Thương Nhớ Thầy Cô

Nguyễn Vĩnh Thượng

ky yeu 72 - truong trung hoc PK 01

Hồi niên học 1955 – 1956, tôi học lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) tại trường tiểu học tư thục Chợ Đủi, nằm trên đường Phan Đình Phùng cũ ở gần chợ Vườn Chuối và cổng xe lửa. Ba tôi muốn tôi phải thi đậu vào lớp Đệ thất trường trung học Petrus Ký. Ba tôi nói “Petrus Trương Vĩnh Ký là một nhà giáo xuất sắc ở đất Nam Kỳ”. Ông cho tôi đi học thêm lớp luyện thi vào lớp Đệ thất tại nhà thầy giáo đang dạy tôi lớp Nhất. Tôi đi học suốt 4 giờ buổi sáng ở lớp Nhất, buổi chiều học thêm 2 tiếng để luyện thi.

Tháng 6 năm 1956 tôi thi đậu bằng “Tiểu học”, sau đó tôi nộp đơn thi tuyển vào lớp Đệ thất trường Petrus Ký, nhiều bạn trai khác nộp đơn thi vào trường Võ Trường Toản, các bạn gái thì nộp đơn thi vào trường Gia Long. Tôi đi dự thi vào lớp Đệ thất tại trường thi là Trường tiểu học Đổ Hữu Phương (bây giờ là trường Hùng Vương). Hôm đi xem kết quả, anh bà con tôi chở xe đạp từ nhà ở gần chợ Vườn Chuối đi đến trường Trung học Petrus Ký ở đường Cộng Hoà cũ. Số người xem kết quả rất đông, anh tôi biểu tôi giữ chiếc xe máy (bây giờ gọi là xe đạp) để anh chen lấn vào “Bảng Kết Quả” có lưới bao bọc, đặt ở cổng bên phải trường; cổng chính có bảng tên trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có 2 câu đối ở hai bên cột của cổng trường. Danh sách thi đậu gần 400 thí sinh gồm có số thứ tự hạng đậu, số ký danh và họ tên. Sau một hồi chen lấn anh tôi chạy ra cho tôi hay là tôi đã thi đậu. Về tới nhà cho Ba Má tôi hay tin mừng này, ba Má tôi vui lắm. Tối hôm đó Ba tôi dẩn cả nhà ra quán “Hủ Tiếu Mì” gần nhà, đãi mỗi người một tô mì. Má tôi dẩn tôi đi sắm hai bộ đồng phục: áo ngắn tay, quần tây cụt mà xanh.

Tôi học ở trường Trung học Petrus Ký tất cả 7 niên khóa liền 1956 – 1963. Tôi sẽ trình bày lòng thương nhớ Thầy Cô tôi với một ký ức sơ sài, chắc chắn tôi sẽ có nhiều sai sót, kính mong Thầy Cô lượng thứ . Bài này gồm có:

I. Các Thầy Cô ở các lớp Trung học Đệ nhất cấp (4 niên khóa).

II. Các Thầy Cô ở các lớp Trung học Đệ nhị cấp (3 niên khóa).

III. Vài Thầy Cô có nhiều uy tín nhưng không có dạy tôi.

IV. Kết Luận

 

I. Các Thầy Cô ở các lớp Trung học Đệ nhất cấp (từ lớp Đệ thất đến lớp Đệ tứ, bây giờ là từ lớp 6 đến lớp 9)

1. Lớp Đệ thất A (1956 – 1957): Buổi học đầu tiên lòng tôi vô cùng sung sướng và tự hào là học trò trường trung học Petrus Ký. Hầu hết các bạn trong lớp đều đi bộ, đi xe đạp đến trường, chỉ có bạn Võ Lưu Sanh (đã qua đời) là đi chiếc xe gắn máy hiệu Sachs; Ba Má Sanh là thương gia khá giả. Bạn Phan Bá Kế là thí sinh trúng tuyển Thủ Khoa, bạn học rất giỏi. Hồi tháng 6 năm 2016, khi tôi ghé qua San Jose, Hoa Kỳ, bạn Kế đã lái xe chở tôi và Thầy Trần Huệ đến nhà bạn Phan Bữu Giá, giáo sư Toán ở Sài Gòn và hiện ở San Jose nữa, ăn cơm tối, có cả Francoise Lê.

1.1. Quốc Văn: Thầy Nguyễn Văn Ngọc dạy, đặc biệt chương trình năm nay có học truyện “Lục Súc tranh công”, nên bọn tôi thường lấy tên vài súc vật như Trê, Cóc… để đặt tên cho vài bạn mình.

1.2. Pháp văn: Thầy Hồ Bảo Trí dạy. Thầy có tướng cao ráo mãnh khảnh, da trắng, môi son, trông rất đẹp trai. Lúc ấy, nhà thầy ở Cư Xá Chí Hòa, Hòa Hưng; thầy đã cho địa chỉ nên tụi tôi có đến thăm thầy. Nghe nói sau này thầy làm Giám Đốc ngân hàng, không còn đi dạy nữa. Vừa mới vô học, thầy đã cho chép bài và bắt học thuộc lòng bài giảng văn:

“La Rentrée des Classes” của Anatole France (1844 – 1924), extrait de “Le Livre de mon Ami”(1885): “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues.

Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bon homme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau.

Ma pensée seule le voit ; car ce petit bon homme est une ombre ; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans .

[…] Il y a vingt-cinq ans, à pareille époque, il traversait, avant huit heures, ce beau jardin pour aller en classe. Il avait le coeur un peu serré: c’était la rentrée.

Pourtant, il trottait, ses livres sur son dos, et sa toupie dans sa poche. L’idée de revoir ses camarades lui remettait de la joie au coeur. Il avait tant de choses à dire et à entendre!

[. . .] C’est ainsi qu’il traversait le Luxembourg dans l’air frais du matin. Tout ce qu’il voyait alors, je le vois aujourd’hui.

C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autrefois, leur âme qui m’égaye et m’attriste, et me trouble ; lui seul n’est plus.

C’est pourquoi, à mesure que je vieillis, je m’intéresse de plus en plus à la rentrée des classes.” Anatole France

Bản dịch tiếng Việt của Bình An

Nguồn: website An phong – An Bình

Lời dịch giả: Đoạn văn ngắn này được trích từ quyển tự truyện “Le Livre de mon ami” (Cuốn sách của bạn tôi) của nhà đại văn hào người Pháp là Anatole France (1844 – 1924). Ông đã đạt được giải thưởng Nobel về văn học (Nobel Prize in Literature) vào năm 1921. “Le Livre de mon ami” là một cuốn hồi ức ghi lại những kỷ niệm của tác giả trong những ngày thơ ấu và niên thiếu, truyện này được xuất bản vào năm 1885. Tác giả đã tạo dựng một nhân vật chính là chàng tuổi trẻ Pierre Nozière. Anatole France đã ghi lại hồi ức của mình qua nhân vật Pierre Nozière.

Lời dịch giả: Đoạn văn

*-*-*

“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì mà hằng năm làm tôi nhớ lại: đó là bầu trời mùa thu đầy xao động, những buổi ăn chiều đầu tiên dưới ánh đèn và những chiếc lá đã đổi màu vàng trên những cành cây lay động; tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì mà tôi nhìn thấy khi đi ngang qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng Mười: lúc ấy trời man mác buồn nhưng đẹp hơn bao giờ, đó là lúc những chiếc lá vàng rơi, từng cái, từng cái một rơi xuống bờ vai của những pho tượng trắng.

Điều tôi trông thấy ở trong vườn vào lúc ấy là một cậu bé, hai tay trong túi quần, cập da đeo trên lưng, trên đường đi tới trường cậu nhảy nhót như một con chim sẻ.

Chỉ có trí tưởng tượng của tôi mới nhìn thấy những gì qua cậu bé ấy; vì cậu ta chính là hình bóng của chính tôi cách đây hai mươi lăm năm.

[ . . . ] Cách đây hai mươi lăm năm, cùng lúc này, có một cậu bé băng ngang qua khu vườn xinh đẹp này để mong tới trường học trước 8 giờ sáng. Cậu ấy đã thấy lòng xe thắc lại: đó là ngày tựu trường.

Cậu bé ấy đã nhảy tung tăng, sách vở mang trên lưng và con vụ ở trong túi. Ý nghĩ gặp lại bạn bè làm cho cậu cảm thấy vui vui trong lòng. Cậu ấy biết rằng sẽ có biết bao câu chuyện để kể lại cho bạn mình nghe và chính mình sẽ nghe bạn bè kể lại biết bao câu chuyện khác.

[ . . . ] Thế là cậu ấy băng ngang qua vườn Luxembourg trong không khí mát mẻ của buổi bình minh. Những gì cậu ấy trông thấy lúc bấy giờ thì tôi cũng trông thấy lại ngày hôm nay.

Cũng cùng một bầu trời, cũng cùng một lối đi, những cảnh vật vẫn còn giữ linh hồn của ngày xưa, linh hồn đó làm cho tôi vui, làm cho tôi buồn, và làm cho tôi bâng khuâng, nhưng ngày nay cậu bé ấy không còn nữa.

Đó là lý do tại sao càng về già tôi càng nhớ lại ngày tựu trường của những ngày tháng thời thơ ấu.”

Anatole France

1.3. Anh văn (sinh ngữ 2): Thầy Thái dạy trong sách giáo khoa “ L’Anglais Vivant” của Pháp. Mặt thầy luôn ửng đỏ, có lẽ vì thầy uống nhiều la-ve. Thầy dạy tụi tôi phải đọc lớn tiếng và viết lại nhiều lần các chữ mới.

1.4. Sử Địa: Thầy Nguyễn Gia Tốn. Việc chính của thầy là làm việc ở văn phòng Ban Giám Đốc nhà trường. Thầy rất hiền, nhà thầy ở phía sau khuôn viên nhà trường. Nhà thầy có trồng mấy cây trứng cá có rất nhiều trái, bọn tôi mỗi khi đi học giờ thể dục ở sân vận đông phía sau nhà trường thường leo lên cây trứng cá này hái trái ăn chơi, thầy vui vẻ để cho hái trái. Thầy Tốn đã có sáng kiến thiết kế một chiếc xe ba bánh chạy luân phiên bằng hai máy xe gắn máy Honda, đi đường xa không sợ bị trở ngại vì nếu máy này hư thì máy khác thay nhau chạy. Thầy đã xin bằng phát minh.

