trao đổi vài câu chuyện với Pétrus, và chúng tôi chứng kiến cuộc đàm thoại, chúng tôi tin chắc rằng người thông-ngôn trẻ tuổi An-Nam này có thể giảng nhiều bài học cho vị thầy chuyên gia lớn tuổi đó.

Bạn đọc có muốn một bằng chứng hiển nhiên về học thức uyên bác của ông bạn Pétrus đó không, thì này đây hãy nghe giai thoại sau đây:

Được một vị bộ trưởng chúng ta triệu mời để hỏi về kiến thức, người An-Nam này (của chúng ta) đã đơn sơ trả lời rằng học-thức của ông hạn chế trong khoảng mười ngôn-ngữ. Vị bộ trưởng ngạc nhiên tột độ:

–  Ngài đã học mười thứ tiếng! Ngài biết đến mười ngôn-ngữ!

Pétrus đáp lời :

– Vâng, nhưng tôi không nói được hết.

– Tôi khó lòng nhưng mà phải tin; nhưng ông nói được nhiều thứ tiếng chứ?

–  Vâng, trong số có tiếng La-tinh.

– Như vậy ông có thể đàm thoại bằng tiếng La-tinh dễ dàng như tiếng của nước ông chứ?

– Vâng, thực thế, cũng dễ dàng như vậy.

Vị bộ-trưởng vừa nói tiếp vừa ấn nút chuông :

– Tốt quá! Tôi sẽ giới thiệu ông tức thì với một chuyên gia La-tinh hạng nhất; ông ấy vừa rời khỏi văn phòng tôi, tôi sẽ nhắn lại, như vậy hai ông sẽ dễ đàm thoại với nhau bằng tiếng La-tinh.

Một khoảng ngắn sau đó, một người đàn ông tuổi trạc 50, dáng người lạnh lùng, mang cà-vạt trắng và băng vải đỏ, tiến vào phòng tiếp tân; ông ta cúi đầu kính cẩn chào người phụ trách tiếp tân cùng các vị quan khách và sẵn sàng nhận mệnh lệnh của Ngài bộ trưởng. Bộ trưởng nói với ông ta:

– Thưa Ngài, Ngài là nhà La-tinh học hiếm quí của nước Pháp; đó không phải là lời khen suông, mà đó chính là sự thật. Ngài biện luận thông thái với ngôn-ngữ của Cicéron còn hơn cả rất nhiều người Pháp viết tiếng mẹ đẻ; tôi xin giới thiệu với Ngài một thông-ngôn trẻ tuổi người An-Nam là người vửa cho biết ông phát biểu bằng tiếng La-tinh rất thành thạo; tôi không biết người đánh giá nào hơn được Ngài; vậy hai ông hãy bắt đầu đàm đạo nào.

Vị giáo sư thông thái khai mào với một câu của tác giả Verrines mà tôi không thể phủ nhận là thích hợp. Câu văn hòa hợp nhẹ nhàng tròn trịa; các từ phối hợp tuyệt vời và ru êm lỗ tai.

Pétrus đáp lại với một câu văn rõ ràng, sáng sủa, lịch sự có thể nghi ngờ nhưng dĩ nhiên rất thích hợp. Người ta hỏi ông nếu nước Pháp (Gallia), cứ địa của văn học, chẳng phải là đất nước của trí thức ông và như thế thì đó cũng là quê hương thật sự của ông. Pétrus đáp lại rằng con người ta có hai quê hương, một của lý trí và một của con tim; người ta nâng niu quê này nhưng đồng thời tha thiết với quê kia, và có cả hai, ông nhận chân rõ rằng trong tâm hồn ông rằng ông được sinh ra ở vùng Đông-phương; rằng đó là quê hương đích thực của ông. 

