TRƯƠNG VĨNH KÝ, con người và sự nghiệp

Lê Văn Ðặng

(nguồn: http://www.han-nom.org/LinhTinh/Petrus%20Ky%20Con%20nguoi%20va%20Su%20nghiep-Nov%202012.pdf)

Hinh petrus ky
Petrus Trương Vĩnh Ký

 

I. MỘT ẨN SĨ NƠI CHỐN PHỒN HOA

Chi bằng thủ phận an tâm, cứ nước mình mà đi,

Cứ phiên mình mà làm, cứ phận mình mà giữ thì là hơn.

Trương Vĩnh Ký

Chiếc thuyền câu đậu đâu nên đó,

Ở lúc loạn triều giàu có làm chi.

Câu hát (Miscellanées no1)

Ông nhận mình là ẩn sĩ. Chính là đại ẩn sĩ ở giữa cảnh đô thị phồn hoa.

Lê Văn Siêu

Trương Vĩnh Ký (1837-1898), người xã Cái Mơn, quận Ðơn Nhơn, tỉnh Vĩnh Long, con thứ ba của ông Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu, là một học giả nổi tiếng trong khoảng hậu bán thế kỷ thứ XIX. Ông mồ côi cha từ thuở nhỏ, được mẹ hết lòng nuôi dạy. Lúc sáu tuổi, theo học chữ Nho, rồi học chữ Quốc Ngữ. Với tư chất thông minh, ông biết rất nhiều ngoại ngữ nhưPháp, Hán, Xiêm, Lào, Miên, Hy Lạp, La Tinh, Anh, Nhật, Ấn Ðộ. Ông giảng dạy và là giám đốc trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) trong khoảng 1864-1868. Tháng 8 năm 1869, ông trông coi bài vở cho tờGia Ðịnh báo ra đời năm 1865, tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở nước ta, với dụng ý truyền bá chữ Quốc Ngữ, trau dồi văn chương nước nhà. Từ năm 1873, ông dạy chữ Hán và Quốc Ngữ tại trường Tham Biện (Collège des Stagiaires), hai năm sau ông được cử làm chánh đốc học của trường.

Sự nghiệp văn học của ông gồm: phiên âm văn Nôm, khảo cứu về khoa học, văn học, và chếđộ nước nhà, sưu tầm ca dao, tục ngữ, cổ tích của ta, dịch thuật ngoại văn ra quốc ngữ … Các tác phẩm của ông có thể chia làm hai loại, phần lớn là sách giáo khoa:

Loại sáng tác, khảo cứu, sưu tập chú giải gồm có Bài hịch con quạ, Bất cượng chứcượng làm chi, Phép lịch sự Annam, Kiếp phong trần, Lục súc, Ước lược truyện tích nước Annam, Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, Phong hóa điều hành (gồm 75 chuyện), Cờ bạc nha phiến, Thịnh suy bỉ thới, Học trò khó phú, Dưđồ thuyết lược (Précis de géographie), Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1875), Sách dạy chữ Quốc Ngữ, Sách dạy chữ Nho, Mẹo luật dạy tiếng Pha-lang-sa, Petit dictionnaire français-annamite, và rất nhiều sách viết bằng Pháp ngữ.

Loại phiên dịch chú giải văn Hán Nôm ra chữ Quốc Ngữ gồm có Kim Vân Kiều, Ðại Nam Cuốc Sử Kí Diễn Ca, Gia huấn ca của Trần Hy Tăng, Lục súc tranh công, Nữ Tắc, Thơ dạy làm dâu, Huấn nữ ca của Ðặng Huỳnh Trung, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên truyện, Trương Lưu Hầu phú, Tam tự kinh, Minh tâm bửu giám, Tứ Thư: Ðại học, Trung dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử.

Lê Văn Siêu, trong Văn Học Sử Kháng Pháp, đã viết về văn nghiệp của ông:

Thật chưa có gì đáng đuợc kể là tác phẩm lớn. Nhưng giá trị của ông là giá trị của người dùng chữ Quốc ngữđầu tiên trong việc trước tác để từđó mở ra một đà tiến mới cho dân tộc. … Sau ông đã có nhiều người nối tiếp công việc của ông nhờ sẵn nền tảng. Nhưng hồi sinh tiền của ông thì trước đã không có ai nên ta cảm thấy cái khó lại càng khó hơn. Ðó chính là sự nghiệp mà người đời phải nhớ ơn ông vậy.

Về thái độ trí thức, Lê Văn Siêu nhận xét:Ông được người đời mến chính nhờ thái độ trí thức của ông, là người biết bỏ tham vọng làm quan, để tránh đụng độ trong cái thời thế hết sức khó xử. Ông nhũn nhặn trong vai một người thông ngôn, một viên chức nhỏ, một giáo sư, và một nhà nghiên cứu, không hống hách gây gỗvới ai như Tôn Thọ Tường, không nịnh bợ tâng công làm hại ai như Trần Bá Lộc và nhất là không lên mặt dạy khôn ai về chánh trị.

Ðó là một người khôn hơn cả, khi bị ép phải đứng giữa cuộc tương tranh ông đã mặc người đời, càng quên mình đi lại càng hay, để khỏi phải ngả hẳn một thái độ nào, trắng hay đen lúc ấy cũng đều khó nói và không tiện nói cả. Ông nhận mình là ẩn sĩ. Chính là đại ẩn sĩởgiữa cảnh đô thị phồn hoa. Ông không góp lời góp ý với bên này hay bên kia, trong cuộc xướng họa thơ giữa Tôn Thọ Tường và Phan văn Trị. Mà trong việc phải làm thông ngôn giữa Nam Triều và chính quyền thuộc địa, ông cũng không ngả hẳn về bên này hay bên nọđể gây khó thêm, mà còn cố dàn hoà để vớt vát được chút gì cho đất nước là hay chút ấy.

… Ít có người nào sống giữa thời thế khó khăn như vậy, mà không bịđiều tai tiếng gì cả. Bài thơ cuối cùng của ông tựđiếu mình, càng cho thấy rõ thái độ tri thức nhũn nhặn và đáng mến của ông:

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai        𨒺𨒺𨛦𨛦𡓃塘乖

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời                           摳掋𠊛𠓺𡧲局𠁀

Học thức gởi tên con mọt sách                           學識𢭮𥏍昆蠛册

Công danh rốt cuộc cái quan tài                        功名𡦧局丐棺材

Dạo hòn lũ kiến men chân bước                        𨄹𡉕𠎪蜆𥾃蹎𨀈

Bò xối con sùng chắc lưỡi hoài                          𨁏㵊昆𧐿𠺵𦧜懷

Cuốn sổ bình sanh công với tội                         卷数平生功𠇍罪

Tìm nơi thẩm phán để thưa khai                      尋坭審判抵𠽔開

Dù có người trách thái độ không vấn thân của ông là lẩn trốn hay gì nữa, ông vẫn có quyền không hổ với lương tâm mình là một kẻ sĩ. Ông mất ngày 1-9-1898, tại chợ quán, thọ 61 tuổi.