1.5. Công dân: Thầy Nguyễn Phượng Yêm dạy, thầy hiền từ, đọc bài cho tụi tôi chép. Thầy đi chiếc mô-tô trong thật oai vệ. Thầy đã được dân bầu làm Thượng Nghị Sĩ dưới thời VNCH. Thầy định cư ở Montreal, Canada, nghe nói thầy đã qua đời.

1.6. Toán: Cô Nguyễn Thị Hai dạy. Cô rất hiền, dạy dể hiểu. Sau này cô là Dược sĩ có Viện Bào Chế Trang Hai. Cô đã làm Dân Biểu Quốc Hội VNCH. Nghe nói cô đã qua đời ở ngoại quốc.

1.7. Lý Hóa: Thầy Trần Huệ dạy. Thầy rất hiền, dể dãi, không bao giờ phạt cấm túc một đứa nào, ngay cả bửa không thuộc bài thì thầy cho học lại để tuần tới trả. Tôi có ghé thăm thầy vài lần vì hồi đó nhà thầy gần nhà Ba Má tôi.

1.8. Thể dục: Thầy Quý dạy, tụi tôi học giờ thể dục ở sân vận động phía sau trường, phải đi ngã đường Trần Bình Trọng cũ mới vào được sân vận động. Giờ thể dục rất thoải mái.

1.9. Thủ Công: Thầy Hài dạy. Thầy rất hiền. Thầy dạy đan rổ. Trước Tết năm 1957, nhà Thầy ở Bàn Cờ, thầy làm pháo để bán Tết. Rủi ro pháo nổ thiêu rụi nhà thầy, thầy tử nạn. Cả nhà trường điều thương tiếc, các vị Giáo sư thì uỷ lạo gia đình thầy.

1.10. Nhạc: Thầy Marcel, dạy. Thầy lai Pháp, nói giọng Bắc Hà Nội. Thầy rất khó, thường đọc “dictée musicale”, đứa nào bị lỗi nhiều thì thầy phạt đi “cấm túc”. Tôi còn nhớ thầy dạy bài “Trường làng tôi” của Phạm Trọng Cầu:

Trường làng tôi cây xanh lá vây quanh

muôn chim hót vang lên êm đềm.

Lên trường tôi, con đê bé xinh xinh

len qua đám cây xanh nhẹ lướt.

Trường làng tôi hai gian lá đơn sơ

che trên miếng sân vuông mơ màng.

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

nơi sống bao kỷ niệm ngày xanh.

Điệp Khúc:

Nơi sống bao mái đầu xanh màu

Đời tươi như bao lá xanh, lá xanh

Theo tháng ngày chiến cuộc lan tràn

qua xóm thôn nát ngôi trường xưa

Không bóng hình bao trẻ nô đùa,

Cùng nhau vang hát khúc ca vô tư

Mơ đến ngày nước non thanh bình

trong thôn xóm ấm ngôi trường xưa

Trường làng tôi nay vang tiếng ê a,

nay in bóng bao em nô đùa

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

dù cách xa muôn trùng trường ơi.

Phạm Trọng Cầu

1.11. Thầy Giám thị Phẩm: Thầy đã lớn tuổi, thường mặc bộ ka-ki màu trắng, quần tây cụt, đi xe máy đàn ông màu đen cổ cao, sản xuất ở Pháp. Thầy rất nghiêm khắc, thường hay lấy cuốn sổ nhỏ trong túi áo trên để ghi tên trò nào bị phạt. Thấy thầy từ đàng xa, lớp tôi im phăng phắc.

Consigne (phạt cấm túc) là phải đi đến trường ngày Chúa Nhật để làm bài chưa làm, học lại bài chưa thuộc, hoặc chép lời bị phạt. Nửa “cấm túc” là 2 tiếng, một cấm túc là 4 tiếng. Ngày bị phạt cấm túc thì có giám thị trông chừng và tùy theo lệnh phạt ghi trong giấy (có chữ ký của chamẹ hoặc người giám hộ) mà kiểm tra lại bài học hay bài làm. Hết giờ, ông giám thị cho về, giữ lại giấy phạt để trình cho ông Tổng Giám thị. Thời đó, kỷ luật của trường Petrus Ký rất nghiêm minh.

 

2. Lớp Đệ lục E (lớp 7E, 1957- 1958)

2.1. Quốc văn: Thầy Phan Văn Khánh dạy. Thầy người miền Trung, giọng nói đặc sệt Huế, nên khi thầy đọc chánh tả tụi tôi bị quá nhiều lỗi, nhưng lần lần tụi tôi cũng quen giọng thầy. Thầy Khánh rất hiền. Thầy không cao, nên để phân biệt với thầy Đặng Quốc Khánh dạy Toán. Bọn tôi thường gọi thầy Khánh dạy Quốc văn là thầy “Khánh lùn” còn thầy Khánh dạy Toán là thầy “Khánh le” vì thầy này luôn chảy đầu tém láng mướt, rất đẹp trai đi chiếc Vespa đẹp. Thầy Phan Văn Khánh bắt tụi tôi học thuộc nhiều bài giảng văn là những đoạn văn ngắn trích từ các cuốn truyện nổi tiếng. Bọn tôi hầu hết đều thích và thuộc bài: “Tôi đi học” của Thanh Tịnh:

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.”

Thanh Tịnh (1911 – 1988)

Nguồn: trích từ tập truyện ngắn “Quê Mẹ” của Thanh Tịnh, do NXB Đời Nay xuất bản năm 1941 ở Hà Nội.

Giọng văn trong đoạn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh rất nhẹ nhàng, ghi lại kỷ niệm man mác của buổi tựu trường, có điểm tương tự với đoạn văn “La Rentrée des Classes” của Anatole France. Đó là lý do rất nhiều học sinh vào thời đó đã thuộc nằm lòng hai đoạn văn trên cho đến ngày nay, đã trên 50 năm rồi.

2.2. Pháp văn: (sinh ngữ 1) Thầy Đổ Văn Dzỉnh dạy. Thầy có tướng vậm vỡ, giọng nói sang sản, phát âm tiếng Pháp theo giọng Hà Nội. Thầy dạy văn phạm rất kỹ.

2.3. Anh văn: (sinh ngữ 2) Thầy Tạ Ký dạy. Mùa Hè 1958, bạn Nguyễn Huệ (đã qua đời) rủ tôi đi thăm thầy, Huệ đi bộ từ nhà ở đường Gia Long, gần chợ Bến Thành đến nhà tôi ở gần Chợ Vườn Chuối, hai đứa cùng đi bộ tới nhà trọ của thầy Tạ Ký ở ngõ hẻm đường Phạm Ngũ Lão cũ gần rạp hát bóng Thanh Bình. Tụi tôi chỉ ở chơi khoảng 15 phút, thầy đã vui vẻ nói chuyện với tụi tôi. Nhận thấy thầy đang bận rộn đọc sách nên tụi tôi từ giả thầy. Tụi tôi đã lội bộ đến vườn Tao Đàn, đi lang thang trong vườn này cả tiếng đồng hồ thì mạnh ai nấy đi về nhà.

2.4. Sử Địa: Thầy Dương Hồng Phong dạy. Thầy giảng bài rất to tiếng, thầy rất hiền. Nhà thầy ở đường Công Lý cũ, trước Tết năm 1958, mấy đứa tôi có đến thăm thầy.

2.5. Công dân: không nhớ đã học với thầy cô nào.

2.6. Toán: Thầy Phạm Hoài Nam dạy. Thầy có nước da sậm, tướng dậm vở, nghe nói thầy đánh tennis rất hay. Thầy dạy hay, dể hiểu. Nghe nói sau này Thầy đổi sang dạy ở Trung Tâm Giáo Dục Lê Quí Đôn (Chasseloup-Laubat cũ).

2.7. Lý Hóa: mấy tháng đầu thì cô Đổ Thị Nga dạy, về sau thì cô Nguyễn Thị Hồng dạy cho đến hết năm. Cô Nga đã là Dược sĩ có nhà thuốc Tây trên đường Trương Minh Giảng cũ, đối diện với Đại Học Vạn Hạnh. Hồi tháng 6 năm 2016, tôi có dịp hội ngộ với thầy cô Nga, hai con và các cháu ngoại của cô ở Orange County, California, Hoa Kỳ. Chúng tôi đã đi ăn tối ở một nhà hàng nổi tiếng về “bò bảy món” và “cá nướng”, bửa cơm hội ngộ thật là vui vẻ, món ăn quá ngon. Còn cô Nguyễn Thị Hồng thì rất đẹp, nói nhỏ nhẹ, giảng bài dể hiểu.

2.8. Vạn vật: Thầy Hồ Văn Thể dạy. Sau này thầy được cử làm Giám Đốc Trung Tâm Giáo Dục Lê Quí Đôn. Thầy định cư ở Pháp năm 1984, dạy môn Lý Hóa ở Pháp (1985 – 1994). Rồi qua Hoa Kỳ định cư năm 1995.

2.9. Thể dục: Thầy Quý dạy.

2.10. Thủ công: Thầy Trương Đình Ý dạy. Môn này mỗi tuần chỉ học có một giờ, nhưng đòi học sinh quá nhiều giờ để làm bài tập: nắn đất sét. Đứa nào cũng mua dụng cụ để làm bài. Thầy dạy cách làm khuôn để đúc trái cây, rồi sơn màu cho đúng với trái cây đó. Tôi phải đạp xe máy lên tận Thủ Đức để cùng bạn Quang đi kiếm đất sét. Tôi đã đúc khuôn và làm trái mảng câu dai, trông rất giống trái cây thiệt. Trước khoảng 2 ngày nộp bài chấm điểm, tôi vô ý làm rớt trái mảng cầu xuống đất, nó vở tan tành. Tôi đã đến tận nhà thầy Ý ở gần đường Cao Thắng cũ, thuộc khu Ban Cờ, để trình bày sự tình và xin thầy gia hạn nộp bài một tuần nữa. Thầy hoan hỷ chấp nhận làm tôi mừng hết lớn. Thế là thoát khỏi điểm zéro trong kỳ thi Đệ nhứt lục cá nguyệt.

2.11. Nhạc: Thầy Chiêu dạy. Thầy rất hiền, học nhạc rất thoải mái, không như những giờ nhạc học với thầy Marcel.

2.12. Hán Văn: Thầy Ưng Thiều dạy. Thầy là bậc thâm nho. Môn Hán văn là môn học cuối cùng của chương trình Trung học, sau đó không còn môn Hán Văn nữa. Tuy nhiên các thầy dạy Quốc văn vẫn thường chú thích chữ Hán sau các tiếng Hán Việt để làm rõ nghĩa của một từ ngữ.