Nhà thông thái người Pháp tiếp tục đi sâu công trình cùng ý tưởng; ông khai triễn ra nhưng hơi ngượng ngùng; ông ta thình lình thay đổi đề-tài và bị vấp vào cuối câu; ông tìm không ra chữ; rõ là trong đầu ông gặp khó khăn phiên dịch tiếng Pháp ra La-tinh; ông ta ngập ngừng lâu trước khi xong đoạn văn và có vẻ nói quanh co để tránh bị chết đắm.     

Viên thông ngôn An-Nam thì ngược lại, lời nói càng trôi chảy hơn bao giờ; làm như từng phút từng phút, ông càng được thêm sức mạnh. Con đường ông chọn hoàn toàn đối lập với người đối thoại: câu nói của ông trở nên chính xác, rõ ràng, trong khi đối thủ lạc lõng trong một cấu trúc câu văn mơ hồ và không chính xác. Ngay cả có một lúc, vì tìm không ra chữ, chuyên gia ngôn-ngữ Tây-phương kia trả lời thật thà bằng tiếng Pháp khi được Pétrus hỏi bằng tiếng La-tinh; người trẻ An-Nam đáp lại lần nữa bằng La-tinh thì người kia vẫn lại trả lời bằng tiếng Pháp. Ngài chuyên gia bèn quay về phía ngài bộ-trưởng đang theo dõi cuộc tranh tài lý thú:

–  Viên thông-ngôn trẻ tuổi này sử dụng nhiều từ ngữ hiếm dùng, nhưng nói chung hiểu biết La-tinh khá rành rõi.

Vị bộ trưởng tinh nghịch tiếp lời:

–  Đúng vậy, tôi còn có cảm tưởng là ông ta hiểu biết tiếng La-tinh hơn nhiều tay uyên bác người Pháp.

III

Tôi trở lại với những đàm đạo của chúng tôi. Một ngày kia, đi ngang trước một tiệm ăn ở Palais-Royal, chúng tôi thấy một cô dâu trẻ xuống khỏi một xe dạ hội ngựa trắng mui gập, bước xuống một bậc thang rồi biết mất. Pétrus chóa mắt vì sự xuất hiện này, nói với chúng tôi:

–  Có phải, có phải đây là một cô gái giang hồ?

Một người bạn chúng tôi trả lời:

–  Không phải, đây là một thiếu nữ chắc chắn là tử tế, vừa mua một người chồng.

Pétrus không hiểu đây là một câu nói dí dỏm, lại nghiêm trang hỏi :

–  Ở Pháp, nếu đàn ông được đưa đi bán, thì trái ngược với đất Nam-kỳ; đàn ông chúng tôi mua phụ nữ.

Tôi la loảng :

–  Sao? Các người còn dã man như vậy sao?

Với sự bình tĩnh quen thuộc, viên thông-ngôn nói tiếp:

– Đúng vậy, chúng tôi tặng người cha của cô gái chúng tôi thích một số tiền để trao đổi lấy hạnh phúc người ấy nhường cho. Hợp lý thôi! Cả hai phương cách – của quí vị chỉ chấp nhận người thiếu nữ có của hồi-môn, và của chúng tôi, đòi hỏi người chồng một thứ chi phí, quả thực, tôi thích cách sau hơn. Các ông lấy người thiếu nữ có của, làm đàn ông nghèo hơn, các ông trở thành nô lệ vì lý do đó. Gia tài không thuộc về các ông, thì thế lực cũng không còn của các ông; vì hai việc này đi đôi với nhau. Thật vậy, các cuộc hôn nhân của chúng tôi bình thường hơn của các ông : chúng giống như trao đổi bình thường, thật công bằng; nhưng chúng không làm hao mòn hay biến chất cái ưu-thế của đàn ông chúng tôi, mà cũng không gây tổn hại uy quyền của đàn ông chúng tôi.

Tôi không biết phải trả lời sao nữa trước cái lý luận khá hùng hồn của ông bạn Pétrus. Sợ phải tranh luận một đề tài ít ra là có chỗ không chắc lắm, tới phiên nói, tôi bèn lái qua việc khác cười cười hỏi ông bạn một người thiếu nữ giá là bao nhiêu ở An-Nam. Ông ngây thơ trả lời:

–  Giá cả tùy mà thay đổi.