 

II. MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

Xin chân thành cảm tạ G.S Nguyễn Văn Sâm đã cho mượn tư liệu phong phú về Trương Vĩnh Ký dùng trong phần nầy. L.V.Ð.

1. Phong Hoá Ðiều Hành (Morale en Actions) gồm 75 truyện văn xuôi, sưu tập đó đây, với mục đích hướng dẫn người đọc thông biết Phong hoá chính. Soan giả giới thiệu:

… Trong sách ta làm đây, có ý giúp dạy phong hóa, mà ăn ở cho phải phép; lại trong sách nầy, sẽ gặp đặng nhiều gương có danh tiếng những kẽđã theo phong hóa thật. Sau nữa, cũng gặp những lời ta thêm mà kết dón lại cho đặng hiểu rõ gương ta trưng; lại bằng ai thông thái một ít thì sẽ biết các truyện trong sách nầy, đã lựa bỡi sách các tấn sĩ có danh tiếng, mà làm ra …

Sau đây là truyện ngắn nhất: 3. Vua Luy thứ XIII.

Ông lớn kia, tên là de Retz, khuyên vua Luy thứ XIII rằng: Hễ kẻ làm lớn thật, thì phải có lòng thương dân; dầu đang thắng trận khải hoàn, cũng lấy sự thương dân làm trọng hơn mọi sự. Và các kẻ làm lớn, hễ có đi viếng dân, thì chớ khá làm như sông chảy mạnh, mà phá lở các sựởdọc bờ sông, song phải làm như nước sông đầy, tràn ra các ơn cho dân nhờ mà thôi.

2. Cờ bạc nha phiến (Des jeux de hasard et de l’opium.)

Sách vạch rõ điều hại của hai tai ách lớn trong xã hội, khuyên răn người đời lánh hai cái hư là Cờ bạc, Hút xách, đã vô ích mà lại thâm hại của tiền, tổn trí, hao sức lực, làm cớ cho vợ con phiền hà. Sa cơ nghiêng nghèo, lỗi đạo nhà, mắc phép nước, mà luỵđến mình; phải tội vạ, lìa vợbỏ con, thất thổ vong hương, cực thân khốn nạn chẳng ra gì (trích lời dẫn thơQuê phụđỗ yên giải). Về cờ bạc, ngoài các nhận xét Pétrus Ký, phân tích lợi hại, Soạn giả có thêm bài thơ của Hai Ðức (Quê phụđổ yên giải, Vợ khuyên chồng thơ I & II).

Cờ bạc ơi là cờ bạc!

Ấy nát cửa hại nhà, tán gia bại sản, mang nghèo mang khổ, vợ chồng phân rẽ, thân sơ thất sở, cũng bởi vì mầy.

Về nha phiến, có phần tìm hiểu về vật thể, phân tách lợi hại:

Nha phiến cứu binh như thần, sát nhơn như kiếm.

… Thật thường là những người phong lưu giàu có, nhơn cầu vui mà mắc tật ghiền, chớchẳng ai muốn ghiền làm chi. Mà bởi dĩ lỡ ra rồi, bỏđi thì nó sanh đau đớn bịnh hoạn khó lòng, nên cũng thả trôi đi vậy cho qua đời.

Trót vì tay đã nhúng chàm, dại rồi còn biết khôn làm sao đây!

Sau đó ông sưu tập bốn bài thơ (Giải nha phiến từ, Chước từ, Tờđể nha phiến, Văn tế nha phiến), dẫn như sau:

Từ xưa đến nay biết là mấy bài giải Nha phiến, người trí từng trải đã làm ra mà chê, cho người ta lánh! Biết là bao nhiêu thơ phú kẻ văn thi đã đặt ra mà bao biếm, cho người ta biết mà chừa cải!

Ta đem các bài thơ ấy liền sau nầy, có chú giải cho rõ nghĩa, cho người ta tỏ biết, ai ai cũng đồng một tiếng mà chê sự dùng nha phiến quá độ, sái cách là thể nào.

3. Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine.

Sách gồm hai tập, viết bằng tiếng Pháp. Tập 1 đã bị thất lạc; tập 2 dày 278 trang, gồm hai triều Lê Nguyễn (Gia Long), trong các năm 1428-1875. Tập sử chấm dứt vào lúc các tỉnh miền Tây lần lượt rơi vào tay giặc Pháp: các tỉnh Vĩnh Long (20-6-1867), Châu Ðốc (22-6-1867), Hà Tiên (24-6-1867), thất thủ dưới đềđốc De la Grandière trong vòng bốn ngày!

Saigon: Imprimerie du Gouvernement, 4e Édition, 1887; 20cm.

4. Ðại Nam Cuốc sử kí diễn ca 大 南 國 史 記 演 歌

Sách do Lê Ngô Cát, quan sử quán (năm Tự-đức thứ 12), soạn vào năm 1860 bằng thơ theo thể 6-8. Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ có thêm niên biểu các đời vua từ Hồng-bàng đến Tự-đức.

Sài Gòn: Bản in nhà nước 1875 (58 trang, 20 cm)

Sau đây là trang đầu sách của Lê Ngô Cát và phần phiên âm của Trương Vĩnh Ký.

大南國史演歌            ÐẠI NAM CUỐC SỬ DIỄN CA

𠦳秋﨤會昇平            Ngàn thu gặp hội thăng bình,

𣋀圭𠓇𨤔文明𡧲𡗶    Sao Khuê rạng vẻ văn minh giữa trời.

蘭臺停筆清台            Lan đài đình bút thảnh thơi,

𠳐國語演唎史撑     Vâng xem quốc ngữ diễn lời sử xanh.

南交羅𡎝離明            Nam-giao là cõi Ly-minh,

天書定分伶伶自初    Thiên thơ định phận rành rành từ xưa.

廢興𢬭局棋             Phế hưng đổi mấy cuộc cờ,

是非剳抵𦥃𣉹𦎛     Thị phi chép để đến giờ làm gương.

計自𡗶𨷑炎邦            Kể từ trời mở Viêm-bang,

初頭固戸鴻龐買𠚢    Sơ đầu có họ Hồng-bàng mới ra.