SG_CongtruongPetrusKy

Vào năm 1950, trước cổng trường Petrus Ký, Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn đã cho khắc 2 câu đối được viết bằng chữ Hán:

孔 孟 綱 常 須 刻 骨

西 歐 科 學 要 銘 心

âm Việt-Hán như sau:

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”

Ý nghĩa của hai câu đối này là: Một mặt hãy khắc ghi vào trong xương tủy nền luân lý đạo đức Á Đông và mặt khác hãy làm sáng sủa tâm hồn mình bằng nền văn minh khoa học tân tiến của Âu Tây.

Hai câu đối trên do GS Nguyễn Phước Ưng Thiều, dạy Hán văn, sáng tác. Thầy Ưng Thiều là con trai của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh. Thầy có người con gái là nữ sĩ Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh (1938-2003). Phùng Khánh và em gái là Phùng Thăng đã có dịch phẩm rất nổi tiếng là Câu Chuyện Dòng Sông, xuất bản lần đầu ở Sài Gòn vào năm 1965 và được tái bản nhiều lần, dịch từ nguyên tác Siddharta của nhà văn hào Đức Herman Karl Hesse (1877 – 1962), ông đã được giải thưởng Nobel về văn chương (Nobel Prize in Literature) vào năm 1946. Nữ sĩ Phùng Khánh đã xuất gia năm 1964 với Phật danh là Thích Trí Hải / Thích Nữ Trí Hải. Ni Sư Trí Hải đã dịch thuật và biên khảo nhiều sách về Phật giáo rất có giá trị.

 

3. Lớp Đệ ngũ F (lớp 8 F bây giờ, 1958 – 1959)

ta-ky
Thầy Tạ Ký

3.1. Quốc văn: Thầy Tạ Ký dạy. Thầy Tạ Ký dạy môn Quốc văn khi tôi học lớp Đệ Ngũ (lớp 8, 1958-59). Thầy bắt tụi tôi học thuộc lòng các bài thơ, bài văn được thầy trích giảng, và học thuộc lòng cả phần lược bình do thầy viết nữa. Tụi tôi chép bài mệt nghỉ… Hồi đó, lớp Đệ Ngũ học vào buổi chiều. Các lớp học Việt văn với thầy Tạ Ký đều được thầy đọc truyện “Thần Hổ” vào các buổi cuối giờ học. Tụi tôi đã giữ yên lặng, thích thú nghe câu chuyện ma quái, rất kinh dị ở nơi rừng sâu heo hút trong khi cảm thấy sợ ma nhất là vào những buổi chiều trời mưa tầm tả ở bên ngoài. Rất nhiều bạn tôi còn nhớ đến kỷ niệm này như Phạm Ngọc Thạch, Trần Vĩnh Trung, Nguyễn văn Mùi v.v. Truyện Thần Hổ của TCHYA (1908-1969) được đăng lần đầu trên bán nguyệt san Phổ Thông vào ngày 01 tháng 09 năm 1937, sau đó tiểu thuyết này được in thành sách.

Hè 1959, thầy Đặng Quốc Khánh và thầy Tạ Ký mở lớp Hè “Toán Lý và Anh văn” lớp Đệ tứ tại một ngôi trường nhỏ ở đường Đề Thám gần Chợ Cầu Ông Lãnh. Thầy Khánh dạy môn Toán Lý lớp Đệ tứ, thầy Tạ Ký dạy môn Anh văn lớp Đệ tứ. Tôi và rất nhiều bạn khác đều theo học lớp Hè này. Trong 2 tháng hè, hai thầy đã dạy hết chương trình lớp Đệ tứ: Toán Lý – Anh văn. Nhờ học trước nên tôi không gặp khó khăn trong lớp Đệ tứ. Hai tháng hè qua nhanh, ngày tựu trường đã đến.

Tôi còn nhớ một đoạn thơ do thầy Tạ Ký trích giảng ở trong Chinh Phụ Ngâm, bản dịch thơ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm, cảnh người Chinh Phụ tiễn đưa chồng lên đường đi đánh giặc:

“Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,

Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,

Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.

Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,

Bước đi một bước dây dây lại dừng.”

Chinh Phụ Ngâm (征婦吟) viết bằng chữ Hán bởi Đặng Trần Côn (1705-1745) theo lối “trường đoản cú” đã được diễn ra chữ Nôm bằng thể thơ “song thất lục bát” một cách tuyệt vời. Cho đến nay, giữa Đoàn Thị Điểm (1705-1749) và Phan Huy Ích (1751-1822), ai là người đích thực đã hoàn tất công trình diễn Nôm này vẫn chưa được xác định một cách dứt khoát.

3.2. Anh văn: năm học này Bộ Giáo Dục sửa đổi chương trình: các lớp Trung học Đệ nhất cấp chỉ học có một sinh ngữ mà thôi, còn các lớp Đệ nhị cấp mới học hai sinh ngữ. Tôi đã chọn môn Anh văn, cô Nguyễn Thị Sáu dạy. Cô đã đi du học ở Anh quốc. Cô rất hiền, dạy dể hiểu, dể nhớ. Cô có mở lớp dạy cho nhiều nhóm học Anh văn ở nhà cô. Tôi đã đi học tại một lớp này.

3.3. Sử Địa: không nhớ thầy cô nào.

3.4. Công dân: cũng không nhớ thầy cô nào.

dang-quoc-khanh
Thầy Đặng Quốc Khánh

3.5. Toán: thầy Đặng Quốc Khánh dạy. Thầy dạy rất dể hiểu, đứa nào cũng thích học giờ này. Hè 1959, tụi tôi đã học lớp Hè “Toán Lý – Anh văn” do thầy và thầy Tạ Ký dạy, tôi đã kể ở trên.

3.6. Lý Hóa: thầy Đặng Văn Hiền dạy.

3.7. Vạn Vật: không nhớ thầy cô nào dạy.

3.8. Vẽ: Môn thủ công được thay thế bằng môn vẽ. Nửa năm đầu do thầy Nguyễn Văn Quyện dạy, sau này thầy là Kiến trúc sư. Nửa năm sau cô, qua đầu năm 1959, cô Trương Thị Thịnh dạy. Cô cao, mãnh khảnh, rất hiền. Giờ học vẽ tụi tôi cảm thấy thoải mái. Cô cho vẽ ngay trong lớp. Bạn Trương Văn Long (đã qua đời) vẽ rất hay, sau này bạn là Kiến trúc sư. Cô Thịnh là đại họa sĩ và đại sư của ngành hội họa. Từ 1964-1975: giáo sư ở trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật. 1975-1980: giáo sư ở trường Đại học Mỹ thuật thành phố HCM. Năm 1986 cô sang đoàn tụ gia đình ở San Jose, Hoa Kỳ. Cô đã có một gia tài hội họa đồ sộ: nhiều bức tranh với nhiều đề tài khác nhau như: chân dung, phong cảnh, hoa, khoả thân, ấn tượng, trừu tượng. Năm 2002, cô Trương Thị Thịnh được Ông Thống đốc tiểu bang California, Hoa Kỳ, ban tặng “Certificate of Recognition” công nhận cô là người họa sĩ tài hoa.

3.9. Nhạc: thầy Hoàng Lang dạy. Thầy nguyên là một cựu học sinh trường Petrus Ký, thầy dạy nhạc ở trường Petrus Ký từ năm 1956. Thầy đã là Trưởng ban nhạc “Ban đàn dây”, với những nhạc cụ có dây, ở Đài phát thanh Sài Gòn trước 1975. Sau 1975, thầy đã định cư ở Thuỵ sĩ.

duong-ngoc-sum
Thầy Dương Ngọc Sum

3.10. Thể dục: thầy Dương Ngọc Sum dạy. Thầy dáng người dậm vở. Giờ học thể dục với thầy rất thoải mái, vui vẻ, thầy dạy tập cử động tay, chân, chạy bộ. Bọn tôi thường hay chia nhau hai toán đá banh ở sân vận động. Cuối giờ học thể dục, bọn tôi thường ăn một dĩa gỏi đu đủ và khô bò do một ông có xe đẩy nhỏ bán. Sau này lớn lên, tôi thường ăn gỏi đu đủ và khô bò, rồi uống nước mía Viển Đông ở góc đường Lê Lợi cũ và đường Pasteur cũ, ăn thét ghiền luôn. Bây giờ ở Toronto, thỉnh thoảng tôi cũng mua khô bò làm sẳn, trái đu đủ sống nhỏ về bào ra làm gỏi đu đủ khô bò với vài lá hún quế cho thơm; khi ăn tôi nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa, như vừa mới xảy ra ngày hôm qua.

Thầy Dương Ngọc Sum là người có chí đáng phục. Năm 1955, thầy đậu Tú Tài II, rồi học trường Quốc gia Sư Phạm, thầy đậu cao nên về dạy ở trường Petrus Ký từ niên khoá 1958-1959. Sau đó thầy học thêm ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, đậu Cử nhân giáo khoa Việt văn. Thầy được động viên Khóa 14 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức năm 1962. Khi trở về trường thầy dạy nhiều môn như Sử Địa, Việt văn, Pháp văn, thầy thật đa tài. Năm 1972, thầy được bổ nhiệm làm Thanh Tra đặc biệt Bộ Giáo Dục, làm Phụ tá cho Ông Phụ tá đặc biệt Tổng trưởng Giáo dục đặc trách ngành kỷ thuật. Sau 30 tháng 04 năm 1975, thầy bị đi học tập một thời gian, năm 1990 thầy sang định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO (Humanitarian Operations) rồi làm việc ở Research and Development Lab. Thầy là vị cố vấn và linh hồn của Hội Ái Hữu Cựu Giáo sư và Học sinh trường Petrus Ký ở Nam California, Hoa Kỳ.

 

4. Lớp Đệ tứ F (lớp 4 F, niên học 1959 – 1960):

nguyen-thi-sam
Cô Nguyễn Thị Sâm

4.1. Quốc văn: Cô Nguyễn Thị Sâm dạy khoảng một tháng đầu. Cô giảng Kiều” rất hay, cô đã viết nhiều bài khảo luận về Nguyễn Du với nhiều vị giáo sư khác, tuyển tập khảo luận đã ra sách. Nghe nói cô đã qua đời.