–  Tôi cũng nghĩ như vậy.

–  Một thiếu nữ đẹp có thể đáng 100 ngàn đồng trinh (sapèques).

–  Một đồng trinh tương đương với một quan tiền (franc)?

–  Không đâu! Phải có khoảng 600 mới đổi được một quan franc.

–  Vậy người đẹp An-Nam đáng giá 300 quan franc?

–  Đúng, đó là giá bình thường, nhưng cũng có người giá thấp hơn nhiều. Thật vậy, nhiều người trong phái đoàn chúng tôi đã lập gia đình và không bắt buộc phải tốn một số tiền lớn như vậy. Mấy anh khuân vác tạp dịch chỉ mất khoảng chục (12) quan franc; nhưng các ông và tôi, chúng ta không thể thích người bạn đời như thế được.

– Tôi hiểu, nhưng những người phụ nữ thấp kém đó có là con nhà đàng hoàng tử tế không nữa chứ?

–  Nhà lành hết. Nhưng còn tùy giám sát (của cha mẹ).

Nghe vậy có người phản đối:

– Tiền bạc ở đâu cũng có cái giá trị quy ước của nó, và người phụ nữ An-Nam đáng tiền chục quan franc đó ở Nam-kỳ có thể có cái trọng lượng của phụ nữ bạc ngàn ở Âu-châu.

Pétrus đã khéo léo trả lời :

–  Tôi sẽ cố không giả thiết như vậy, vì một trong số đô đốc hải quân của quí ông mướn dân tôi làm việc mà trả có 3 quan franc mỗi ngày.  Dĩ nhiên, ta đã chẳng đưa ra bảng giá này mà không suy nghĩ kỹ chín chắn.  

Tôi nói thêm:

–  Như vậy, một anh Nam-kỳ lao động đàng hoàng bốn ngày, ngày thứ năm đã có tiền để lấy vợ?

Pétrus trả lời tôi:

–  Sự thật là như vậy; thường hay xảy ra lắm, nhưng còn thường hơn nữa là anh lao động đó say sưa rượu chè hoặc mua khí giới.

IV

Tôi hiếm khi thấy một người nào vô tư hơn Pétrus ở một vị thế khó khăn như vậy. Giáo dục Âu-châu và tình đồng hội đồng thuyền với người Pháp khiến Pétrus dè dặt về cái gọi là văn minh của nước An-Nam; nhưng con tim ông ta làm sao có thể chối bỏ quê cha đất tổ? Không. – Pétrus cẩn thận đi quanh hai khối đá ngầm này: hạ giá trị Âu-châu hay quê-hương của ông; ông thán phục nơi này và yêu nơi kia: đó cũng là con đường tốt đẹp nhất mà ông có thể theo đuổi.

Dù rất khoan dung, tài trí của Pétrus sẵn sàng vui theo những phê phán vô thưởng vô phạt. Lý lẽ ông không châm chọc, chỉ cù cho vui, bởi vì lòng nhân từ nhiều lần khiến ông quên đi những cái lợi lộc thân thiết nhất. 

Tôi còn nhớ Pétrus thích đùa với tính cả tin của người đồng hương của ông, quá tin vào những kỹ xảo của sân khấu Miếng Da Lừa (Peau-d’Âne), xem xong là cứ tin có những phù thủy lượn lờ trên phòng Galté. Pétrus cũng kể cho tôi nghe mà môi cười chúm chím rằng tay ảo thuật Robin đã làm cho họ sợ thật sự, và đây là giai thoại đó:

