Trang Sách : Trí tuệ – Niềm tin – Ân sư

Phan Văn Thạnh

trang sach 01 trang sach 02

Sách là nguồn kiến thức của con người, do đó cũng là sức mạnh của con người. Vì vậy, sách và kiến thức có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Trong cuộc đời, người nào đọc nhiều, hiểu rộng có thể làm được nhiều hơn với người lạc hậu, ít văn hóa” – (M.I Xa-cốp-xki).

Giá trị của sách là thế nhưng dường như ít ai được biết công khó nhọc của người “bếp núc”làm sách.

1- Sách biên khảo nghiên cứu phê bình

Suốt thời gian học Văn khoa rồi đi dạy trước 75, để tìm hiểu Văn học Việt Nam cận đại, tôi thường bám riệt bộ sách (4 quyển) Nhà Văn Hiện Đại (1) của Vũ Ngọc Phan. Nhưng phải đến sau 1975, đọc hồi ký “Những năm tháng ấy” (2) của chính tác giả (VNP), tôi mới biết bộ Nhà Văn Hiện Đại được khởi viết từ tháng 12/1938, hoàn thành 1940 – ước khoảng 1650 trang trên giấy học trò. Tư liệu dùng vào bộ sách lấy ở 50 sổ tay do ông ghi chép về văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, lịch sử Việt nam, lịch sử mấy nước (Pháp, Đức, Ý, Anh và Trung quốc, Nhật Bản). Giấy nháp thảo bút là đơn xin học và đơn xin nghỉ học của học sinh trường Thăng Long đã bỏ. Suốt đời viết văn, ông thường thu nhặt những tờ đã viết, hoặc đã đánh máy một mặt để dùng làm giấy nháp. Ông làm việc độc lực từ 6g sáng đến 1g trưa, chiều từ 2g rưỡi đến 6g; tối từ 8g đến 11g. Buổi tối thường dành để đọc các tác phẩm, tìm tư liệu và xem báo…

Đến trường hợp Học giả Nguyễn Hiến Lê cũng phải nói thật kỳ công. Tính đến 1975, ông đã xuất bản đúng Một trăm(100) tác phẩm. Từ năm 1975 cho đến khi qua đời (1984), ông còn viết hơn 20 tác phẩm khác như: Tourguéniev, Gogol, Tchékhov, Đời Nghệ sĩ, Để tôi đọc lại, Kinh Dịch đạo của người quân tử, Mặc học, Luận ngữ… Nhất là bộ sử lớn Sử Trung Quốc (1000 trang). (Theo Nguyễn Q.Thắng)

Và rồi cũng phải “đợi” xem hồi ký (3) của chính Nguyễn Hiến Lê, bạn đoc mới rõ quá trình gom nhặt kiến thức của tác giả. Ông viết sách là để tự học – “Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết sách về vấn đề ấy. Chúng ta ai cũng có tính làm biếng, học cái gì cũng chỉ mới biết qua loa mà đã cho là mãn nguyện, không chịu suy nghĩ kỹ, tìm tòi thêm. Nhưng khi viết sách, ta cần kiểm soát từng tài liệu, cân nhắc từng ý tưởng rồi bình luận, sau cùng sắp đặt lại những điều đã tìm kiếm, hiểu biết để phô diễn cho rõ ràng. Trong khi làm những công việc ấy, ta nhận thấy tư tưởng của ta còn mập mờ, ta phải tra cứu để hiểu thêm, đọc nhiều sách nữa, do đó sự học của ta cao thêm một bực. Càng đọc nhiều sách thì càng gặp những ý tưởng mâu thuẫn nhau, và ta phải xét xem đâu là phải, đâu là trái và ta lại đào bới cho sâu thêm; nhờ vậy ta thấu triệt được vấn đề, nhớ lâu hơn, có khi phát huy điều mới lạ…”