Thầy Tạ Ký dạy tiếp theo đó. Như năm ngoái, thầy bắt tụi tôi học thuộc lòng không những các bài thơ, bài văn trích giảng mà còn học thuộc lòng phần lược bình nữa. Thầy viết phần tổng kết từng tác giả rất dài nên bạn Dung đã đem đến nhà in in ronéo, tụi tôi khỏi phải chép bài. Mấy năm sau thầy Tạ Ký lấy các bài soạn này in thành sách. Trong kỳ thi Trung học Đệ Nhất Cấp vào mùa Hè năm 1960, tụi tôi đã trúng tủ đề thi môn Quốc văn với đề tài: “Bình giảng đoạn thơ “Kiều du xuân” trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du:

“Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử, giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

(Đoạn thơ trên trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ câu 39 đến 54).

Thầy Tạ Ký còn là một nhà thơ, thầy rất lãng mạn; “một cuộc tình thơ” rất là thơ mộng giữa Tạ Ký – nam sinh Quốc học và Phùng Khánh – nữ sinh Đồng Khánh. Lúc đó, Phùng Khánh là một nữ sinh rất đẹp, nét đẹp dịu hiền của cô gái Huế, có mái tóc rất dài, thường vấn bính phía sau. Phùng Khánh đã gởi Tạ Ký bài thơ “CHÉP TRANG TÌNH SỬ” có đoạn như sau:

Em về xứ mộng xứ mơ

Bỗng nhiên em nhận vần thơ vội vàng

Sông Hương vắng chuyến đò ngang

Cắm sào em đợi, anh sang một lần!

Mùa thu áo biếc bâng khuâng

Chim trời lẻ bạn ngàn trùng nhớ thương!

Vào thời đó, các cô gái Huế thường ngâm nga:

Sông Hương vắng chuyến đò ngang

Cắm sào em đợi, anh sang một lần!

Chuyện tình của Tạ Ký và Phùng Khánh không đưa đến hôn nhân, nhưng sự kết thúc của mối tình này là một tình yêu cao thượng. Sau này cô Phùng Khánh đã xuất gia với Phật danh là Thích Trí Hải/ Thích Nữ Trí Hải.

tran-huu-tac
Thầy Trần Hữu Tắc

4.2. Anh văn: thầy Trần Hữu Tắc dạy. Thầy là cựu học sinh trường Trung học Chu Văn An ở Hà Nội. Thầy dạy ở trường Petrus Ký đến năm 1979 thì định cư ở Hoa Kỳ. Thầy rất hiền, dạy hay. Nhớ lại, thầy đã bắt tụi tôi dịch có một câu mà đến hai ba lần: “Các cụ già thường sợ gió lạnh”.

4.3. Sử Địa: thầy Đinh Văn Vĩnh dạy. Thầy dạy ở trường Petrus Ký đến năm 1980 thì đổi qua dạy tại trường Marie Curie. Đến năm 1983 thầy sang định cư ở Anh quốc, rồi đến 1988 thì sang định cư ở Texas, Hoa Kỳ.

4.4. Công dân: thầy Mohamed Hamin dạy. Thầy là người Ấn độ lai Việt Nam, nước da đen sậm, nói giọng miền Nam rất chuẩn. Thầy giảng và soạn bài rất ngắn gọn, dễ hiểu. Thầy hiền và rất tốt. Nhiều bạn đang học lớp Đệ ngũ (lớp 8) chuẩn bị thi nhảy Trung học Đệ nhất cấp đã mượn tập tôi để chép bài công dân học, họ đã thi đậu.

4.5. Toán: thầy Nguyễn Thạch dạy. Thầy hút thuốc liên tục trong lúc giảng bài. Thầy cho rất nhiều bài toán Hình học và Đại số. Cuối năm đi thi, tụi tôi làm bài thi dễ dàng. Nghe nói thầy Thạch vẽ tranh rất đẹp.

4.6. Lý Hóa: thầy Nguyễn Hữu Nhạc dạy. Thầy có giọng nói lớn, tận tâm, giảng bài dễ hiểu. Sau này thầy làm Giám đốc một Nha ở Bộ Giáo Dục, rồi thăng tiến chức vụ cao hơn nữa. Thầy định cư ở Canada.

4.7. Vạn Vật: thầy Hoàng Kim Tháp dạy. Thầy rất ốm yếu. Nghe nói thầy đã qua đời.

4.8. Thể dục: hình như là thầy Tạ Ngọc Quí.

4.9. Nhạc: hình như thầy Chiêu dạy.

 

II. Các Thầy Cô ở các lớp Trung học Đệ nhị cấp ( từ lớp Đệ tam đến lớp Đệ nhất, bây giờ là từ lớp 10 đến lớp 12)

Hồi ấy bậc Trung học Đệ nhị cấp gồm có 3 cấp lớp: lớp Đệ tam (lớp 10 bây giờ), lớp Đệ nhị (lớp 11), lớp Đệ nhất (lớp 12); chia ra làm 4 ban:

1. Ban A: Khoa học thực nghiệm

2. Ban B: Khoa học toán

3. Ban C: Văn chương hiện đại

4. Ban D: Văn chương cổ ngữ (Hán văn hoặc La-tin)

Tôi đã chọn ban B.

Về Sinh ngữ thì có 2 sinh ngữ: Anh văn và Pháp văn.

1. Lớp Đệ tam B-5 (lớp 10 B5, niên khóa 1960 – 1961) Có nhiều bạn từ trường Trung học Cần Giuộc, Cần Đước, tỉnh Long An, lên học vì lúc đó các trường này chỉ mở tới lớp Đệ tứ.

1.1. Quốc văn: thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy. Thầy đã từng là cựu học sinh trường Petrus Ký. Thầy cho chép bài, bắt học thuộc thơ văn. Tôi nhớ trong phần dạy về văn chương truyền khẩu, thầy đã giảng giải về bài ca dao “Thằng Bờm”:

Thằng bờm có cái quạt mo,

Phú ông xin đổi bɑ bò chín trâu.

Ɓờm rằng bờm chẳng lấу trâu,

Phú ông xin đổi ɑo sâu cá mè.

Ɓờm rằng bờm chẳng lấу mè,

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.

Ɓờm rằng bờm chẳng lấу lim,

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi .

Ɓờm rằng bờm chẳng lấу mồi,

Phú ông xin đổi nắm xôi bờm cười. 

nguyen-thanh-liem
GS Nguyễn Thanh Liêm

Thầy Nguyễn Thanh Liêm sau đó làm Hiệu Trưởng trường Petrus Ký, rồi Thanh tra Bộ Giáo Dục. Thầy là vị giáo sư yêu mến và phát huy nền giáo dục miền Nam. Địa vị cuối cùng của thầy là Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên VNCH. Thầy may mắn, rời khỏi Sài Gòn trước khi Chính phủ Sài Gòn thua cuộc. Tại Hoa Kỳ, thầy tiếp tục học và lấy bằng Ph. D., và tiếp tục viết lách, biên khảo để bảo tồn và phát huy nền giáo dục nhân bản, khai phóng và dân tộc cho đến phút cuối cùng của cuộc đời.

Gs Ts Nguyễn Thanh Liêm sanh ngày 12 tháng 03 năm 1933 tại làng Phú Túc tỉnh Bến Tre, trong khai sanh ghi là ngày20 tháng 11 năm 1934 tại Mỹ Tho. Thầy qua đời ngày 17 tháng 8 năm 2016 tại Orange County, California, USA, hưởng thọ được 84 tuổi ta. Trước sự ra đi của thầy, không những tất cả cựu giáo sư, cựu học sinh trường Petrus Ký mà rất đông người Việt Nam đều thương tiếc.

Thầy Liêm rất tôn kính ông Petrus Trương Vĩnh Ký, thầy viết:

“Hai tiếng Petrus Ký ngắn gọn đã đi sâu vào lòng người dân Miền Nam từ hơn thế kỷ nay và sẽ còn ở đó mãi mãi cho dù có kẻ đã cố tình xóa đi hay tìm mọi lý do để dìm xuống. Hai tiếng thân yêu đó là tên rút ngắn của nhà bác học Trương Vĩnh Ký, một người con của đất Vĩnh Long, một nhà văn hóa nổi tiếng của Nam Kỳ Lục Tỉnh, một người đã có nhiều công lớn trong việc hình thành nền học thuật mới vùng Đồng Nai Cửu Long cũng như trên toàn cõi nước Việt vào hạ bán thế kỷ XIX. Nói đến Petrus Ký là phải nói đến vai trò “khai đường mở lối” của ông trên các địa hạt:

1) Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo, trước tác,

2) Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho,

3) Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ của Nho gia,

4) Làm báo theo đúng ý nghĩa một tờ báo của Tây phương.

[…] Tinh thần Petrus Ký là tinh thần dung hòa Đông Tây, tinh thần tổng hợp khoa học kỹ thuật với luân lý đạo đức. Bên cạnh những kiến thức tối tân về cơ giới, điện tử, còn có tình nghĩa cha con, chồng vợ, bạn bè, đồng loại, lòng hiếu để, tình thầy trò, bè bạn, lòng thương yêu giúp đỡ người khác v.v., nhiều ý niệm đạo đức cổ truyền đó vẫn rất có giá trị và ích lợi cho đời sống của người Việt Nam hiện giờ. […]’’.

(Nguyễn Thanh Liêm, Bài viết: “Petrus Ký: người con của đất Vĩnh Long. Nhà Văn hoá Giáo dục lớn của người dân Việt, trong NTL Tuyển Tập, Little Sài Gòn (California, Hoa Kỳ): Lê Văn Duyệt Foundation, 2015, tr. 401).

Thầy Nguyễn Thanh Liêm có một tinh thần rất lạc quan trong cuộc sống.Trước cuộc đời, thầy Nguyễn Thanh Liêm quan niệm rằng “ai cũng phải chết”, con người là một “hữu vị tử”. Từ đó thầy nhìn cuộc đời bằng một tinh thần lạc quan: chấp nhận những gì đang có trong cõi đời này để rồi vươn lên, và sống một đời sống xứng đáng là một con người. Thầy viết: “

[…] Thật ra thì rồi ai cũng phải chết, nhưng trước khi chết con người đã phải sống một cuộc sống có thể rất dài. Tuy là so với thời gian vô tận thì một trăm năm không có là bao, không có nghĩa gì cả, nhưng đối với một đời người ba vạn sáu ngàn ngày không phải là ít ỏi gì. Người ta phải sống thế nào đây cho xong cả ba vạn sáu ngàn ngày đó. Ngay khi chờ đợi mỗi giờ, mỗi phút ta đã thấy ngán ngẫm, đau đớn xót xa hay nóng nảy sốt ruột rồi, huống chi là cả một ngày hay trong nhiều ngày như vậy. Cho nên trái ngược với khuynh hướng bi quan nói trên người ta còn có quan niệm khác hơn về cuộc sống. Thay vì nghĩ đến cái chết, có thể rất xa xôi, ta hãy nghĩ đến cuộc sống trước đã. Có người muốn được sống mãi mãi, hay kéo dài như các đấng thần tiên. Người ta tìm thuốc trường sinh, tìm nơi bồng lai tiên cảnh. Có người nghĩ đến cảnh nhàn hạ, cảnh sung sướng ở đời để khi chết đi người ta không phải hối tiếc. Có nghĩa gì đâu khi cuộc sống ngắn ngủi mà lại phù du, thôi thì hãy lấy chung rượu mà khuây khoả nỗi lòng.