Lúc đó là những cảnh ma quái, nào bóng ma, ma hiện hình; Robin xuất hiện như một vị giáo chủ. Gần như cả phái đoàn sứ bộ đêm đó đi xem diễn ở một hí viện trên đường Temple; đám người An-Nam đó bị phần ma thuật đầu thu hút, nhưng họ tỏ ra thật sự sợ hãi khi nhìn thấy những bóng ma như sống thật, chỉ cần một hơi thổi phà cũng đủ làm họ xỉu ngất. Sự lo sợ này biến thành sững sờ khi họ nhận ra bóng ma của một người đồng hương trên sân khấu. Bạn hãy nhận xét sự kinh hoàng của họ! Họ tìm quanh họ người đồng hương đó; nhưng người ấy đã biến mất; như vậy không còn là ảo giác nữa. Họ tin có ma rình rập và chuẩn bị bỏ chạy ra đường; dĩ nhiên họ như bị chết cứng vì cú bất ngờ đó. Hai phút sau – những phút dài như thế kỷ, họ nghe tiếng bước chân đằng sau họ; cửa lô xem hát của họ mở ào ào; – không còn nghi ngờ gì nữa, người ta tổ chức ám sát họ. Họ đồng loạt đứng lên, theo bản năng họ bóp chặt vũ khí trong tay, cùng lúc đó họ nhận ra người đồng hành trong sứ bộ bước vào, nét mặt tươi cười, người đồng hương mà họ vừa ngỡ là đã biến mất luôn.

Ô! Pétrus, con người cả tin về các đức hạnh nào đó của các phụ nữ mà chúng tôi đã kể ở phần trên, cũng Pétrus đó đã kể lại cho chúng tôi nghe chương hồi này như một người có lý trí mạnh mẽ; ông thề với chúng tôi lúc đó ông không hề có chút sợ hãi mảy may nào.

Từ những cuộc đàm thoại với Pétrus, có thể nói rằng tôi có thể nghi ngờ những ấn tượng mà người An-Nam cảm thấy, vì bề ngoài của họ không biểu lộ gì hết. Ai cũng biết rằng người Đông-phương có vẻ bất-cảm, khó lay chuyển. Thật vậy khi họ vừa đặt chân lên đất Pháp, họ được tiếp đón đàng hoàng nhưng việc đó không làm cho cái bình thản của họ bị bối rối. Sau đây là vài sự việc đã xảy ra:

Khi phái đoàn Việt Nam vào đến hải cảng Toulon, phía Pháp đã cho bắn hàng chục đạn pháo mục đích để chào mừng xứng với danh dự của họ; vị đệ nhất sứ thần (Phan Thanh Giản) tỏ ra rất bình tĩnh. Thật ra đó là một cuộc tiếp đón rực rỡ dành cho vương công, nhưng cũng khá dữ dội, có thể biến thành tang lễ. Vị sứ thần này phải nghe tiếng đạn pháo lễ hội, nét mặt đã phải ngạc nhiên như đang mơ. Về phần những người tạp dịch, họ chạy trốn ở các góc tàu như những chú chó khi trời giông bão.

Khi Pétrus lên đường đi Tây-Ban-Nha, từ nơi đó ông sẽ đi Alexandie (Ai-cập), ông đã hứa với tôi, một lời hứa rất thích hợp với mong đợi của tôi, ông sẽ hỏi han cảm tưởng của các đồng hương trong sứ bộ rồi sẽ gởi cho tôi, như là bản tóm lược tập nhật ký của chánh sứ. Bản tóm lược đó, tôi đang có trong tay; văn phong đơn giản, ít màu mè, ít tưởng tượng, dù rất Đông-phương. Tôi sẽ tường trình với bạn đọc như sau:

Pétrus trong bản tường trình cho biết: “Ngoại trừ Paris và Madrid, người Việt Nam (trong phái bộ) không thích đi đâu khác; họ chỉ thăm viếng chính thức lịch sự các nhà chức trách địa phương theo lời mời và không hề nhận lời mời nào khác. Vô tình họ đã để mất dịp may nghiên cứu những nơi đã đi qua. Về phần tôi, tôi không hề để mất dịp may và khi có thể để thăm viếng và tìm hiểu khắp mọi nẻo đường mà chúng tôi được đến dù bất cứ lý do nào.