召孫𠁀炎帝次𠀧        Cháu đời Viêm đế thứ ba,

𨁡𣳔火德噲纙炎明    Nối dòng Hoả-đức gọi là Ðế-minh.

觀風欺駕南行            Quan phong khi giá nam hành,

咍梅領緣生藍橋     Hay đâu Mai-lãnh duyên sanh Lam-kiều.

5. Lục súc 六畜 Lục súc là sáu con vật người ta nuôi .

Sách mô tả các gia súc: ngựa, trâu, bò, dê, gà, vịt, ngỗng, bồ câu, chó, mèo, và heo. Ngoài bài học luân lý mà soạn giả nêu ra ởđầu sách, 22 trang Lục Súc còn có thể giúp học sinh bậc trung học bổ túc các bài học vạn vật.

Ta đem riêng ra đây phân loại, có ý nói dẫn cho rõ hơn, cùng đem cái thơ Lục Súc tranh công là thơ người ta nói vua Thiệu-trị làm ra mà ngăn lòng đình thần hay tranh đua với nhau …

… Ai đều có phận riêng nấy; ai cũng không sướng hơn ai, mà cũng chẳng cực hơn ai: mỗi người riêng mỗi phận, riêng mỗi kiếp. Nên cứ phân bì ganh gổ nhau làm chi vô ích? Cũng chẳng nên chê bai khinh bạc lẫn nhau vô lối: vì phải nhớ trời đã sinh ra nhơn nhơn các hữu kỳ tài, vật vật các hữu kỳ ích.

Lục súc còn có vè đá gà (trang 10-12), bồ câu phú có chú thích (trang 13-18)

Saigon: Imprimerie la Mission, 1887.(22 trang; 25 cm.)

6. Cổ Kim Gia Ðịnh phong cảnh vịnh 古今嘉定風景詠

Trương Vĩnh Ký sưu tập, dẫn và chú thích.

Cái điệu vịnh Gia Ðịnh không rõ là của ai làm. Có người nói của ông Ngô Nhân Tĩnh ngụ xứTrà Luộc làm ra mà chơi.

… Vịnh nói vềđịa cảnh đất Sài Gòn thuở trước Tây chưa lấy:

Phủ Gia Ðịnh, phủ Gia Ðịnh nhà đủ người no chốn chốn,

Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi …

Sau khi Gia Ðịnh thất thủ:

Lũ Tây dương da trắng bạc, mồm giợt giạt, miệng xếch xác, giống thần quỉ thần ma thần sát. Thương thay đất Gia Ðịnh! Tiếc thay đất Gia Ðịnh!

Vực thẩm nên cồn, đất bằng nổi sóng …

7. Bài hịch con quạ 排檄昆𪂠 (Proscription des corbeaux)

… Hiệu là ô, tánh vốn tham ô;

Ở đã chạ, việc ăn cũng chạ…

Nguyên tác bằng chữ Nôm, khuyết danh, do P.J.B. Trương Vĩnh Ký chép ra chữ Quốc ngữ và dẫn giải cắt nghĩa. Sau đây là lời dẫn ởđầu sách:

Hịch con quạ, cũng như hịch con chuột (Coi trong sách về Văn thi Annam) là bài văn người ta, không biết là ai cho chắc, làm ra mượn để mà răn ta, có ý dạy kẻ lòng xấu, hay kiếm phương làm hại phá phách kẻ khác, cũng như con quạ, con chuột làm vậy.

Văn đặt hay, đối đáp xứng câu chữ cũng đã nên là có tài. Coi mà học trước là biết văn hay, sau nữa là cho đặng xét mình có tính chi xấu như thể ấy, mà chừa cải đi: Vì thường việc người thì sáng mà việc mình thì quáng.

8. Nữ tắc 女則 (Devoirs des files & des femmes)

Nguyên tác bằng chữ Nôm, khuyết danh, do P.J.B. Trương Vĩnh Ký chép ra chữ Quốc ngữ và dẫn giải.

Sau đây là lời dẫn ởđầu sách:

Thiên Nữ tắc này chia ra làm năm khoản. Trước hết dạy về tứđức nữ công nữ hạnh, nết na con gái phải ở làm sao cho tử tế cho được tiếng gái lành. Thứ hai, khi còn tại gia, phải thờ cha kính mẹ thể nào. Thứ ba, khi đã xuất giá lấy chồng, thì phải tề gia nội trợ làm sao? Ở với chồng làm sao cho phải đạo? Thứ tư, ở sao cho vừa ý đẹp lòng cha mẹ chồng? Thứ năm, khi có thai có nghén phải giữ những điều gì? Phải kiêng cử những vật chi?

Thật kẻ làm Nữ tắc này là người từng trải việc đời dạy ăn chín chắn không sót điều gì; lời nói không dụng tiếng cao kỳ, cứ thường thiệt sự mà nói rõ ràng dễ hiểu.

Ta khuyên con gái biết chữ nàng coi nàng đọc mà suy, hay là học thuộc lòng đi thì lại càng hay; để mà nhớ việc mình phải giữ, phải kiêng, phải dè. Gái mà ởđặng như vậy thì là quí giá lắm; cha mẹ dấu yêu, chồng con tưng trọng, đẹp mặt nở mày cho tông môn cả hai bên; lại được bia danh ra trong thiên hạ.

P.J.B.Trương Vĩnh Ký

Saigon: Imprimerie F-H.Schneider 1991. (27 trang; 20 cm.)

9. Học trò khó phú 寒儒風味賦 hàn nho phong vị phú (Un lettré pauvre)

Nguyên tác bằng chữ Nôm, trào Lê, tỉnh Hà Nội, học trò Giám, tên Nguyễn Thế Lan làm, P.J.B.Trương Vĩnh Ký chép ra chữ Quốc ngữ và dẫn giải.

Bài phú bắt đầu:

Thằng cha cái khó!

Thằng cha cái khó!

Khôn khéo với ai,

Vụng về với nó. (1)

Lúc cực văn chương chẳng dụng,

Tiếng quốc ngữ nào không ;

Khi nghèo kinh huấn khôn thông,

Lời ngạn ngôn hẳn có. (2)

Cơn đắc thế tiền nhiều lúa sẵn,

Dầu xa xuôi rừng núi cũng quen ;

Khi thất-thì ruộng hết nhà không,

Tuy cật ruột bà con biếng ngó. (3)

Kìa ai bốn bức lều tranh,

Nổi đó vài gian nhà cỏ. (4)

Cắn sơ sài khi đậu khi kê,

Ăn hẩm hút nửa buồng nửa xó. (5)

… Và kết cuộc:

Dẫu ai mà :

Ruộng kim trâu cổ,

Sớm nở tối tàn; (6)

Diệc chung vu thủ tiền lỗ. (7)

Trương Vĩnh Ký dẫn giải :

(1) Thằng cha tám mươi kiếp cái sự nghèo sự khó! Khôn với ai thì còn khôn được, chớ với cái khó thì làm sao cũng vụng mà thôi.

