Kính dâng Hương Hồn Thầy Trần Đại Lộc với tất cả lòng biết ơn của đứa học trò.
Cùng tất cả các Thầy Cô, từ trường làng đến sau đại học của tôi, trong hay ngoài nước, còn hay mất, đã đào tạo cho tôi nên người.

Năm 1963, tôi lên lớp nhứt A, học tiểu học Phú Thọ với Cô Hạnh. Nhà của cô và nhà tôi chỉ cách nhau một hẻm nhỏ.

Cô Hạnh luôn khuyến khích, như Thầy Sáu dạy kèm luyện thi đệ thất, rằng tôi phải cố gắng đậu vô Petrus Ký. Lúc đó với tôi, cũng như gia đình, là mơ ước thật lớn. Xa và rất xa, không biết đường đi có tới hay không ?

Tôi đi thi ở trường tiểu học Nguyễn Tri Phương. Trong lúc chờ đợi ứng thí, tự nhiên tôi đâm lo sợ, bèn hỏi má tôi: “Nếu rớt làm sao ?”. Má tôi, có lẽ còn lo lắng hơn tôi,  nhưng vẫn cố nén cảm xúc, bình tĩnh trả lời “Thì con thi lại sang năm”.

Tôi nhớ lại câu nói của bác Tư Tâm, Hiệu trưởng trường Cần Tiến, khi má tôi muốn ghi tên tôi “vô ăn roi mây” của bác: “Cô đem nó dìa. Sang năm tui cho nó vô lớp tiếp liên!”.
Má tôi thất vọng ra mặt. Còn tôi, vô tư, an nhiên tự tại, không gì khoái bằng né được cây roi mây của bác, bởi vì khi “tôi thấy xe bác chỉ muốn kêu xe khác”. 

Năm đó tôi 11 tuổi.  Một con gà non lần đầu ra trường đá, chưn cẳng hai hàng trơn, không vảy nào xuất sắc, án thiên hay phủ địa. Chưa kinh nghiệm chiến trường hay tình trường. Hoài nghi tài nghệ, ngơ ngác, rút đầu, rút cánh như gà tử mị. Tự hỏi, chịu đòn bao nhiêu hiệp, châu đầu nhịn miệng, chịu đời sao thấu, chắc gì qua được vòng giữ xe?

Thế mà tôi “vô mánh lớn”, đẹp như giấc mộng vàng ngày xuân bên ly rượu mừng. Hạng 262, không quá tệ. Dòm lên, không bằng ai. Dòm xuống, “bự như người Quang Trung” muốn cầu hôn công chúa Tàu để đòi lưỡng Quảng.

Cửa Khổng, sân trường Trương Vĩnh Ký từ nay được “nhập triều” cửa sau, ung dung khoái chí đọc thơ rằng: tiếng đầu lòng, con nói méc -xì Ông ! 

Tưởng nên nhắc lại cho đúng chánh sử thiên niên giám 1964 năm sau Công Nguyên, tính theo lịch trời,  trăng, mây, nước, Tam Tông Miếu hay Maya tuốt luốt bên Mễ Tây Cơ, khóa thi có hai thủ khoa cầm đèn chạy trước xe là Nguyễn Viết Tuấn vô  thất 1, Nguyễn văn Chương sít -đao thất 2.

Ngày tựu trường, chúng hơn 400 tên, chia thành 4 lớp: Pháp văn học văn hóa Pháp, và 4 lớp theo văn minh Anh. Trong đồng phục đại lễ, quần trắng áo trắng còn trinh nguyên mùi long nảo, chúng tôi xếp hàng ngay ngắn, nghiêm trang ở cổng sau, dọc theo hàng cây sao, kế bên nhà xe dành cho học sinh, chờ đợi các Thầy Chương,  Khiêm gọi tên và dẫn lên lớp.

Tôi ngồi lớp thất 2,  dãy mới xây,  đối diện với hành lang danh dự. Giáo sư hướng dẫn là Thầy Thầm Túc giới thiệu chúng tôi với thằng Pi-E và con Hế-Lèn-Ne, mát-cuy-lanh và phê- mi -nanh, két -cờ -xe, xe nào cũng là xe vv và vv.