Qua các thông tin có được khi nói chuyện với các đoàn viên khác, hoặc khi đọc các du hành nhật ký và tường trình, tôi xin trình bày với ông tóm lược về những gì các đoàn viên đã cảm thấy, đã thán phục cũng như những gì họ muốn nhập về quê nhà để cải thiện đời sống người dân. Sau đó tôi sẽ vạch rõ những trở ngại có thể chận lại hoặc làm chậm lại sự tiến bộ văn minh mà vương-quốc An-Nam mong mỏi du nhập ngay từ bây giờ với tất cả chân thật hơn bao giờ hết“.

Tôi đã ghi mà không sửa lại lời của Pétrus, dù không kiểu cách, song diễn tả rất đứng đắn, – tôi tiếp tục trung thành ghi lại đây khóa-luận đầy lý thú của viên thông-ngôn trẻ tuổi.

Tất cả những người trong sứ bộ chúng tôi đều tin chắc rằng Âu-châu rất tiến bộ về văn minh; họ hiểu ưu-thế của nước các ông về nghệ-thuật tiện nghi và biết rằng các ông hơn họ về khoa học và kỹ-nghệ. Họ đã nhìn thấy chính trị và hành chánh ở xứ các ông ra làm sao. Họ đã được biết và đánh giá cao những biện pháp mà các nhà cầm quyền ở đây lo cho công chúng. Nguyên tắc đó có ở nước họ nhưng cũng xin thú thật rằng chúng thường không được áp dụng và thi hành đúng đắn. Họ đều hiểu bình-đẳng, tình huynh đệ và tự do, căn bản ba chân của đời sống xã hội. Họ cũng quan sát thấy tầm quan trọng về vũ khí trang bị và quân đội hùng mạnh, mà việc bảo trì dù không phải lúc nào cũng thiết yếu, đã trở nên tối quan trọng ở một số thời điểm và đem đến hiệu quả tốt đem vinh quang cho dân tộc. Ngày hôm nay, nhờ quí ông mà họ tin tưởng chắc về những ích lợi lớn lao của canh-nông, cũng là đời sống của dân.

Phân tích đúng đắn những gì họ đã thấy được ở Pháp và dùng ý niệm để áp dụng ở quê nhà của họ, – dù rất yêu quê-hương, họ vẫn thấy có một sai biệt lớn lao giữa ‘rất-Âu-châu’ và ‘rất Đông-phương’; họ phải nhìn nhận đất nước họ đứng yên một chỗ ở giai đoạn phát triển, và rằng nước họ rất chậm tiến nếu so với Âu-châu. Họ dĩ nhiên kỳ vọng ở một cạnh tranh có thể, để người Việt có ngày ngang hàng với những nước văn minh nhất.

“Về các công trình công cộng, về xây cất những công trình cao, đẹp và chắc chắn, đường xá khắp nơi được bảo trì tốt đẹp, những đường rấy xe lửa tiện lợi cho giao thông, tổ chức hành chánh, những cơ sở giáo dục đại chúng, những học viện mở cửa cho thanh niên, những cơ sở tôn giáo, đó là những gì đã đánh động mạnh nhất người của sứ bộ, làm họ thán phục, những người chưa bao giờ được thấy những phát triển như vậy.  Sau khi suy nghĩ kỹ, họ khen ngợi các phong tục, thói quen và phong hóa người Âu-châu. Nhà ở sạch sẽ và đẹp cũng làm họ thán phục vô cùng.

“Về vài thói tục ngược với họ, một cách tự nhiên là họ không ưa thích; tuy vậy, họ nghĩ có thể người Âu-châu cũng có thể không thích như họ, nên họ không chê bai làm gì.