(2) Lời tục hay nói: xách giạ vay lúa, ai xách giạ vay chữ, cho nên đều chữ nghĩa văn chương mặc lòng mà nghèo khó, thì cũng chẳng làm gì; khi nghèo thì sách vở cũng lu, lời ngạn ngữnói thật có. Kinh huấn 經訓 là sách vở.

(3) Giàu có trong hang cũng kiếm, khó khăn giữa chợ không màng: Phú quí đa nhơn hội, bần cùng thân thích ly 富貴多人會貧窮親釋離.

(4) Kể sự thế người nghèo: xưa kia cũng có kẻ nghèo ở lều tranh leo heo bốn tấm; nên nỗi này mình cũng nhà lá vài căn lếu láo

(5) Ăn sơ sài khi thì đậu luộc, khi thì cháo hột kê, hẩm hút núp lén nửa buồng nửa xó mà ăn.

(6) Ruộng kim trâu cổ𤳱今𤠋古 là ruộng nay trâu xưa; dầu ai giàu muôn hộ ruộng trâu nhiều mặc lòng, thì cũng như hoa, sớm nở tối tàn chẳng bao lâu đâu.

(7) Diệc chung vu thủ tiền lỗ亦終于守錢魯= cũng rốt về đứa mọi giữ của, đi lại cũng là thằng mọi giữ của đời cho chúng vậy mà thôi.

Saigon, bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, 1883.

10. Thông Loại Khoá Trình 通類課程 [Miscellanées ou lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales, et les familles, par P.J.B Trương Vĩnh Ký ] 5 xu một số, mỗi tháng một lần, ra được 18 số, [hai sốđầu ghi năm 1888, không ghi tháng, 11 trang; số 3 ghi Juillet 1888 12 tháng; các số kế tiếp có ghi tháng năm, 16 trang; tám sốđầu ghi 1re année (1888), mười số còn lại ghi 2e année (1889); các số cuối đổi ra, Sự Loại Thông Khảo 事類通考. Từ số 3 Juillet 1888 trởđi có thêm trang mục lục. Thông Loại Khoá Trình là học báo ghi lại truyện xưa tích cũ, thi phú cổ kim, phương ngôn ngạn ngữ, nhơn vật nước Nam, truyện vui giải trí, câu đố, câu thai, bài học chữ nhu ngắn gọn, vài câu tiếng phangsa, có cảcoi tướng ca của Ma-Y Thần Tướng [số 4(16), août 1889]. Có nhiều bài thơ dài đăng liên tiếp trong nhiều số. Qua 18 tập báo mong mỏng này ta có thể hình dung được phần nào con người bác học, đạo đức, nhũn nhặn, hiền lành Trương Sĩ Tải.

Nhựt trình Vĩnh Ký đề ra,                  日程永記提

Soạn thành một bổn để mà coi chơi. 撰成蔑本抵𦓡𥋳制

Qua mục Nhơn vật nước nam, văn tế, bài hịch, ông giới thiệu:

Nguyễn Trãi (3), Lý Thường Kiệt (3), Mạc Ðỉnh Chi (4), Nguyễn Hiền (5), Phùng Khắc Khoan (6), Võ Tánh, Ngô Tùng Châu (8), Châu Văn Tiếp (9), Nguyễn Tri Phương (14), Nguyễn Bỉnh Khiêm (15), Hà Tôn Quyền (16), Phan Lương Khê tức Phan Thanh Giản (17). Sau đây là nguyên văn bài nhơn vật nước nam:

Nguyễn Hiền 阮賢

Nguyễn Hiền là người Nam-định ở huyện Thượng-nguyên đời Trần Thái Tông, năm Thiên-ứng chánh-bình (1225) mới có 12 tuổi mà thi đỗ trạng nguyên, vì tuổi nhỏ cho vềvinh quy ba năm sau mới dùng làm quan.

Thuở mới 7, 8 tuổi, học hành sáng láng quá, thiên hạ kêu là thần đồng. Có ông huyện kia thấy Nguyễn Hiền còn nhỏ mà bận áo rộng xùng xình thì ra câu đối này biểu đối thử:

Học trò là học trò con, quần áo lon xon là con học trò.

學徒學徒昆, 裙襖輪㖺昆學徒

Nguyễn Hiền liền đối lại rằng:

Ông huyện là ông huyện thằng, ăn nói lằng xằng là thằng ông huyện.

翁縣翁縣倘, 咹吶䗀𡅠倘翁縣

Ông huyện nghe câu đối có khí tượng kẻ lớn thì khen và nói ngày sau sẽ được ăn trên ngồi trước người ta.

Ðến sau, có lần kia, sứ bên Bắc qua có làm bài thơ như sau này mà đố người ta chiết tự ra cho được.

Lưỡng nhựt bình đầu nhựt                  兩 日 平 頭 日

Tứ sơn điên đảo sơn                           四 山 顚 倒 山

Lưỡng vương tranh nhứt quốc            兩 王 爭 一 國

Tứ khẩu tại trung gian                        四 口 在 中 間

Cả triều không ai nói đi, ông trạng Hiền mới chiết ra chữ “Ðiền 田”. Sứ Bắc dám kinh tài lấy làm lạ. Người làm quan tới chức công bộ thượng thư, đến khi chết rồi có lập miễu thờ, và cấp ruộng mà phụng tự.

Phần cho hay (trong các số 6, 11 đến số cuối), thông báo tin tức, sinh hoạt của tờ báo, v.v.

Số 6, tháng octobre 1888, năm thứ nhứt, cho hay nói về việc thay chú giải trong các thơ phú bằng bài rút cương truyện, in ởđầu sách, và việc mong làng tổng chịu miệng trước mua sách Tứ thơ, Minh Tâm.

Số 11, tháng mars 1889, cho ai nấy đặng hay:

… Xin kẻ coi sách hoặc có thấy lớp lang sắp đặc, hoặc có điều khoản nào chẳng ưng bụng thì xin cho ta hay mà sửa lại. Chánh ý là thuật đạo lành lẽ ngay các đấng tiên thánh tiên hiền khuyên răn, truyền thuần phong mỹ tục xưa nay cho đặng suy cổ nghiệm kim mà bả nhứt tâm hành chánh đạo 把 一 心 行 正 道 mà thôi …

Số 12, tháng april 1889, cho hay:

Ta tính in sách Minh tâm bửu giám …

Như đắt là người ta thuận mãi nhiều, thì sau ta cũng sẽ in Ðại học, Trung dung, Mạnh tử, Luận ngữ, v.v. ra như vậy nữa, miễn là bán được lấy tiền mà trả tiền tổn phí mà in, cho tiện việc học, thì là toại chí, chẳng kỳ là có lợi.