Cô Hà dạy công dân, hiền như ma sơ, trẻ đẹp lịch lãm, nhu mì như con gái Cần Thơ. Trắng hơn gạo, trong hơn pha lê.

Cô Nguyễn Thị Sâm dạy sử địa, luôn đeo kiếng cận pha màu thật tối, dạy chúng tôi về đất đá là môn học quá mới lạ, như phún thạch, đá hoa cương khô khan, khó nuốt.

Thầy Trần Công Hầu dạy cầm cọ lông, tập pha màu xanh đỏ, đo tỉ lệ xa gần để canh cho trúng tam giác đều. Thầy còn rất trẻ, dáng nghệ sĩ mái tóc bồng bềnh, nhẹ nhàng, thời thượng lúc đó.

Anh Dương Xuân Phúc được bầu làm con chim cu đầu đàn. Anh người gốc Phong Mỹ, Cao Lãnh, tánh tình dễ chịu, xuề xòa, bình dị như sông nước quê hương anh. 

Phó trưởng lớp là Trần Công Bình rất giỏi võ nghệ, rượt gấu như rượt gà bên cổng xe lửa số 6,  đường nữ tướng Bùi thị Xuân.

Trưởng ban trật tự là Nguyễn Thanh Lâm, viết văn rất giỏi. Đã từng ăn nhuận bút của báo Chính Luận, đãi anh em uống cà phê bên quán “Con Mùi”.  Gốc dân An Giang mắm thái nổi tiếng như Châu Đốc, ăn không đủ cơm, ốc gạo thơm phức mùi bùn, lể chắm với nước mắm gừng pha theo kiểu miền Tây. Ngon nhức nách !

Tôi dành chỗ sau đây nói nhiều về một vị Thầy đầu tiên dạy chúng tôi văn chương nước Việt. Đó là Thầy Trần Đại Lộc.

Thầy có phong cách, dáng dấp của một trí thức trẻ, một đàn anh đầu đàn của hướng đạo sinh. Điển trai, ăn nói chậm rãi, từ tốn, mạch lạc khi trình bày. 

Trong giờ đầu tiên với Thầy, tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng, gần gũi, dưới ngôi trường danh tiếng, đầy áp lực đè nặng bởi kỷ luật nghiêm minh.

Thầy giảng cho chúng tôi nghe về ca dao, tục ngữ, và khi có bạn hỏi làm thế nào để viết văn hay, Thầy chỉ trả lời gọn nên  viết câu ngắn, chấm phết rõ ràng và nhứt là phải viết thật theo cảm xúc cuả mình.

Một kỷ niệm khó quên với Thầy Trần Đại Lộc khi cả lớp thất 2 được chia thành nhiều nhóm và chọn một cuốn sách để làm trần thuyết.

Tôi được chọn làm trưởng nhóm, trình bày cuốn “Hà Nội Băm Sáu Phố Phường” của nhà văn Thạch Lam trong Tự Lực Văn Đoàn.

Tôi phải bỏ ra hơn một ngày để đọc ngấu nghiến quyển sách đó. Tôi say mê lối hành văn ngắn gọn, câu cú chặt chẽ của Thạch Lam, và hơn thế nữa, cũng là một dịp để tìm hiểu thêm về “Tràng An, em ơi Hà Nội phố”!

Sáu mươi năm qua, những đứa con nít ngày xưa bước vào ngôi trường vang danh của miền Nam, nơi đã đào tạo cho hai bờ ý thức hệ, thật nhiều nhơn tài phục vụ đất nước,  qua tôi luyện bằng kỷ luật nghiêm minh và nhồi nặn từ truyền dạy của Thầy Cô, đã ở tuổi xưa nay hiếm.

Đôi dòng này, như lòng biết ơn “tôn sư trọng đạo”,  viết cho bạn đồng môn còn hay đã “lên đường” về với thiên thu, và cũng viết cho chính người viết, xin phép lặp lại lời của một SH (MTT): “Một ngày Petrus Ký, một đời Trương Vĩnh Ký”.

Ước chi được tắm hai lần trong một dòng sông?

Lâm Thụy Phong
(Riêng tặng Võ Phi Hùng cho tôi cảm hứng ghi lại hành trình cá nhơn vào Trường Tôi )