“[…] Nhưng đối với tôi những cuộc sống thần tiên hay nhàn hạ chỉ là một cách phản ứng lại cuộc đời vô nghĩa đã nói ở trên. Tôi nghĩ đến một cách sống khác: cuộc sống khắc kỷ (stoicim [1]). Hãy chấp nhận cuộc đời này, chấp nhận mọi việc xảy ra ở đời, chấp nhận may rủi, những buồn vui của cuộc đời, và một ngày nào đó chấp nhận ngay cả cái chết. Chấp nhận sự thật ở đời để vươn lên, sống đời sống xứng đáng là con người, là một con vật “linh ư vạn vật [2]“.

Bản ngã của tôi, nhân cách tính tình của tôi, hay căn cước của tôi là như thế.”

(Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm, Orange County(California, Hoa Kỳ) 2016,tr. 16)

Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã sống một cuộc đời theo quan niệm triết học của trường phái khắc kỷ. Con người là một sinh vật xã hội, và con người là một cây sậy biết suy tư, nên Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã đề cao con người theo triết lý nhân bản. Thầy Liêm xác nhận: “Bản ngã của tôi, nhân cách tính tình của tôi, hay căn cước của tôi là như thế”. Thầy Liêm đã làm những gì thầy nói và nói những gì thầy làm. Tư tưởng và hành động là một, đây là tinh thần: tri hành hợp nhất.

Vào cuối đời của mình, thầy Nguyễn Thanh Liêm đã tự duyệt xét về nhân cách của mình:

Tính ra tôi thấy không xấu hổ với người đời dù là người Việt Nam hay là người Mỹ. Tôi nghèo nhưng cũng sống được.

(Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm, 2016)

1.2. Anh văn (sinh ngữ 1): thầy Dương Hồng Phong dạy. Thầy đã dạy tôi hồi ở lớp Đệ lục. Thầy Phong dạy rất dễ hiểu, dễ nhớ. Sau này thầy làm Thanh Tra khảo thí. Thầy định cư ở Hoa Kỳ.

1.3. Pháp văn (sinh ngữ 2): thầy Nguyễn Văn Quân, con trai của ông Hiệu trưởng Nguyễn Văn Trương, em của thầy là hai bạn Phú và Quí, học cùng lớp với chúng tôi. Thầy giảng bài bằng tiếng Pháp, nói chậm rãi, dễ hiểu.

Thầy Nguyễn Văn Quân có chụp hình cả lớp tôi ở trước lớp học do bạn Trương văn Long sử dụng máy chụp hình của bạn.

lam-thi-dung
Cô Lâm Thị Dung

1.4. Sử Địa: Cô Lâm Thị Dung dạy. Đầu thập niên 1940, cô đã đi du học ở trường Đại học Khoa Học Hà Nội. Vào thời đó, học sinh miền Nam có 2 nơi đi du học bậc Đại học là: Hà Nội và Pháp. Con gái ít khi được cha mẹ cho đi xa, trường hợp cô Dung chắc thân phụ của cô có quan niệm phóng khoáng. Học xong ban khoa học, cô Dung trở về Sài Gòn và bắt đầu dạy tại trường Petrus Ký từ năm 1947. Lúc đầu cô dạy môn khoa học thực nghiệm, nhưng sau vì thiếu giáo sư môn Sử Địa, nên Ông Hiệu trưởng Lê Văn Kiêm, vị thầy học cũ của cô, đã nói cô sang dạy môn Sử Địa, từ đó Cô Dung dạy Sử Địa cho đến ngày về hưu.

Cô Lâm Thị Dung rất nghiêm nghị, bắt tụi tôi trả bài ít nhất một lần trong một tháng, cho nên đứa nào cũng phải lo học mặc dầu môn Sử Địa có hệ số nhỏ. Cô luôn luôn mặc áo dài trắng, đi dạy thì có xe xích lô đưa và đón, có lẽ cô không đi xe gắn máy được. Bọn tôi thường gọi cô bằng “má Dung” có lẽ vì cô lớn tuổi ngang với Ba Má tụi tôi. Vào năm 1982, cô định cư ở Montréal, Canada. năm 2007, cô qua đời, hưởng thọ được 92 tuổi.

1.5. Công dân: không nhớ thầy nào.

1.6. Toán: thầy Nguyễn Thanh Lương dạy. Thầy dùng sách toán của LeBossé và Hemery để làm tài liệu giảng bài.

1.7. Lý Hóa : không nhớ thầy nào.

tran-hue
Thầy Trần Huệ

1.8. Vạn vật: thầy Trần Huệ dạy. Thầy đã dạy tụi tôi hồi ở lớp Đệ thất. Thầy Huệ rất hiền, dạy tận tâm, năm này tụi tôi học về các nham thạch, nhiều giờ học thầy đều sai một đứa lên phòng thí nghiệm mượn các loại đá. Thầy Trần Huệ rất hiếu học và có ý chí phi thường. Thầy là cựu học sinh trường trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Năm 1949, thầy đậu Diplome, lúc ấy mới có 17 tuổi. Năm 1950-1951: trúng tuyển vào học ở trường Sư Phạm Nam Việt, ra trường dạy ở trường Tiểu học Xóm Cũi, Quận 8, Sài Gòn – Cholon. Năm 1951, đậu Baccalauréat I; năm 1954, đậu Baccalauréat II, rồi được Nha Học Chánh thuyên chuyển về dạy tại trường Trung học Petrus Ký từ niên khóa 1954 – 1955. Năm 1966, thầy học xong Cử Nhân Giáo Khoa Triết học Tây phương, chuyển qua dạy môn Triết học. Năm 1969, được học bổng đi du học ở Hoa Kỳ, lấy bằng Master of Education; năm 1972 lấy bằng Ph. D. về Giáo dục tại Hoa Kỳ; về nước thầy được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển qua dạy tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Năm 1980, thầy định cư ở Hoa Kỳ, dạy học ở trường Đại học tại San Jose, và làm việc tại Khu học Chánh cho đến ngày về hưu. Thầy Trần Huệ đã dạy qua ở các trường tiểu học, trung học, đại học ở Sài Gòn và ở Hoa Kỳ. Hồi tháng 6 năm 2016, tôi đã hội ngộ với thầy trong bửa cơm ở nhà bạn Giá, tôi đã trình với thầy là tôi rất thán phục tinh thần hiếu học của thầy; thầy rất khiêm nhường chỉ nói:”tất cả chỉ là do kiên nhẫn”. Thầy đã về hưu, sống ở California, thầy có hai môn sở thích là đi câu cá và vẽ tranh. Thầy câu cũng được nhiều cá, nhưng bây giờ thầy nói rằng thầy không đi câu nữa, vì tội nghiệp cho mấy con cá bị câu được. Thầy vẽ tranh rất đẹp, đã triển lãm nhiều lần, tiền bán được để giúp quỷ nhà thờ Tin Lành ở San Jose. Thầy Trần Huệ đã vẽ tặng tôi một bức tranh đẹp.

1.9. Thể dục: không nhớ thầy nào.

 

2. Lớp Đệ nhị B5 (lớp 11 B5, niên khóa 1961-1962):

2.1. Quốc văn: thầy Phạm Thế Ngũ dạy. Thầy đã viết một bộ sách gồm 3 quyền luyện thi Tú Tài phần thứ nhất tụi tôi đều mua để học: 1. Phương pháp làm nghị luận văn chương, 2. Phương pháp là nghị luận tư tưởng, 3. Khảo luận về các tác giả có trong chương trình lớp Đệ nhị ABCD. Bộ sách này rất hay, đây là sách gối đầu giường của chúng tôi. Bộ sách này bán chạy như tôm tươi nên có nhà in lén in lại để đem ra vỉa hè đường Lê Lợi, Sài Gòn, bán giá rẻ hơn. Đến khoảng năm 1973, Kỳ thi Tú tài phần thứ nhất được hủy bỏ làm cho bộ sách “Bài Việt Văn” này bị ứ đọng.

Trong cuốn thứ 3, có bài khảo luận về “Cái ngông của Tản Đà (1889-1939)”, thầy Ngũ định nghĩa chữ ngông từ chữ ngóng, ngỗng, ngồng rất thu hút người đọc, tôi đã đọc bài này nhiều lần. Trong kỳ thi vấn đáp Tú Tài I tôi bắt thăm trúng đề “Cái ngông của Tản Đà” nên nói thao thao bất tuyệt. Tôi nhớ bài Đại Lão của Nguyễn Khuyến, càng lớn tuổi càng thấy thấm thía tâm sự của ông:

Năm nay tớ đã bảy mươi tư

Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ

Lúc hứng, uống thêm dăm chén rượu

Khi buồn, ngâm láo một câu thơ

Bạn già lớp trước nay còn mấy?

Chuyện cũ mười phần chín chẳng như

Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa

Thử xem trời mãi thế này ư?

2.2. Anh văn (sinh ngữ 1): thầy Phạm Văn Quảng dạy. Thấy đã dạy lớp Đệ tam B5 năm ngoái trong giờ thầy dạy thực tập môn Anh văn. Thầy cho in ronéo nhiều bài trích giảng, cho làm nhiều bài luận Anh văn. Chúng tôi đã đạt được kết quả cao về môn này trong kỳ thi. Đứa nào cũng kính mến thầy.