Số 1, tháng mai 1889, năm thứ hai, cho hay:

Những người mua năm ngoái từ tháng một, muốn mua luôn năm thứ hai đây nữa thì xin gởi tên họ, quán làng, chổở; còn tiền thì chỗ có nhiều người chung nhau lấy giấy mandat mà gởi thì tiện hơn.

12 số năm ngoái, tưởng là đóng nhập lại cho gọn, thì ra giá là 1$; mà nay ta để 12 số vậy bao lại mà thôi thì cũng y giá trước là 0$60 cents vậy. Ai muốn mua thì nhắn, sẽ gửi cho.

Số 2, tháng juin 1889, năm thứ hai, có báo tin:

Từ nay về sau, ta sẽ chiết những thơ phú dài quá ra từđoạn để nối tiếp cho đến hết, cho được đem vô cho nhiều thứ: coi một khi một ít, nó không ngán không nhàm. Như Tứ thì khúc vịnh từ tháng giêng cho đến tháng chạp, nay đã trọn hết 12 tháng rồi, muốn coi luôn cho tất thì lấy ra từ số đọc thì đủ hết v.v.

Số 5, tháng septembre 1889, năm thứ hai, cho hay báo tin:

Nay thơ Lục Vân Tiên in cũng đã gần rồi, in rồi sẽ phát hành khách tại nhà in … Bản nhỏbán rẻ tiền cho người ta mua mà coi; chính câu, chính chữ lại không sai chạy nguyên bổn.

Lại sách Tứ thơ thì ta in từ cuốn là khi Ðại học 大 學 trước rồi tới Trung dung 中 庸 rồi tới Mạnh tử孟 子rồi tới Luận ngữ論 語Còn Minh Tâm 明 心thì sẽ in sau; vì chữ chưa có khắc. Khắc cho rồi Minh Tâm thượng hạ 2 cuốn tốn gần 400$; mà vì không có tiền mà ra trước, nên còn dụ dựđể lại sau.

Xin trong tổng lý làng xã nhà thân hào gia giáo ai mộđạo muốn sắm cho con cháu học thì ta có âm quốc ngữ một bên chữ; bên kia có lấy nghĩa đen, dưới nghĩa đen có làm nghĩa trắng là nghĩa xuôi tiếng ta cho dễ hiểu, tiện cho người ta học cho mau thông. Ta trông các nơi các xứ biết cho là sách tiện ích để mà học đua nhau mua cho con cháu coi mà giữ nề nết xưa mà bịn phong hóa lại, thì ta nhờ tiền bạc ấy mà trả tiền tổn phí in ra trăm kia ngàn nọ cho đủ cho thiên hạ dùng, chẳng dám kể công khó nhọc lo làm ra làm chi.

Xin quý khách thảy đều quang cố cái chí người gia công lo làm mà phụ lực vào cho thành cuộc.

Số cuối cùng tháng octobre 1889, cho hay báo tin buồn:

Nay nhân vì bởi không có vốn cho đủ mà in luôn sách Thông Loại Khóa Trình nữa, nên ta cực chẳng đã phải đình in đi cho đến khi các nơi các xứ có người chịu mua trước cho đủ số ít là 2000, 2500 thì mới có lẽ mà in lại nữa được là có tiền mà trả tiền in cho ít nữa là 2/3 thì mới dám lãnh làm luôn; phải có củi đậu nấu đậu mới được. Phải chi mỗi sở tham biện anh em đồng chí lo giùm cho có được chừng 200, 250 người xin mua mà coi thì có lẽ vốn ấy nhen nhúm mà làm thì còn trông xấp xỉđủ sở phí. Phần thì bây giờ ta đang lo in các thơ văn như Vân Tiên, Thuý Kiều, Phan Trần … lại in sách Minh Tâm, Tứ thơ, nên sở phí lớn lắm không dám chắc có vốn mà làm cho đủ nữa. Năm ngoái năm nay Thông loại khoá trình có người mua hết thảy chừng ba bốn trăm; nên còn đọng lại nhiều lắm; không biết lấy đâu mà chịu tiền in. Xin văn nhơn học sĩ quang cố; tuy hữu hằng tâm mà vô hữu hằng sản thì biết làm làm sao được?

11. Thạnh Suy Bỉ Thới Phú 盛衰否泰賦 (Caprices de la Fortune) P.J.B Trương Vĩnh Ký dẫn và chú giải.

Phú nầy, gồm 67 câu thơ, nói về làm con người ởđời thì có sự thạnh, sự suy, sự thới bổn lúc đường con Tạo xoay đi vần lại … Việc đời xây vần dời đổi … Có vậy mới từng mùi đời, mới biết thạnh suy bỉ thới.

Saigon, bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, 1883.

12. Ngư Tiều Trường Ðiệu 漁樵長調 (Pêcheur et Bûcheron)

Nguyên tác bằng chữ Nôm, khuyết danh, do P.J.B Trương Vĩnh Ký chép ra chữ Quốc ngữ dẫn giải, và cắt nghĩa chỗ mắt.

Sau đây là lời dẫnởđầu sách:

Ca này nói về thú kẻ đánh cá, người hái củi, cũng là thú vui trong đời. Vui là lòng đã chán sựđời đi rồi, nên công danh phú quí để mặt đời đua tranh; mình cứ vui non nước rảnh rang một mình.

Ngư thì thong dong sớm doi tối vịnh, ngày hứng gió tối giỡn trăng; lưới chày cho no rồi lại thả câu kiếm cá bán mua gạo ăn, vịnh này qua vịnh khác, lưu linh dưới sông dưới nước; nay chích mai đầm, một bầu thế giái vui thầm ai hay?

Tiều thì cứ ngơ ngẩn trong rừng trên núi, đi đốn củi vác đem về chợ bán, đổi gạo cơm mắm muối nuôi mình; chỉ nhờ lộc rừng củi quế dung thân, vui non vui nước bạn cùng hưu nai.

Người mà an phận thủ thường, tuỳ thì xử thế là phải lắm. Vì trong phận ởđời, sự nên hưmay rủi là việc ở trời, dầu có bôn chôn cũng chẳng đặng, dầu có đổi dời cũng chẳng xong. Chi bằng thủ phận an tâm, cứ nước mình mà đi, cứ phiên mình mà làm, cứ phận mình mà giữ thì là hơn.