“Về ba vị sứ giả, Ngài chánh sứ (PTG) là vị rất thông minh; phán đoán của Ngài rất thẳng thắn; Ngài đánh giá mọi sự ở giá trị thích đáng của chúng. Ngài luôn từng cho tôi biết Ngài ước ao làm điều tốt lành và cố hết sức mình làm việc để cải thiện người dân An-Nam. Dù vậy, khi Ngài thấy tóc mình trắng bạc phơ, Ngài thở dài mong có thể chuẩn bị ngày tháng còn lại bình lặng của cuộc sống hưu trí thoải mái. Tôi đã mạnh mẽ khuyến nhủ Ngài đừng quá lo âu, và tôi hy vọng Ngài nghe theo lời xin của tôi, Ngài sẽ làm tròn nghĩa vụ mà Ngài đã bắt đầu.

“Động viên bởi lòng yêu tổ quốc và tha thiết muốn dùng những kiến thức thu thập trong chuyến du hành Âu-châu, Ngài chánh sứ đã có ý đưa về Nam-kỳ áp dụng những gì mà Ngài nghĩ là phải làm để văn minh tiến bộ hơn. Ngài thường hỏi tôi rằng theo ý kiến cá nhân tôi thì đâu là phương tiện hữu hiệu nhất để thắng những thành kiến và để cho dân chúng hiểu những lợi ích của canh-nông và hoạt động kỹ nghệ. Theo ý tôi, phương tiện hữu hiệu nhất là làm sao cho dân chúng hết thờ ơ với công việc, là khiến họ có thói quen làm việc; rồi sau đó tùy khả năng mà đặt họ vào những chuyên môn khác biệt. Tôi nghĩ trên hết mọi sự thì bước đầu rất khó khăn.

“Các sứ thần đã cùng nhau tham khảo về việc làm sao xây dựng những dinh thự cao lớn; các Ngài không thể nào biết là có thể có những công trình đồ sộ như vậy ở Âu-châu. Các Ngài nghiên cứu để biết chỗ nào ở mặt đất có đủ sức bền vững để chịu đựng được sức nặng của những tòa nhà lớn. Các Ngài cũng đã vẽ họa đồ những địa điểm thích hợp để xây dựng những thị trấn đông dân số. Các Ngài đã tìm hiểu phương cách để khai thác những vùng đất bỏ hoang hoặc không trồng trọt được nữa; phương cách để có được một đội hải thuyền; phương cách phải sử-dụng để đất nước trong sạch hơn, v.v.

“Các sứ thần chúng tôi đã hiểu rằng nguyên do chính của tiến bộ ở Âu-châu là nhu-cầu thiết yếu; thật vậy, mỗi cá nhân phải kiếm nhiều tiền. Tài sản tinh thần sáng giá của quí vị có thể ít do lý trí có điều kiện phát triển hơn là do tài nguyên quí vị có. Bên nước An-Nam chúng tôi, đất đai rất màu mỡ nhưng lý-trí không hoạt động vì không được thúc đẩy hay cần thiết phải làm. Dĩ nhiên là chúng tôi sẽ giàu về trí thức hơn nếu đất đai chúng tôi không phong phú.

“Nói thế không có nghĩa là các vị lãnh đạo chúng tôi phải muốn biến đổi nước Việt Nam để đạt mục đích ấy; thật sự chỉ là phải phấn đấu chống lại thói lười biếng ù lì, không phải chỉ với quan điểm của vài đầu óc – là việc nhỏ nếu so với tư tưởng của cả một dân tộc, dễ bị coi thường không chịu theo. Có biết bao dị đoan mê tín cần phải hủy bỏ, bao hủ tục cần phải cải lương, bao thành-kiến cần phải triệt bỏ, đủ biết là việc canh tân này sẽ khiến rất nhiều tự-ái bị thương tổn! 