Thầy Phạm Văn Quảng, cô Đào Kim Phụng, cô Kim Sơn v..v… là cựu sinh viên Khóa 1 Ban Anh văn, ngành huấn luyện Giáo sư trung học đệ nhị cấp ĐHSP Sài Gòn. Theo cô Đào Kim Phụng kể lại thì trong thời sinh viên thầy Quảng và cô Kim Sơn có một tình yêu sâu đậm. Nhưng thân sinh của thầy Quảng không đồng ý, và bắt thầy đi cưới người thiếu nữ khác. Bên tình bên hiếu, thầy đã chọn chữ hiếu. Cô Kim Sơn đã ôm áp mối tình đầu và ở vậy, thật là:

“Tóc mai sợi vắn sợi dài,

Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.”

Ca dao

Thầy Phạm Văn Quảng đã đi du học ở Hoa Kỳ và đã lấy bằng M.A., Ph.D. về giáo dục, thầy về Sài Gòn, dạy tại Đại học Sư phạm Sài Gòn và giữ nhiều chức vụ khác. Sau năm 1975, thầy và gia đình đi định cư ở Hoa Kỳ. Sau đó vợ thầy qua đời. Cô Đào Kim Phụng kể tiếp: khoảng năm 2007, các cựu sinh viên Khóa 1 ban Anh văn ở ĐHSP Sài Gòn, cùng lớp với thầy Quảng, đã kết hợp lại mối tình giữa thầy Quảng và cô Kim Sơn ngày xưa, họ đứng ra làm đám cưới cho thầy Quảng và cô Kim Sơn. Sau đám cưới, thầy Quảng đã sang Toronto, Canada để sum họp với cô Kim Sơn. Mối tình của Thầy Phạm Văn Quảng và cô Kim Sơn thật là đẹp tuyệt vời, đẹp còn hơn tất cả chuyện tình trong tiểu thuyết của bà Quỳnh Dao.

2.3. Pháp văn (sinh ngữ 2) lúc đầu năm cô Bùi Thị Tuyết Hồng dạy, cô Hồng đi du học bên Pháp, tánh tình phóng khoáng, cô nhảy đầm rất hay, dạy rất giỏi. Khoảng 1978, chồng cô là người Hòa lan, làm Đại sứ cho nước Hòa lan ở Bangkok, Thailand. Sau đó, cô Phạm Thị Quế dạy, cô là con của ông Hiệu trưởng Phạm Văn Lược; cô rất hiền, dạy hay. Sau này cô đậu bằng Cao học Pháp văn, rồi dạy ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Cô đã định cư ở Montreal, và đã qua đời.

2.4. Toán: thầy Nguyễn Hữu Kế dạy, thầy là người miền Nam nhưng nói giọng hơi pha giọng Hà Nội có lẽ thầy đã chịu ảnh hưởng trong thời gian du học ở Hà Nội.

Hồi năm 1953, có 5 sinh viên tốt nghiệp ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội được bổ nhiệm cùng một lúc về trường Lycée Petrus Ký, lúc ấy trong giới giáo sư trường Petrus Ký đã gọi 5 thầy là “Ngũ hổ tướng bình Nam” gồm có:

1. Nguyễn Hữu Kế.

2. Lê Xuân Khoa.

3. Bùi Trọng Chương (qua đời ở California, Hoa Kỳ)

4. Đinh Xuân Thọ (qua đời ở Paris, Pháp)

5. Vũ Ngọc Khôi (qua đời ở Virginia, Hoa Kỳ)

Thầy Nguyễn Hữu Kế dạy rất dễ hiểu các môn: Hình học không gian, Đại số và Lượng giác. Thầy dạy theo sách Lebossé, thầy đã xuất bản quyển Lượng giác, bài học ngắn gọn có nhiều bài tập. Năm này tôi thường học nhóm với các bạn Mùi, Giá, Nhiều …, tụi tôi đã giải gần hết các bài tập toán trong sách Lebossé và Hemery, nên trong kỳ thi Tú Tài I đứa nào cũng được điểm cao.

Thầy và cô Nguyễn Hữu Kế đã được một người con bảo lảnh sang Hoa Ký. Thầy đã qua đó, nhưng cô thì ở lại trong nôm cha mẹ già nên không đi. Ở Hoa Kỳ một mình nên thầy cảm thấy buồn và xin trở về Sài Gòn, thầy cùng với cô phụng dưỡng bố mẹ già. Thầy thường có thú vui đọc sách và đánh mạc chược với các thân hữu.

2.5. Lý Hoá: thầy Vũ Ngọc Khôi dạy. Thầy Khôi có lối dạy rất đặc biệt: thầy bắt tụi phải học và tự soạn bài giáo khoa trước rồi vô lớp thầy gọi lên bảng thay phiên nhau giảng bài thế thầy, có chỗ nào không đúng thì thầy giảng lại. Tôi đã mua bộ sách Lý Hóa lớp 11 AB của GS Lê Văn Lâm gồm sách lý thuyết và sách bài tập có phần giải sẳn để làm tài liệu học bài trước. Kết quả cuối năm, chúng tôi đã đạt được điểm cao về môn này. Thầy Vũ Ngọc Khôi là một trong “Ngũ hổ tướng bình Nam”. Thầy đã định cư ở Virginia, Hoa Kỳ, thầy đã qua đời.

nguyen-ngoc-nam
Thầy Nguyễn Ngọc Nam

2.6. Vạn vật: thầy Nguyễn Ngọc Nam dạy. Thầy rất ốm, nhỏ con, trông có vẻ khắc khổ. Thầy rất hiền. Thầy soạn bài ngắn gọn, dễ hiểu. Thầy dạy ở trường Petrus Ký từ 1960 đến 1980 thì về hưu. Hồi khoảng 1978, nghe thầy bị té gãy xương, tôi có đến thăm thầy lúc đó thầy ở đường Cộng Hòa cũ, thầy trò gặp nhau rất cảm động. Sau khi về hưu, thầy lên Đà Lạt nghỉ dượng già, rồi qua đời tại đây.

2.7. Sử Địa: thầy Phạm Mạnh Cương dạy. Thầy đậu Tú Tài II vào năm 1953 ở Huế, rồi đi du học ở trường Cao đẳng Sư Phạm Hà Nội và Đại học Văn khoa Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, thầy vô miền Nam dạy học từ 1955 ở trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho. Rồi đến năm 1958 về dạy ở trường Petrus Ký. Năm 1980, thầy định cư ở Montréal, tại đây thầy có lập một ban nhạc để trình diễn mỗi đêm. Thầy sáng tác rất nhiều bản nhạc, trong số đó tôi thích nhất là bài “Thương hoài ngàn năm”:

”Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi

Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai

Trăng khuyết rồi có khi đầy

Ngăn cách rồi cũng xum vầy

Mây bay bay hoài ngàn năm

Lòng như con thuyền đổ bến tình yêu

Ngại gió mưa chiều thuyền vẫn còn neo

Ai đó dù có hững hờ, ai đó dù đã âm thầm

Ra đi ôm trọn niềm thương

Thương hoài ôi ngàn năm còn đó

đá mòn mà tình có mòn đâu

Tình đầu là tình cuối người ơi

Suốt đời mình nguyện câu lứa đôi

Thời gian âm thầm như nước về khơi

Lòng trót yêu người tình khó đổi thay

Hoa thắm rồi có khi tàn,

Tình ấy chỉ đến một lần

Tâm tư thương hoài ngàn năm”

Bài này được gợi hứng từ hai câu ca dao “Tóc mai sợi vắn sợi dài,/Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Thầy Phạm Mạnh Cương sáng tác vào năm 1956.

2.8. Công dân: Thầy Bùi Trọng Chương dạy. Thầy dạy các học thuyết về kinh tế rất dễ hiểu, bài chép ngắn gọn. Thầy là một trong Ngũ hổ tướng bình Nam. Thầy đã định cư ở California, Hoa Kỳ. Thầy đã qua đời ở đây. Sau khi thầy qua đời, có 4 cựu học sinh Petrus Ký, ở Canada, đã cùng nhau lập “Quỹ Học Bổng Bùi Trọng Chương”. Đó là các anh: 1.Lâm Vĩnh Thế, M.A., 2. Kỷ sư Nghiêm Phú Phúc, 3. Nguyễn Khắc Phụng, Ph. D., 4.Lương Văn Hy, Ph.D.

2.9. Thể dục: tôi không nhớ thầy nào.

 

3. Lớp Đệ nhất B5 (lớp 12 B5, niên khóa 1962-1963):

3.1. Triết học: vào thời này, môn Triết học được thay thế môn Quốc văn ở lớp Đệ nhất, tương tự như chương trình Pháp. Mãi tới niên học 1974-1975, chương trình Việt văn mới được đưa lên lớp 12ABCD tạo nên sự quan trọng của môn Việt văn và giáo sư Việt văn . Môn triết học gồm có 4 môn: Đạo Đức Học, Luận Lý Học, Tâm Lý Học và Siêu hình Học.

– Các lớp 12ABCD cùng học một chương trình Đạo Đức Học và Luận Lý Học.

– Lớp 12A: học thêm môn Tâm Lý Học, nhưng ngắn hơn chương trình Tâm Lý Học của lớp 12CD.

– Lớp 12CD: học thêm Tâm Lý Học, nhưng chương trình dài hơn chương trình Tâm Lý Học lớp 12A, và còn thêm môn Siêu Hình Học.

Thầy Bùi Phong Quang dạy môn Triết học ở lớp tôi. Một tháng đầu nghe thầy giảng thật là “điếc con rái” vì toàn là các thuật ngữ triết học rất mới lạ đối với tụi tôi. tụi tôi phải đọc thêm các sách giáo khoa triết học lớp 12 ABCD của LM Trần Văn Hiến Minh, LM Cao Văn Luận. Thầy Quang có kiến thức uyên bác, thầy giải thích, vận dụng các thuật ngữ triết học và những khái niệm triết học trong chương trình làm cho chúng tôi hiểu thấu lần lần các bài học triết. Qua tới tháng thứ hai, tôi bắt đầu say mê môn triết học cho đến ngày nay. “Triết học là gì?” là bài học khai mở để dẩn chúng ta đi vào khu vườn triết học đầy kỳ hoa và dị thảo:

“Triết học (philosophy) là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ đại: philosophia (tiếng phiên âm theo Anh văn), có nghĩa là lòng yêu mến sự hiểu biết. Nói rộng hơn, triết học là những quan niệm, tư tưởng, thái độ của một cá nhân hay một nhóm người siêu việt.

Hai chữ Triết học (哲學) đã xuất hiện ở Trung quốc và Việt Nam từ ngày phong trào văn hoá Âu Tây du nhập vào khoảng cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20. Trước đó, người Trung quốc thường dùng hai chữ Đạo học (道學).