Saigon, Imprimerie de la Mission, 1885.

[Trang bìa khắc sai chữ NGƯ 漁 (bắt cá, đánh cá, câu cá) ra 魚 (con cá)]

13. Kiếp Phong-trần 刧風塵 (Évènements de la Vie).

P.J.B. Trương Vĩnh Ký viết bằng văn xuôi.

Công hạ tiện lãm Sĩ-tải Trương Vĩnh Ký tập soạn  公暇便攬士載張永記集撰 .

Thử nghe nhơn vật chánh, anh Trương Ðại Sĩ giải thích :

Phong trần nghĩa là gió bụi, chỉ là cái đời tạm đời gởi nầy, hay đổi dời biến cải, nay vầy mai khác, vui đó buồn đó, giàu đó nghèo đó, sướng đó cực đó … vinh nhục bỉ thới đắp đổi ; ấy là cuộc bể giâu thương tang.

Anh Trương nói tiếp :

Cuộc bể giâu thương tang là cuộc cồn hoá vực, vực hoá cồn … Trong sách Lý-khí, người ta có luận rằng : Có một ông già kia ở chòi gần mé biển, thấy trong cõi hồng trần nầy, hễ 30 năm thì có một lần biển nhỏ, mà hễ 300 năm thì có một lần biển lớn thì trời đất đổi xây cồn hoá nên vực, vực biển hoá nên cồn ; biển cạn thành cồn trồng giâu được cũng có ; đất liền lở sâu thành biển cũng có …

Saigon, bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, 1882.

 

III. TRÍCH THƯ MỤC TRƯƠNG VĨNH KÝ

A. THƯ VIỆN VIỄN ÐÔNG BÁC CỔ HỌC VIỆN

⎯ Abrégé de Grammaire annamite. Saigon, 1867

⎯ Alphabet quốc ngữ en 12 tableaux avec des exercices de lecture. – 4e édition. Saigon, 1887.- 5e éd. Saigon, 1895.

⎯ Bài hịch con quạ. Proscription des corbeaux. Saigon 1983.

⎯ Bất cượng, chớ cượng làm chi. [Fairs ce que dois.] 2e édition. Saigon, 1885.

⎯ Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876). [Voyage au tonkin en 1876] Saigon, 1881.

⎯ Chuyện đời sưa lựa. Contes annamites. Saigon,1888.

⎯ Nouvelle édition. Quy Nhơn, 1909.

⎯ Chuyện khôi hài, Passe-temps. Saigon, 1882.

⎯ Cờ bạc nha phiến. Bằng tiếng thường và văn thơ. Des jeux de hasard et de l’opium. En prose et en vers. 2e éd. Saigon, 1898.

⎯ Cours d’annamite. Saigon, s.d. (Autogr.)

⎯ Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine. Saigon. 1875-1877, 2 vol.

⎯ Cours pratique de caractères chinois. Saigon, 1875.

⎯ Dư đồ thuyết lược. Précis de géographie. Tân Ðịnh (Saigon), 1887.

⎯ Grammaire de la langue annamite. Saigon, 1883.

⎯ Guide de la conversation annamite. 2e édition. Saigon, 1885.

⎯ Học trò khó phú. Un lettré pauvre. Saigon, 1883.

⎯ [Lettres sur la naturalisation des indigènes de Cochinchine] – (S.l.n.d). (Autogr.)

⎯ Lục súc. Les six animaux domestiques. Saigon, 1887.

⎯ Manuel des écoles primaires ou Simples Notions sur les sciences, à l’usage des jeunes élèves des écoles de l’Administration de la Basse-Cochinchine. 1er volume: 1o Syllabaire quốc ngữ ; 2o Histoire annamite; 3o Histoire chinoise. Saigon, 1876.

⎯ Mẹo luật dạy học tiếng pha-lang-sa. [Règles pour étudier la langue française.] Saigon, 1872.

⎯ Miscellanées ou lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales et cantonales. Saigon, 1888-1889, 12 fasc. en 1 vol.

⎯ Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine . 1e édition. Saigon, 1875. ⎯ Petit dictionnaire français-annamite. Saigon, 1984.

⎯ Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs. (Conférence faite au Collège des Interprètes). Saigon, 1885.

⎯ Thạnh suy bỉ thới phú. Caprices de la Fortune. Saigon, 1883. ⎯ Thầy trò về luật mẹo léo lắt tiếng pha-lang-sa. [Maîtres et élèves sur la grammaire de la langue française.] 2e éd. Saigon, 1883

⎯ Ước lược truyện tích nước Annam. Résumé sommaire de la chronologie, de l’histoire et des productions de l’annam, avec tableaux synoptiques. Saigon, 1887.

⎯ Vocabulaire annamite français. Saigon, 1887.

⎯ Ed. Chiểu (nguyễn Ðình). Lục Vân Tiên

⎯ Ed. Cổ Gia Ðịnh phong cảnh vịnh

⎯ Ed. Du (Nguyễn) Kim Vân Kiều truyện.

⎯ Ed. Gia Huấn ca ⎯ Ed. Kim Gia Ðịnh phong cảnh vịnh

⎯ Ed. Lục súc tranh công. Dispute de mérites entre les six animaux domestiques.

⎯ Trad. Minh tâm bửu giám

⎯ Ed. Nữ Tắc

⎯ Ed. Phan Trần Truyện

⎯ Ed. et trad. sseu-chou

⎯ Ed. thơ dạy làm dâu

⎯ Ed. Trung (Ðặng Huỳnh) Huấn nữ ca

⎯ Ed. Trương Lương tùng xích tòng tử du phú.

⎯ Ed. Trương-lưu-hầu phú

⎯ Ed. et trad. Wang Pe-Heou. Tsan King.

 

B. THƯ VIỆN QUỐC GIA PHÁP

(Catalogue du fonds vietnamien 1890-1921)

⎯ Abrégé de grammaire annamite / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký. – Saigon: Impr. Impériale, 1867. – 131p; 25cm. La p. de titre porte: Sách mẹo annam.

⎯ Bài hịch con quạ = Proscription des corbeaux / P.J.B. Trương Vĩnh Ký chép ra chữ quốc ngữdẫn giải cắt nghĩa. Saigon: bản in Guilland et Martinon, 1883. – 7p.; 24cm.

⎯ Cours pratique de langue annamite / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon: Impr. Impériale, 1868. – 69p.; 21cm.

⎯ Dictionnaire français annamite = Tự vị pha-lang-sa giải nghĩa ra tiếng annam / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr. du gouvernement, 1878. -288p; 27cm.