“Về các chi tiêu phung phí! – Tôi bỏ qua để bàn đến những nhận xét khác. Không còn ai khăng khăng cứng nhắc với nguyên tắc như với các quan chức. Hơn nữa, họ sẽ chẳng bao giờ nhìn gặp và nghe các sứ thần của chúng tôi. Làm thế nào để các Ngài có thể đi vào trong ý tưởng của các quan chức – nhưng cứ giả thử rằng cái Ngài tự thâm tâm hiểu được những lợi ích của văn minh Âu-châu, các vị sẽ khảo sát, dò xét, cân đo các thiết-chế muốn đưa vào guồng máy, cuối cùng thì sẽ rất khó khăn để các thiết-chế đó bén rễ. Các vị ấy không nghĩ đến điều lợi cho dân giả, mà chỉ nhắm làm vui lòng nhà vua: đó là sự thật; nhà vua sẽ bị những lời thầm thì nịnh hót của họ ru ngủ.

“Sự kiện tôi vừa báo hiệu là một trong những lý do chính của phần lớn những đau khổ người An-Nam cam chịu. Các vị đại thần chỉ tâu lên vua những biến cố thuận lợi; họ chỉ tâu bàn với nhà vua những gì có thể làm hài lòng nhà vua. Do đó, dù đã được qui định trong luật pháp, các vị ấy vẫn giấu không trình với nhà vua những tai ương đã xảy ra, vẫn tránh tiết lộ những thất bại, những nạn đói khổ, mất mùa màng, và ngay cả những bệnh dịch. Tất cả những điều đó không thể tìm thấy trong các báo cáo thường niên mà nhà vua đã ra lệnh phải làm để nhà vua có thể biết đến những việc quốc gia đại sự. Các vị đại thần tổng đốc thường hay sợ bóng sợ vía, đa nghi, chỉ biết tuân thủ các truyền thống thảm hại một cách nô lệ; do đó con muỗi thường bị họ thanh lọc kỹ càng, nhưng họ lại phải (cay đắng) nuốt trọn những con voi (!).

“Giờ đây hãy bàn đến làm sao để có thể phổ biến kiến thức (mới) với một chữ viết ký hiệu gồm rất nhiều từ và khóa thật khó (chữ Hán, Nôm)? Tôi không chối là người ta có thể viết về khoa học với chữ viết đó. Nhưng có biết bao phiền phức! Khó khăn! Để có thể thành công đọc và viết đến nơi đến chốn những chữ ký hiệu này, một người ít nhất sẽ phải dùi mài suốt tuổi hoa niên; người ấy sẽ không còn lại bao nhiêu thời gian để làm việc nghiên cứu khoa học. Nếu ông có thể hiểu rõ như tôi những phong tục và tập quán ở nước tôi, tôi đã không cần phải nhấn mạnh nhiều lần về những trở ngại mà các khuynh hướng nỗ lực canh tân đất nước gặp phải.

“Người đồng hương của tôi là một dân tộc rất dễ khiến, hay bắt chước, nhưng hoàn toàn ù lì; theo tôi nghĩ thì lỗi chính ở chính quyền, không chủ tâm làm cho dân sinh động lên, không đánh thức người dân. Nếu được thì tôi hy vọng ngay từ bây giờ dân Việt không còn chìm đắm trong giấc ngũ đêm dài bất động và đứng lên như thế giới cũ của Tây-phương đã bước đi trên con đường tiến bộ“.

Nhà triết học thông thái chấm dứt bức thư với một số câu văn có tính triết lý siêu hình và cấu trúc khó bí hiểm – Tôi tin đã thành công nắm bắt được ý nghĩa, như một nhà khảo cổ giải-mã được những tín hiệu còn lại trên mảnh đá …; nhưng văn dịch lại ở đây tôi có cảm tưởng không chắc chắn lắm – do đó tôi cũng xin nói cho độc giả hiểu. Ước gì các chuyên viên đồ cổ cũng có cái cẩn trọng của tôi!