Theo lối chiết tự trong Hán văn thì chữ Triết (哲) gồm có bộ thủ (手/扌) gốc ở chữ thủ (手 ) là cánh tay, chữ cân (斤) là cái rìu , với chữ khẩu (口) là cái miệng; cả 3 chữ ấy hội ý lại thì có nghĩa là phân tích để biết. Như vậy, triết học có nghĩa là đi tìm chân lý bằng cách phân tích sự vật.

Ở Ấn độ, các nhà tư tưởng dùng chữ “Anviksiti-vidya”(= khoa học tìm tòi khảo cứu) có nghĩa tương đương với chữ “triết học”. Còn có một danh từ đồng nghĩa là “Tarkacastra”( = sự hiểu biết căn cứ vào suy luận ). Còn chữ “Darsanas” có nghĩa là quan điểm, cách xem xét của một hệ thống triết học đặc biệt, “Darsanika” (philosopher) là triết gia, là người được nhiều người khác biết đến qua hệ thống triết học của vị đó. Ngày nay người Ấn độ thường dùng chữ “Tattvavidya-castra (= sách nói về khoa học chân lý) để chỉ chữ triết học.

Chữ Đạo (道) trong Đạo học là con đường để chỉ dẩn cho con người hiểu được ý nghĩa của cuộc sống ở đời, để thích ứng với cuộc sống, và cũng để cải thiện cuộc sống.

Triết học là một nổ lực nghiên cứu cái căn bản, cái tổng quát của các vấn đề để đi tới chỗ tận cùng, đến chỗ không thể nào tiến thêm được nữa, đến cái nền tảng của vấn đề.

Trong việc nghiên cứu triết học, chúng ta đi tìm chân lý, sự thật của các vấn đề, của các quan niệm về bản chất của sự hiện hữu thực tại, sự tồn tại của tri thức, của luân lý, của lý tính và của mục đích của người đời.

Trong tiếng Việt, có sự phân biệt:

1. Triết lý là một thái độ sống của con người trước cuộc đời, như vậy ai cũng có triết lý nghĩa là có một thái độ sống của mình đối với người khác, không người nào có thể tránh khỏi triết lý; tiếng cuộc đời bao gồm hai yếu tố:

a. người đời: con người ở đời với những người khác trong xã hội.

b. đời người: ý nghĩa của cuộc đời.

2. Triết học là sự học hỏi, sự nghiên cứu về triết lý, sự suy tư, suy nghĩ về triết lý. Do đó, các vấn đề của triết học không thể tách rời khỏi những con người sống trong xã hội.

Triết học có 3 đặc điểm:

a. Suy tư triết lý là những suy nghĩ, nghiên cứu về một hệ thống tư tưởng từ một điểm bắt đầu để đi đến kết luận.

b. Suy tư triết lý là suy nghĩ về một thực tại, một cái gì tồn tại có trước khi ta suy nghĩ về nó.

c. Suy tư triết lý là một suy nghĩ có ý thức, đòi hỏi phải nhìn trực tiếp vào một vấn đề, một đối tượng với một thái độ phản tỉnh (reflective attitude) tức là chúng ta phải biết xếp đặt các suy nghĩ thành một hệ thống, từ phân tích cho đến tổng hợp. Có ý thức phản tỉnh, chúng ta mới đạt được sự thức tỉnh (awakening), mới đạt được giác ngộ (enlightenment).

Trong cuộc sống hằng ngày, có những chuyện xảy ra khiến chúng ta phản tỉnh. Thí dụ như kinh nghiệm về thất bại, về hoạn nạn là chuyện khiến ta phản tỉnh: ý thức về cuộc đời đau khổ, và suy nghĩ đi tìm nguyên nhân của sự khổ đau đó, hoặc tìm cách diệt cái khổ sở đó, hoặc có những dự định vươn tới những cái tốt đẹp hơn trong tương lai.

Thất bại thường xảy ra trong hoàn cảnh có sự liên hệ giữa một người hay nhiều người với người khác. Thất bại hoặc hoạn nạn có thể có các hình thức sau đây:

1. Thất bại trên đường học vấn, thi cử: không thể tiếp tục học vì một nguyên nhân nào đó, hoặc thi rớt mặc dầu hết sức cố gắng học tập.

2. Thất bại trên đường buôn bán, làm ăn lỗ lả, đường công danh sự nghiệp hoạn nạn, lận đận.

3. Thất bại trên đường tình duyên và gia đạo: bị người yêu hay người phối ngẫu lừa gạt, sang ngang.

4. Thân thể có khuyết tật vì bẩm sanh hoặc vì tai nạn, bịnh hoạn.

5. Hoạn nạn trước một biến cố nào đó trong cuộc đời

Đứng trước sự thất bại, trước hoạn nạn, con người có thể có thái độ, có triết lý về cuộc đời khác nhau:

1. Chấp nhận: con người cho rằng tại số trời, tại định mệnh đã an bài: “Học tài thi phận”, “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

2. Coi như một bài học kinh nghiệm: con người cho rằng thất bại là một kinh nghiệm sống có ý nghĩa nhờ đó mình có thể vươn lên sự thất bại để đi đến sự thành công trong tương lai. Người quân nhân thua trận có thể cho rằng: “can cường trong chiến bại”.

3. Không thể chịu đựng: con người đăm ra chán đời, thấy cuộc đời là phi lý. Do đó, con người hoặc phản kháng lại cuộc đời, hoặc đi tu, hoặc tự tử, hoặc rời khỏi quê hương đi tìm tự do v. v…

4. Đi tìm cái thành công trong sự thất bại: con người cho rằng ý nghĩa của cuộc đời không phải chỉ ở chỗ thành công hay thất bại mà ở nơi sự cố gắng, ở nơi nỗ lực phấn đấu và chiến đấu không ngừng: “Đừng lấy thành bại mà luận anh hùng”.

Các thí dụ trên cho thấy rằng triết lý là một thái độ sống gắn liền với con người, triết lý không là một ý niệm vượt khỏi con người. Còn triết học là một nhận thức về ý nghĩa của cuộc đời. Tuy nhiên ở nhiều nơi, triết lý và triết học được sử dụng đồng nghĩa, thí dụ như “triết lý Phật giáo = triết học Phật giáo” (Buddhist philosophy), triết lý giáo dục (philosophy of education) v .v.

Nghiên cứu triết học thì đòi hỏi sự học hỏi về các tư tưởng, các quan niệm với sự suy nghỉ hết sức cẩn thận và phán xét về các vấn đề phức tạp ấy. Chúng cần có một số hành trang, một số kiến thức căn bản để học hỏi các lập luận của các triết gia như tìm hiểu những định nghĩa về các từ ngữ mà các triết gia đã sử dụng, những lập luận của họ để bảo vệ quan điểm của họ, cùng với sự phê phán, về các lý luận của chính triết gia đó hoặc sự phê phán của các vị khác về các lý luận, các biện minh của các triết gia này.

(Xem thêm bài viết “Đạo Phật như là một triết học hay như là một tôn giáo của NVT)

3.2. Anh văn: thầy Hoàng Ngọc Thành dạy. Thầy tướng cao ráo, dạy rất tận tâm, lúc ấy thầy đã có bằng M.A. Sau này thầy được học bổng đi du học ở Hoa Kỳ, đạt được bằng Ph.D., về Sài Gòn thầy dạy ở ĐHSP Sài Gòn và ĐHVK Sài Gòn. Thầy đã đi định cư ở California. Thầy đã qua đời.

3.3. Pháp văn: thầy Huỳnh Văn Phước dạy. Lúc ấy thầy đã lớn tuổi. Thầy rất hiền, dạy rất hay, dễ hiểu, dễ nhớ.

3.4. 4. Sử Địa: thầy Lê Trọng Phỏng dạy. Thầy tốt nghiệp Khóa 1 ban Sử Địa ngành Huấn luyện giáo sư trung học đệ nhị cấp ở trường ĐHSP Sài Gòn. Thầy dáng người mảnh khảnh, nước da trắng rất đẹp trai, lời giảng nhỏ nhẹ. Thầy cho chép bài học, lời giảng về thế giới sử và địa lý thế giới rất sâu sắc. Thầy đi dạy cho đến khi về hưu.

3.5. Công dân: thầy Đổ Văn Dzỉnh dạy. Thầy đã dạy tụi tôi hồi ở lớp Đệ lục môn Pháp văn.

3.6. Toán: thầy Nguyễn Thông Minh dạy. Thầy còn là giáo sư chính thức ở trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn, thầy đã có bằng Tiến Sĩ Khoa học. Thầy soạn bài rất kỹ, rất dễ hiểu, chương trình toán học lớp Đệ nhất quá dài, nên tụi tôi ít có thì giờ nghỉ xả hơi ở trong lớp. Một hôm thầy cho làm bài tập toán trong lớp, bài này khó quá, cả lớp chú tâm vào việc tìm cách giải bài này, đang lúc lớp học im phăng phắc thì bạn Trần Đình Cát buộc miệng la lớn “nghĩ mãi không ra”, cả lớp cười rộ lên; thế là từ đó bạn Cát được lớp tôi đặt tên mới là “nghĩ mãi không ra”. Bạn Trần Đình Cát sau này là giáo sư toán học tại trường Petrus Ký. Lớp tôi có bạn Nguyễn Thuận Nhờ rất giỏi toán, Nhờ thi đậu vào trường ĐHSP Sài Gòn ban Toán, ngành huấn luyện giáo sư trung học đệ nhị cấp. Sau 1975, Nguyễn Thuận Nhờ là giáo viên toán (trước 1975 gọi là giáo sư) tại trường Chuyên Toán Lê Hồng Phong ( tên mới của trường Petrus Ký sau 1975) cho đến ngày nghĩ hưu. Năm 2000, bạn Nguyễn Thuận Nhờ có tặng tôi một quyển sách toán soạn cho chương trình Chuyên Toán ở Việt Nam do bạn và thầy Trần Thành Minh với một thầy khác cùng soạn.

Tôi và vài bạn có đến thăm thầy Nguyễn Thông Minh, nhà thầy ở Chợ-lớn.

3.7. Lý Hóa: không nhớ thầy nào dạy.

3.8. Vạn vật: thầy Lê Đình Hạnh dạy. Thấy có xuất bản quyển sách Vạn Vật 12 BCD, ngắn gọn, rất dễ hiểu, dễ nhớ, sách này bán chạy như tôm tươi. Thầy Hạnh định cư ở Canada.

3.9. hình như không có môn thể dục ở lớp 12.