⎯ Dưđồ thuyết lược = Précis de géographie / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr. de la Mission, 1887. – 116p., [6] cartes en coul. ; 20cm. Texte en vietnamien seul. La couv. porte: 與圖說略

⎯ Ðại Nam Cuốc sử kí diễn ca / transcrit en quốc ngữ pour la première fois / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký. – Saigon : bản in nhà nước, 1875. (58 trang; 20 cm.)

⎯ Grammaire de la langue annamite / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon: C. Guilland et Martinon, 1883. – 304p; 24cm

⎯ Học trò khó phú = Un lettré pauvre. Saigon: Bản in Guilland et Martinon, 1883 . – 6p.; 23cm

⎯ Huấn mông khúc ca: sách dạy trẻ nhỏ học chữ nhu … par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr. de la Mission, 1884 . – 47p.; 24cm. Texte en vietnamien seul. La page de titre porte: 訓蒙曲歌.

⎯ Kim Vân Kiều truyện = Poèmes populaires annamites trascrits en quốc ngữ … / par P.J.B Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr. A. Bock, 1889. – 136p.; 16cm. La couv. porte: 1890.

⎯ L’Invariable millieu / transcrit en caractères latins et trad. en annamite / par Petrus Ký. Saigon: Collège des stagiaires, 1875. – 205p.; 33cm. Texte en chinois et en vietnamien.

⎯ Lê Ngô Cát. Phạm Ðình Toái. ⎯ Lục súc. Les six animaux domestiques / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr. de la Mission, 1887. – 22p. ; 25cm.

⎯ Lục Vân Tiên truyện = Poème populaire annamite / trascrit en quốc ngữ, précédés d’un résumé analytique … / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký -4e éd. rev. corr. et aug … – Saigon: Claude et Cie. 1897. – 99p.; 16cm. La couv. porte: 1890.

⎯ Mẹo luật dạy học tiếng pha-lang-sa: tóm lại văn vắn để dạy học trò mới nhập trường …/par P.J.B. Trương Vĩnh Ký 1- Saigon: bản in nhà nuớc, 1867.(56 trang; 23 cm.) 2- Paris: Challamel Ainé, 1872 .(56 trang; 25 cm.)

⎯ Nữ tắc = Devoirs des filles et des femmes / P.J.B. Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ và dẫgiải. – Saigon: Impr. F.H. Schneider, 1911. .(27 trang; 21 cm.)

⎯ Ngư tiều trường điệu = Pêcheur le bucheron / P.J.B. Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ .. – Saigon:Impr. de la Mission, 1887, – 8 p.; 24 cm.

⎯ Petit dictionnaire français–annamite / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon Impr.de la Mission, 1884 . – 1192 p.; 20 cm.

⎯ Petit dictionnaire français-annamite / par P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Nouv. éd. Saigon: Impr. de l’union Nguyễn Văn Của, ill. 1- 1920; 20cm. contient des ill. extraites du Petit Larousse illustré. 2- 1924. – 18 cm. Mêmes remarques.

⎯ Poème Kim Vân Kiều truyện : transcrit pour la première fois en quốc ngữ avec des notes explicatives … par P.J.B. Trương Vĩnh Ký. – Sai gon: bản in nhà nước, 1875. – 179p.; 19cm.

⎯ Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca = Le Tam Tự kinh / transcrit et traduit en prose et en vers annamites [par] / P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon: Impr. C. Guilland et Martinon, 1884.- 47p.; 24 cm. Contient le texte en chinois.

⎯ Thạnh suy bỉ thới phú = Caprices de la fortune / [Ed.] P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon: bản in Guilland et Martinon, 1883. – 7p.; 23 cm.

⎯ Truyện chơi văn chương = Chrestomathie cochinchinoise: recueil de textes annamites publiés traduits et transcrits en caractères figuratifs, ler fasc. par Abel Des Michels . – Paris: Maisonneuve, pagination multiple; 25 cm. Texte en vietnamien suivi de la traduction française et de la transcription en nôm. La couv. Porte: 傳制文章.

⎯ Truyện đời xưa = Fables et légendes annamites encore inédites / publ. par Ðinh Thái Sơn. – In lần thứ hai. – Saigon: Impr: Nam Tài, 1906. – 100p; 19cm. La page de titre porte: 傳代初.Texte en vietnamien seul.

⎯ Trương Lương tùng Xích Tòng Tử du phú = Retraite et apothéose de Trương Lương / P.J.B Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ và dẫn giải. – Saigon: Impr. Nhà hàng C.Guilland et Martinon, 1881. – 7p.; 24cm.

⎯ Voyage au Tonkin en 1876 = Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) / P.J.B. Trương Vĩnh Ký – Saigon: Nhà hàng C .Guilland et Martinon, 1881. -32p.; 25cm.. Texte en vietnamien seul. La couverture porte 自 述 往 北 圻 傳.

 

C. Bulletin de la Société des Études Indochinoises de Saigon

[AS 492 S3 n.s. v.9 no 3]

⎯ Institutions et mœurs annamites. Philosophie positive. Nov. déc. 1879, 401-413 ; janv. février 1880, 117-127 ; mars, avril 1880, 256-272.

⎯ Voyage au Tonkin en 1876. Chuyến đi Bắc-kỳ năm Ất-hợi (1876), broch. in-8, 32 p. Saigon, imp. Guilland et Martinon, 1881.

⎯ Bất cượng chớ cượng làm chi. Fais ce que dois, advienne que pourra. Broch. in-8, 8 p. 1882. ⎯ Kiếp phong trần.

− Événement de la vie, broch. in-8, 10 p. 1882.

⎯ Guide de la conversation annamite. Sách tập nói chuyện Annam và tiếng Langsa, broch. in-8, 118 p. 1882.

⎯ Thầy trò về luật mẹo léo lắc tiếng Phalangsa, maître et élève sur la grammaire de la langue Française, broch. in-8, 24 p. 1883.

⎯ Phép lịch sự Annam. Les convenances et les civilités annamites, broch. in-8, 52 p. 1883.

⎯ Chuyện khôi hài. Passe-temps, broch. in-8, 16 p. 1882.

⎯ Chuyện đời xưa lựa nhóm lấy những chuyện hay và có ích. Contes annamites 3e édition, broch. in-8, 66 p. 1883.

⎯ Grammaire de la langue annamite. 1 vol. in-8, 304 p. 1884 ; imprimerie Guilland et Martinon. 2eEdition de poèmes annamites avec notes en annamite.

⎯ Trương lương tùng xích tòng tử du phú. Retraite et apothéose de Trương lương, 8 p. in-8, 1881.

⎯ Trương lưu hầu phú. Apologie de Trương lương. 18 p. in-8, 1882.