Ông nhấn mạnh: “khi viết mục đích của ta là để tìm hiểu, chứ không phải để cầu danh. Cầu nó, nó sẽ trốn và sự học của ta cũng hóa ra nông nổi – Làm nhà biên khảo thì việc đầu tiên là phải kiếm tài liệu. Viết về nhiều môn cần phải đọc rất nhiều sách,báo…”. Hầu hết sách dùng để biên khảo ông phải mua ở ngoại quốc – đặt trước một  số tiền dự trữ (provision) độ 200 quan mới cho nhà Rayonnement du livre francais ở Paris – nhận tập thư mục sách hàng tháng (Livres du mois) – mỗi năm nhận khoảng năm sáu chục cuốn. Riêng về sách cổ học Trung Hoa, ông yêu cầu tiệm sách Hương Cảng tìm cho những bản tốt nhất, chú giải kĩ nhất của một học giả có tiếng và do một nhà xuất bản có tiếng in ra, dùng những bản đó giá tiền đắt gấp hai, gấp ba, cũng có lợi hơn là dùng những bản tầm thường, không tin được, chỉ làm mất thì giờ của mình. Khi đã có một chủ đích, định tìm hiểu hoặc viết về một vấn đề nào ông bắt đầu gom hết các tài liệu (sách, báo) có liên quan trong nhiều năm. Viết cuốn Kinh Dịch, ông gom tài liệu từ năm 1960 đến năm 1975, khoảng 15-16 cuốn của Trung Hoa, Việt, Pháp, Anh, Đức (dịch ra tiếng Pháp). Mỗi cuốn đọc qua một lượt, xem giá trị, giúp được gì, đánh dấu những chương quan trọng, để riêng một chỗ. Năm1978-1979, khi bắt tay viết, ông đọc kĩ lại, so sánh các thuyết, các bản dịch, định hướng nghiên cứu và cách làm việc…

2- Sách Từ điển

Nói về sách Từ điển, tôi còn lưu giữ hai bộ, biên soạn cách đây hơn nửa thế kỷ. Sách giờ đây“già nua”, sứt chỉ khâu, long gáy, giấy ngã màu vàng xỉn, con chữ khô quắc, bụi thời gian lem lấm, nhưng “nội lực” vẫn tràn trề, sung mãn thâm hậu khiến tôi rất thú vị khi mỗi lần dở ra tra cứu.

Việt Nam Tự Điển – Hội Khai Trí Tiến Đức (4) – tác phẩm biên soạn thật công phu, dày 663 trang, tra cứu cả chữ Nho lẫn tiếng Pháp nhằm tạo chữ để diễn tả những tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam, nhất là những danh từ kỹ thuật, những danh từ thổ ngữ địa phương ba miền Nam, Trung, Bắc. Sang thế kỷ XXI, quyển Tự Điển nêu trên vẫn thường được lấy làm mẫu mực chính tả và từ mục, nói lên giá trị bền vững của sách. Đây là công trình tập thể. Tiểu ban phụ trách soạn thảo gồm các tay bút cự phách đương thời: Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, và Đỗ Thận – (nguồn Wikipedia)

Hán Việt Tự Điển (5) – tác phẩm đồ sộ, vững chãi của Thiều Chửu (1902–1954). Ông tên thật Nguyễn Hữu Kha, quê làng Trung Tự, Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội – là nhà văn hóa, dịch giả và cư sĩ Việt Nam, tác giả  và nhiều bộ sách về Phật giáo nổi tiếng khác (nguồn Wikipedia).

Trong lời mở đầu, tác giả Thiều Chửu nói về quá trình biên soạn:“… ròng rã trong năm sáu năm trời, vắt hết cái óc cặn, vặn hết khúc ruột khô, mới xong bản thảo, lại in luôn trong một năm bốn tháng trời mới xong một phần Bị-yếu. Tôi (TC) tự biết trong bộ Tự-điển này còn cơ man nào là sự lầm lặt, công không bù tội, cho đến công việc in cũng nhiều bề khuyết điểm, vì rằng một cái nhà in chữ Nho không có, chữ Quốc ngữ cũng ít, máy móc đã cũ rích, thợ thuyền chưa lành nghề, chúng tôi tuy hết sức đôn đốc, mà đồ không tốt, người không tài, thì muốn cũng chẳng được. Tôi tự biết thế, không biết tính sao, chỉ còn một cách là vận hết trí hèn, gắng hết lòng mọn và mong cầu các bậc cao minh phát tâm quảng đại mà xem xét đến cho, chỗ nào lầm thì sửa lại và bố thí cho tôi biết, để đến lần sau in lại được hoàn toàn, thì tôi được nhờ phúc lành nhiều lắm lắm vậy” .

3- Tuy vậy vẫn còn những “tai nạn” đáng tiếc

Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công đã dày công “dọn vườn”, gom rác chất đống trong tập “Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” (NXB Hội Nhà Văn, tháng 7/2017).