 

III. Có nhiều vị giáo sư khác đã không có dạy tôi ở trường Petrus Ký, tôi xin kể vài thầy cô, hy vọng các bạn khác sẽ viết về các thầy cô đó:

pham-ngoc-danh
Thầy Phạm Ngoc Đảnh

1. Thầy Phạm Ngọc Đảnh dạy Triết học, học khoá I ban triết học tại ĐHSP Đà Lạt, cùng khóa với thầy Bùi Phong Quang. Sau khi đi du học ở Tây Đức về, thầy dạy môn tiếng Đức ở nhiều trường trung học ở Sài Gòn và ở trường ĐH Vạn Hạnh. Cuối năm 1982, thầy đi định cư ở Tây Đức, thầy làm cho cơ quan xã hôi từ thiện, thầy đã giúp đỡ nhiều người Việt Nam mới tới. Thầy đã qua đời tại Úc-đại -lợi trong chuyến viếng người con làm việc tại đây. Sau khi thầy qua đời, em Phong, con trai thầy Đảnh, cũng là cựu học sanh Petrus Ký, đã thành lập Quỹ từ thiện Phạm Ngọc Đảnh nhằm giúp đỡ các thầy cô của trường Petrus Ký gặp khó khăn.

dao-kim-phung
Cô Đào Kim Phụng

2. Cô Đào Kim Phụng dạy Anh văn, là hiền thê thứ nhứt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Cô nguyên là Huynh trưởng của Gia Đình Phật tử ở chùa Xá Lợi Sài Gòn. Trước 1975, cô đã làm việc và dạy Anh văn ở Cơ quan USAID. Sau 1975, cô định cư ở Hoa Kỳ, đi học và làm kỹ sư điện toán cho đến về hưu. Cô là người rất tốt, hay giúp đỡ nhiều người gặp khó khăn.

le-xuan-khoa3. Thầy Lê Xuân Khoa đã dạy tôi môn Triết học Ấn độ trong chứng chỉ Triết học Ấn độ ở trường ĐHVK Sài Gòn niên khóa 1968-1969. Trước 1975, có lúc thầy là Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn. Thầy là một trong Ngũ hổ bình Nam của trường Petrus Ký.

tran-thanh-minh
Thầy Trần Thành Minh

4. Thầy Trần Thành Minh sanh ngày 10 tháng 11 năm 1937 tại Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang vào lúc bấy giờ. Thầy là cựu học sinh trường Petrus Ký. Năm 1956-1957, thầy học ở trường Cao đẳng Sư phạm Sài Gòn, ban Toán. Sau khi tốt nghiệp thầy dạy ở trường Petrus Ký. Thầy tiếp tục học và đậu bằng Cử nhân Giáo khoa Toán ở ĐHKH Sài Gòn. Thầy dạy môn Toán ở trường Petrus Ký từ năm-1957 cho đến ngày về hưu, 1998.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, trường Petrus Ký bị đổi tên là trường Trung Học Phổ Thông Lê Hồng Phong, và năm 1990 được cải đổi là trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong.

Trong suốt 41 năm làm nghề gõ đầu trẻ, Thầy Minh lúc nào cũng chú tâm vào việc giảng dạy và bỏ nhiều thời giờ soạn các bộ sách giáo khoa có giá trị nhằm giúp học sinh trau dồi môn Toán với những kỹ thuật, phương pháp giải các bài tập toán từ dể đến khó.

* Trước năm 1975, Thầy đã xuất bản các quyển sách giáo khoa toán như sau:

– Nhà xuất bản Trường Thi đã xuất bản: bộ ba Phan Lưu Biên – Lê Văn Đặng – Trần Thành Minh viết 3 cuốn sách: 1. Tân Toán học – Đại số 12B, 2. Giải tích học 12B, 3.Toán giải tích 12B.

– Nhà xuất bản Trí Đăng đã xuất bản: bộ ba Phan Lưu Biên – Lê Văn Đặng – Trần Thành Minh viết 11 cuốn sách: 1. Giải tích – Điểm động học 12B, 2. Hình học & hình học giải tích 12B, 3. Conic & phép biến đổi điểm 12B, 4. Phép giải toán & trắc nghiệm giải tích – điểm động 12B, 5. Bài tập hình học – giải tích 12B, 6. Đại số học 12A, 7. Phương pháp giải toán hình học 11AB, 8. Phương pháp giải toán Đại số 11AB, 9. Điểm động học 12A, 10. Xác Xuất thống kê 12A, 11. Câu hỏi giáo khoa Tân Toán học 12B.

* Sau năm 1975, GS Lê Văn Đặng định cư tại Seattle, Mỹ nên năm 1992 Thầy Minh lập bộ ba mới là Phan Lưu Biên – Võ Anh Dũng – Trần Thành Minh viết 7 cuốn sách giải toán (vì Bộ Giáo Dục XHCN không cho giáo chức viết sách giáo khoa) cho nhà xuất bản Sở Giáo Dục ở Sài Gòn xuất bản: 1. Phương pháp giải toán giải tích-12, 2. Phương pháp giải toán Đại số & Giải tích 11, 3. Phương pháp giải toán hình học không gian 11, 4. Phương pháp giải toán Lượng giác 10, 5. Phương pháp giải toán Đại số 10, 6. Phương pháp giải toán Hình học 10, 7. Phương pháp giải toán Hình học giải tích 12.

Năm 1990 khi trường LHP trở thành trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong, Thầy Trần Thành Minh đã làm chủ biên bộ sách Toán Chuyên Cấp 3 cùng với sự cộng tác với nhiều Giáo Viên trường THPT Chuyên LHP dành cho học sinh giỏi do nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản. Bộ sách này rất có giá trị và rất nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay chẳng khác nào bộ sách toán của Lebossé và Hemery khi tôi còn học ở các lớp trung học đệ nhị cấp. Bộ sách này gồm có 10 cuốn từ lớp 10, 11 đến 12:

1. Giải toán đại số 10

2. Giải toán hình học 10

3. Giải toán lượng giác 10

4. Giải toán đại số và giải tích 11

5. Giải toán hình học 11

6. Giải toán khảo sát hàm số 12

7. Giải toán hình học 12

8. Giải toán tích phân và giải tích tổ hơp 12

9. Giải toán lượng giác ôn thi đại học

10. Giải toán đại số sơ cấp

Hồi năm 2000, GS Nguyễn Thuận Nhờ gởi tặng tôi quyển “Giải Toán Tích Phân- Giải Tích Tổng Hợp- 12 Chuyên”, tái bản lần thứ 6, do Thầy TT Minh làm chủ biên, biên soạn bởi Nguyễn Thuận Nhờ và Nguyễn Anh Trường.

– Sau khi nghỉ hưu Thầy Minh lập một bộ ba mới: Phan Lưu Biên – Trần Thành Minh – Trần Quang Nghĩa cùng biên soạn các cuốn sách luyện thi Đại học bằng các câu hỏi trắc nghiệm với nhiều chọn lựa cho nhà xuất bản Giáo Dục như sau:

1. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm toán 8.

2. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm toán 9.

3. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm Đại số 10.

4. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm Hình học 10.

5 .Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm Đại số – Giải tích 11.

6. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm Giải tích 12.

7. Giải toán & câu hỏi trắc nghiệm Hình học 12.

8. 500 câu hỏi trắc nghiệm luyện thi Đại học.

9. Dịch bộ sách tuyển chọn đề thi trắc nghiệm học sinh giỏi Toán toàn nước Mỹ: – Tập I (64-72), Tập II (72-82), Tập III (83- 96)

Thầy Trần Thành Minh tánh tình hiền từ, phóng khoáng; các cựu giáo sư, cựu học sinh Petrus Ký ở hải ngoại cũng như ở trong nước đều kính mến thầy, thầy là mối giây liên lạc của chúng ta.

 

IV. Kết Luận:

Tôi xin tri ơn các thầy cô đã dạy chúng tôi thành nhân.

Kính chúc các Thầy Cô đã qua đời được tiêu diêu nơi miền cực lạc.

Kính chúc các thầy cô đang khỏe mạnh được nhiều sức khỏe hơn, trường thọ và nhiều hạnh phúc.

Trải qua 90 năm lịch sử, trường Petrus Ký, các thầy cô Petrus Ký, các cựu học sinh Petrus Ký, đã trải qua nhiều đổi thay cùng với những thay đổi của lịch sử. Nhưng truyền thống hiếu học, kỹ luật và trật tự của trường vẫn không thay đổi. Nhờ vậy mà rất nhiều cựu học sinh trường Trung học Petrus Ký và sau này cựu học sinh trường Phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong đã đạt được thành công vượt bực ở trong nước, và ở hải ngoại nữa:

“Đem chuông đi đánh xứ người,

Chẳng kêu cũng đánh vài hồi lấy danh”

Toronto, ngày 26 tháng 03 năm 2017

Nguyễn Vĩnh Thượng


Cùng một tác giả:

– GS TS Nguyễn Thanh Liêm, Nhà Văn Hóa Giáo Dục Nhân Bản và Dân Tộc, 2010.

– Thầy Tạ Ký, Nhà Giáo và Nhà Thơ, 2015.

– Thầy Trần Thành Minh, Một Nhà Giáo Tận Tụy, 2015.

– GS TS Trần Huệ, Thầy Tôi, 2016.


[1] Chủ nghĩa khắc kỷ (stoicim) là một trường phái triết học Hellenis (Hellenistic philosophy) được thành lập ở Hy Lạp vào thế kỷ thứ 3 tr. CN, được phát triển mạnh mẽ ở La Mã và Hy Lạp cho đến thế kỷ thứ 3 sau CN. Chủ nghĩa khắc kỷ quan niệm đạo đức của cá nhân được hình thành bởi một hệ thống luận lý và cái nhìn về thế giới thiên nhiên. Do đó, con người như là một sinh vật xã hội có con đường đi đến hạnh phúc là chấp nhận những gì xảy ra trong cuộc đời, và chế ngự những tham luyến dục lạc cũng như chế ngự những khổ đau, những đau đớn, và vượt qua những âu lo của cuộc đời bằng cách dùng trí tuệ của mình để thấu hiểu thế giới ở chung quanh chúng ta. Chúng ta hãy thực hiện những hành vi của mình bằng cách cùng hợp tác với người khác và đối xử với họ một cách công bằng

[2] nhân linh ư vạn vật, có nghĩa là con người linh thiêng hơn hết mọi loài vật, con người là nền tảng cho mọi sự trong vũ trụ.