⎯ Học trò khó phú. Un lettré pauvre. 6 p. in-8, 1883.

⎯ Thạnh suy bĩ thới phú. Caprice de la fortune, 8 p. in-8, 1883.

⎯ Bài hịch con quạ. Proscription des corbeaux. 8 p. in-8, 1883.

⎯ Cổ Gia định phong vịnh Gia dịnh thất thủ vịnh. Saigon d’autrefois, 14 p. in-8, 1882.

⎯ Kim Gia định phong vịnh. Saigon d’aujourd’hui, 12 p. in-8, 1882.

⎯ Nữ tắc. Devoirs des filles et des femmes, 28 p. in-8, 1882.

⎯ Thơ mẹ dạy con. Une mère à sa fille, 12 p. in-8, 1882.

⎯ Thơ dạy làm. La bru, 14 p. in-8, 1882.

⎯ Huấn nữ ca của Ðặng huỳnh Trung làm. Défauts et qualités des filles et des femmes (par Dang huynh Trung) 36 p. in-8, 1882.

⎯ Gia huấn ca. École domestique. Un père à ses enfants, 44 p. in-8, 1883.

⎯ Tableaux alphabétiques. − Contes annamites. Saigon, imp. Guilland 1883, broch. in-8.

⎯ Le Tam tu kinh. traduction, 1 vol. in-8, novembre 1884, Saigon.

⎯ Huấn mông khúc ca. 1 vol. in-8, novembre 1884, Saigon.

⎯ Mắc bệnh cúm từ. 1 broch. in-8, Saigon, 1885.

⎯ Ngư tiều trường điệu (Pêcheur et bûcheron), 1 broch. in-8, Saigon, 1885.

⎯ Saigon et ses environs, 1 broch. in-8, Saigon, 1885. E.R. ×5 − 33.

⎯ Morale en actions. Phong hoá điều hành. 1 broch. in-8, 1885, Saigon.

⎯ Dictionnaire Français-Annamite. 1 vol. in-8, 1885, Saigon.

⎯ Lục súc. Les animaux domestiques. 1 broch. in-8, Saigon, 1885.

⎯ Dispute de mérite entr les six animaux domestiques. 1 broch. in-8, Saigon, 1887.

 

IV. PHỤ LỤC

1. Trường tôi

Vào đầu thập niên 50, trong giờ Vietnamien, tại lớp 4e année A, Lycée Pétrus Ký, thầy Ưng Thiều 膺 韶, có làm bài tuyệt cú sau đây trong lúc dạy luật thơ. Chúng tôi thêm phần chữ Nôm. Bài thơ bốn câu ba vần theo luật bằng và gieo vần « i »:

1 2 3 4 5 6 7

B B T T T B B            Trường tôi ở tại lối Nancy

T T B B T T B            Trung học đường kia có bảng ghi

T T B B B T T            Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký

B B T T T B B            Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.

Các chữ số 2, 4, 6 và 7 trong bốn câu phải theo đúng luật bằng trắc.

Trường tôi                                                       塲 碎

Trường tôi ở tại lối Nancy                              塲碎於在𡓃 能蚩

Trung học đường kia có bảng ghi                  中學堂箕固版𥱬

Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký         摱號𠊛 初張永記

Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.                      𢬦 𤊥 名 㗂 㐌 包旹

2. Khổng Mạnh cương thường.

Cổng trường trung học Trương Vĩnh Ký tại Sài-gòn có câu đối, hai vế, mổi vế bảy chữ.

Từ ngoài nhìn vào, vế trắc bên tay phải, vế bằngở bên kia.

Vế trắc : Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Vế bằng : Tây Âu khoa học yếu minh tâm

孔孟綱常須刻骨

西歐科學要銘心

Trong hai vế, mỗi vế chia làm bốn đoạn đối nhau rất chỉnh.

Câu đối do Thầy Ưng Thiều đề nghị và ông Hiệu trưởng Phạm Văn Còn chọn.

Từ ngày nước mất nhà tan, trường tôi cũng chung số phận, câu đối trên đây không còn nữa

3. Trương Vĩnh Ký và tiếng Latin.

Nhà bác học họ Trương thông thạo nhiều sinh và cổ ngữ. Ðược các cốđạo Tây phương nuôi dạy nơi sơ tu viện Cái Nhum (Nam kỳ) kếđó qua Pinhalu (Cao Miên) rồi qua học nơi cơ quan truyền giáo ở Poulo Pinang (Malacca), Trương Vĩnh Ký nói tiếng Latin, ngôn ngữ của Nhà thờ, trước khi nói tiếng Pháp. Từ ngữ và văn phạm Latin của ông rất hoàn chỉnh. Ông có trao đổi thư từ bằng Latin với Paul Bert, Pène Siefert, Albert Kaempfen, và Chavanne… Chúng tôi trích sau đây bức thơ gởi Ðại biểu Chavanne, lấy từ Bulletin de la Société des Études Indochinoises de Saigon. AS 492 S3 n.s. v.9 no 3.

A M. Dr Chavanne Député, Paris, 8 Avril 1887

Doctissime Dne,

Me maxime gaudio afficiunt tuæ litteræ utpote quæ ex abundantiâ cordis sinceri procedant. Eo magis mihi prætiosæ sunt quo minus dignum adeunt. Per illas bonum nuntium de nostro amico accipio, præsertim de suo itinere ad nos redituri salutem regno annamitico afferentis. Utinam ratem omnem servet. Regi nostro homo homini Deus erit.

Mihi autem si arridente fortunâ acciderit ut regem comiter in Galliam, maximæ lætitiæ erit occasio.

Per eam enim cum summâ voluptate, hunc mundi augustissiman Lutetias urbem, quam visitare mihi datum fuit anno 1883, et illustrissimis doctissimisque occurram amicis quos nonnisi litteræ ac scientiæ mihi paruerunt. Istinc redituro ex optimâ scholâ majora experimenta, melioresque cognitiones addentur. Me nunc leonem annis defectum viribusque desertum non amplius tentant honores. Vita solitaria cum libris maximopere placet cursus rerum spectatori in vespere dierum meorum.

Homo quidem proponit, Deus autem disponit 人願如此如此天理未然未然.

Many things chance between the cup and the lip. Inter os atque offam multa interveniunt. Nemini omnia prospere cedunt nec quadrata currunt. Nihil tamen est impossible. Sicque cum dulci spe tibi occurrendi uno die, vale atque iterum vale, mementoque tui toti.

P.T.V.K

Lê Văn Ðặng

trong Nhóm Văn Học Chữ Nôm

Hải Biên, 2000-2005-2012

levandang