Học giả Huệ Thiên – An Chi (facebook.com/an.chi), khi “Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân”(NXB TPHCM – 2000),đã nhặt ra vô số những lỗi sai sót, nhầm lẫn đáng tiếc. Xin trích vài ví dụ trong hàng trăm mục từ giải thích chưa ổn được tác giả An Chi góp ý xây dựng:

Ẩn dụ (ẩn: kín; dụ: rõ ràng)”./ Thực ra, ở đây, dụ có nghĩa là sự so sánh chứ không phải là “rõ ràng”

Âm vị (âm: tiếng; vị: nói)”/ Vị ở đây không phải là “nói” mà là “đơn vị”.

Ấm sinh (ấm: con quan; sinh: học trò)”/ Ấm không phải là “con quan” mà là quyền lợi con cháu được hưởng nhờ công lao của cha ông.

Bạch đái (đái: đeo lấy)”/ Đái là tên một chứng bệnh phụ khoa mà Mathews’ Chinese-English Dictionary dịch là “a discharge or flux” (sự tiết ra hoặc sự băng huyết) còn Dictionnaire classique de la langue chinoise của F. S. Couvreur thì dịch là “leucorrhée”(khí hư). Vậy đái ở đây không phải là “đeo lấy”.

Bần cố nông – bần: nghèo; cố: làm thuê; nông: làm ruộng – Người nông dân nghèo phải làm thuê cho địa chủ”/  Nông ở đây không phải “làm ruộng” mà là người làm ruộng. Vì vậy nên Mathews’Chinese-English Dictionary mới dịch là “a farmer” (nhà nông) còn Dictionaire classique de la langue chinoise dịch là “laboureur”. Bần cố nông cũng không phải là “người nông dân nghèo phải làm thuê cho địa chủ” vì đó là hai tầng lớp khác nhau trong giai cấp nông dân mà nếu liệt kê cho đầy đủ thì gồm có (từ nghèo nhất đến khá nhất): cố nông, bần nông, trung nông và phú nông mà phú nông thì vô hình trung từng bị xem là đã có một chân ngấp nghé bước sang “vùng đất” của giai cấp địa chủ. Cố nông được xem là vô sản nông thôn, còn bần nông thì còn có tí ti ruộng đất hoặc in ít tư liệu sản xuất gọi là. Vậy bần cố nông là: bần nông và cố nông, nghĩa là hai tầng lớp chứ không phải một tầng lớp như tác giả giảng.

Bật đèn xanh. Ngầm xui làm việc gì” / Đây là một lời giảng hoàn toàn sai: không phải “ngầm” mà hoàn toàn công khai; không phải “xui” mà là cho phép, khuyến khích khi được biết ý định của đương sự. Khi người ta nói “Chính phủ đã bật đèn xanh cho việc mở thị trường chứng khoán ở Việt Nam” chẳng hạn, thì ở đây chẳng làm gì có chuyện “xui”, chuyên “ngầm”cả.

Cà ràng. Bếp lò làm bằng đất nung”/ Lời giảng này có thể áp dụng cho cả từ tổ hỏa lò, còn “cà ràng” là một thứ lò thấp hình bầu dục có hai phần: phần trước có ba cái mấu để bắc nồi lên trên mà đun củi bên dưới, phần sau để đựng tro than cơi từ phần trước ra.

Cầm loan (cầm: đàn; loan: keo gắn dây đàn). Tình nghĩa keo sơn”/  Loan là chim loan chứ không phải “keo gắn dây đàn”. Keo loan mới là keo gắn dây đàn.

Chúng sinh (chúng: số đông; sinh: sống)”./ Sinh ở đây là sinh vật chứ không phải là “sống”.

 “Cộng hòa tư sản (sản: sinh ra)”./ Ở đây sản không phải là “sinh ra” mà là “của cải”.

Cua thâm càng nàng thâm môi. Chê một người phụ nữ môi không đỏ”./ Cua thâm càng là cua óp, ít gạch; nàng thâm môi là nàng có dấu hiệu bệnh lý gì đó nên chàng phải cẩn thận chứ làm gì có chuyện chê nàng không đỏ môi  v.v…

 “Chồng chắp vợ nối. Chê cặp vợ chồng không có cưới xin đàng hoàng”./ Đây là tình trạng của những cặp vợ chồng mà người chồng đã có một đời vợ trước còn người vợ đã có một đời chồng trước chứ không phải là chuyện “không có cưới xin đàng hoàng”. Có khi họ cưới nhau còn đàng hoàng hơn là bao nhiêu đám cưới “tơ” khác ấy chứ.