Bây giờ thì Pétrus và các vị đồng hành của sứ bộ đã về lại Việt Nam. Nhưng trước khi rời Âu-châu, họ đã muốn thăm viếng nước Tây-Ban-Nha và triều kiến tỏ bày lòng kính trọng với nữ hoàng Isabelle. Một mặt, không ai xa lạ gì vai trò quan trọng của Tây-Ban-Nha trong biến cố Cochinchine (Nam-kỳ lục-tỉnh) và cũng dễ hiểu thôi, mặt khác vương quốc An-Nam cần phải có liên hệ tốt đẹp với chủ nhân nước Phi-luật-tân. Như vậy thì đối với sứ bộ An-Nam, đây là một bổn phận ân cần và hữu ích phải hoàn thành trong vùng.

Chuyến trở về Đông-phương của sứ bộ không phải thực hiện không gặp khó khăn. Ở Địa-trung-hải, họ có lúc đã tưởng trở thành đối tượng quỷ thần đuổi theo bám chặt giữ họ lại đó. Trong các vùng lãnh hải nước Pháp, Ý và Hy-Lạp, phong ba bão táp liên tục dồn đến. Mỗi khi rời hải cảng trốn bão, tàu của sứ bộ lại phải bất ngờ đương đầu với những cơn gió lốc dữ dội. Sau những kinh hoàng thật sự đó, tàu của họ cập bến cảng Alexandrie (Ai-cập). Từ đó trời quang mây tạnh đưa họ về tới bến quê nhà.

Chú-thích

1 Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH)đã đăng bản dịch tập Như Tây Sứ Trình Nhựt Ký: “L’Ambassade de Phan Thanh Gian 1863-1864” phần đầu do Ngô Đình Diệm, sinh viên trường Hậu Bổ, dịch (6e année, nos 1bis & 2, avril-juin 1919, tr. 161-216), phần tiếp do Trần Xuân Toạn (8e année, 1921, tr. 147-187, 243-281; cả hai dưới sự kiểm duyệt của Nguyễn Đình Hòe, giám đốc trường Hậu bổ và tổng thư ký Viện Cơ Mật.

2– Trương Vĩnh Ký. “Notice sur le royaume de Khmer ou de Kambodje”. Bulletin de la Société de géographie, novembre 1863, p. 326-332. Bài đánh dấu sự gia nhập vào văn hóa thế giới của Việt-Nam.

3– “L’Ambassade de Phan Thanh Gian 1863-1864”. BAVH, 6e année, nos 1bis & 2, avril-juin 1919, tr. 170, 171, 178.

4– Delvaux, A. “L’ambassade de Phan-Thanh-Giản en 1863, d’après les documents francais”. BAVH, 1926, pp. 69-80.

5–  http://nguyentl.free.fr/Public/Herve-Bernard/Souvenirs-Amiral-Henri-Rieunier_Petrus_Ky.pdf

6–  http://www.dcvonline.net/2017/01/25/petrus-truong-vinh-ky-trong-chuyen-di-tay-1863/.

7Thế-Kỷ XXI Nhìn Về Trương Vĩnh Ký. TpHCM: Tạp chí Xưa Và Nay; NXB Trẻ, 2002,  tr. 173.

8Trích theo Khổng Xuân Thu, “Trương Vĩnh Ký quan niệm về vấn-đề văn-hóa Đông-phương giao tiếp với văn-hóa Tây-phương”. Trương Vĩnh Ký (Sài-Gòn: Tân Việt, 1958), tr. 139-140; 141-142; 138-139.

9Trích theo Khổng Xuân Thu. Sđd, tr. 115.

10Impressions d’un japonais en France suivi des impressions des annamites en Europe: l’interprète Pétrus Truong Vinh Ky, 1864, tr. 190.

11Idées sur la philosophie de l’histoire de l’humanité, traduit par Edgar Quinet. Paris: F.G. Levrault, 1827; tr. 507.

Nguyễn Vy Khanh (12-1-2009)


Giới thiệu Trương Vĩnh Ký: tinh-hoa nước Việt của Nguyễn Vy Khanh.