Cửa Phật. Nơi thờ Phật”./ Cửa Phật là chốn tu hành (theo Phật giáo) chứ đâu chỉ là “nơi thờ Phật”  v.v…

Viết sách, làm từ điển là công việc “đội đá vá trời”. Chúng ta vô cùng trân quý công khó nhọc, khâm phục sự hiểu biết, trình độ kiến thức ngôn ngữ, ngoại ngữ, vốn trải nghiệm kiến văn và sự cần mẫn,cẩn trọng của người biên soạn. Họ đã miệt mài tìm tòi tra cứu, truy tận nguồn cội “thủy tổ” các khái niệm ngữ nghĩa của từng cụm từ, con chữ, sắp xếp biên tập hàng nghìn trang sách lưu lại mai sau.

Đặc thù của từ điển là loại sách cẩm nang, “kim chỉ nam” tra cứu, kho cứ liệu chuẩn mực, chỗ dựa tin cậy. Do vậy người biên soạn cần phải được trang bị những tri thức về nguyên lí biên soạn từ điển (quan điểm về cấu trúc vĩ mô/vi mô, quan điểm về phân định từ loại, cách thức định nghĩa từ, cách thức chọn từ đối dịch tương đương, những hiểu biết Từ nguyên học…) và cả tri thức văn hóa học.

Quá trình in ấn có thể sơ suất vướng lỗi hình thức nhưng nhất thiết không thể để mắc những sai sót, nhầm lẫn chủ quan làm “phá sản” toàn bộ công trình.

“Uy tín của người viết sai càng lớn thì cái hại càng lớn vì người ta dễ tin theo những người đã thành danh” (An Chi).

“Tận tín ư thư, bất như vô thư” (Mạnh Tử) – Thà không có sách, còn hơn (có sách để đọc rồi) nhắm mắt tin sách,mà cần phải biết phân tích nhận xét. Và điều gì biết thì nhận là biết, điều gì không biết thì bảo không biết, ấy là biết vậy – (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã – sách Luận Ngữ) !

 Trang sách với tôi là : Trí tuệ – Niềm tinÂn sư  khai tâm,khai trí loài người !

Phan Văn Thạnh

 (Saigon,2017 – chỉnh sửa 20/02/20)

(1) Nhà Văn Hiện Đại – NXB Thăng Long,Saigon1969 – tái bản lần III – nguyên bản NXB Tân Dân Hà Nội,1942.

(2) Hồi ký Những năm tháng ấy – NXB Văn Học Hà Nội – 1987,tr 174,175)

(3) Hồi ký Nguyễn Hiến Lê – NXB Văn Học – 1993,tr 387,388).

(4) Việt-Nam Tự-điển – Hội Khai Trí Tiến Đức ,Nhà in Trung-Bắc Tân-Văn xuất bản năm 1931

(5) Hán Việt Tự Điển – Nhà in Đuốc Tuệ,73 Phố Richaud, Hà Nội xuất bản 1942

So với các loại sách khác, sách từ điển có những đặc trưng gì? Nguyên tắc biên soạn có gì đặc biệt, thưa ông?

– Là loại sách công cụ tra cứu quan trọng (giải nghĩa từ ngữ, gồm từ điển tường giải, từ điển đối chiếu, từ điển tri thức…), từ điển đòi hỏi phải biên soạn nghiêm túc, đúng yêu cầu một cuốn cẩm nang từ ngữ, từ việc chuẩn bị ngữ liệu đến việc xử lý các bước theo tinh thần từ điển học.

Vì thế, làm từ điển đòi hỏi những yêu cầu về năng lực (tri thức ngôn ngữ, ngoại ngữ…), đặc biệt là phải được trang bị những tri thức về nguyên lí biên soạn từ điển (quan điểm về cấu trúc vĩ mô/vi mô, quan điểm về phân định từ loại, cách thức định nghĩa từ, cách thức chọn từ đối dịch tương đương, những hiểu biết Từ nguyên học…) và cả tri thức văn hóa học. Không phải ai giỏi tiếng Việt là biên soạn được từ điển giải nghĩa tiếng Việt. Không phải ai giỏi ngoại ngữ là biên soạn được từ điển đối chiếu hai hoặc nhiều thứ tiếng. Nghề nào cũng đòi hỏi tính chuyên môn. Nghề làm từ điển cũng thế.

– Từ điển là công trình bao hàm những tri thức chuẩn mực, làm căn cứ “kim chỉ nam” cho người dùng. Nó có tính chính xác và giá trị bảo lưu cao. Do đó, không cần nói thì chúng ta cũng biết tác hại của nó là rất lớn. Không chỉ cho nhiều người mà có khi còn nhiều thế hệ.(p/v  PGS.TS Phạm Văn Tình, Tổng thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam – nguồn phunuonline.com.vn)