Thay Do Quang Vinh cuu GS Viet van Petrus Ky

Thầy Đỗ Quang Vinh khi thầy ghé San Jose năm 2003

Thầy Đỗ Quang Vinh là một thi sĩ tài hoa. Năm nào thầy Vinh cũng thảo các bài thơ Xuân gởi tặng bạn bè và đám học trò Petrus Ký, trong ấy có tôi. Tôi thích nhất là các bài thơ thầy viết dùng thể song thất lục bác liên hoàn đọc thuận nghịch sao cũng hay. Đây là bài Xuân Niệm mà thầy Vinh đã viết mừng Tân Niên 2007:

(đọc xuôi)
Hương Xuân ngát thơm đời tươi thắm
Đất với trời say đắm yêu thương
Phường thôn gội nắng triều dương
Trời mù sương khói,
Niệm chuông dâng lời

(đọc ngược)
Thương yêu đắm say trời với đất
Thắm tươi đời thơm ngát xuân hương
Dương triều nắng gọi thôn phường
Lời dâng chuông niệm,
Khói hương mù trời

Thầy Đỗ Quang Vinh là tác giả quyển sách “Tiếng Việt Tuyệt Vời”. Vài năm trước, tôi và những thầy cô trong ban Tu Thư của Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang tại San Jose đã dựa một phần vào quyển sách này của thầy để soạn bộ sách Việt Ngữ để dạy tiếng Việt cho các em bé tại San Jose. Lúc ấy, tôi không biết thầy Vinh là cựu Giáo Sư Việt Văn của Petrus Ký. Cho đến khi đọc bài của anh Nguyễn văn Ưu (Nguyên Nguyên) viết trên Website Petrus Ký Úc Đại Lợi giới thiệu về thầy, tôi vội vàng viết E-mail cho Trần Hữu Nhứt, ông bạn chủ nhà sách Vietnam Bookstore tại Toronto, để hỏi thăm về thầy vì qua bài viết của anh Ưu, tôi biết thầy hiện định cư tại Toronto.

Nhứt viết trả lời:

Mon, 25 Aug 2003

Thầy Vinh ở gần chỗ Nhứt lắm. Thầy rất có lòng, viết sách tiếng Việt cho các em, các dịp trao phần thưởng hoặc khuyến học, Nhứt đều có dịp gặp thầy. Thầy cũng thường ghé hiệu sách lắm, mà thầy chỉ cho phép Nhứt gọi thầy bằng chú thôi, có gì lạ không bạn?

Giờ nghĩ lại tôi là học trò dùng sách của thầy để dạy lại cho bọn trẻ, đúng là có duyên.

Nhứt cho tôi số điện thoại nhà thầy tại Toronto. Tôi gọi thăm không gặp thầy, nhưng lại may mắn được hầu chuyện với cô. Cô cho biết thầy đang ghé thăm con của thầy cô tại San Jose và cô cho tôi số điện thoại tại San Jose để gọi. Tôi vội vàng gọi thăm thầy nhưng người trong nhà cho biết thầy vừa đi ra ngoài nên tôi để lại số điện thoại và lời nhắn cho thầy. Thầy Vinh gọi thăm tôi trong office đúng giờ ăn trưa. Thầy nói:

-Thầy rất vui khi nghe lời nhắn em để lại.

Mặc dầu tôi đã không may mắn được học với thầy tại Petrus Ký, hai thầy trò đã tâm sự hơn tiếng đồng hồ từ những kỷ niệm tại Petrus Ký, những thay đổi trong đời sống của thầy và gia đình sau 4/75 và những hoạt động văn hóa, giáo dục thầy đã đóng góp tại hải ngoại. Tôi rất cảm phục thầy vẫn cặm cụi viết sách, lo cho nền giáo dục của các thế hệ trẻ Việt Nam và thầy rất thích thú khi biết tôi đã giúp ban Tu Thư của Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang. Sau khi định cư tại Toronto, thầy vẫn tiếp tục quảng bá nền Việt Ngữ tại hải ngoại qua các buổi thuyết trình những đề tài giáo dục nơi có nhiều người Việt Nam sinh sống. Thầy đã ghé thăm và trần thuyết tại Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang và East San José School District vài năm trước khi tôi gia nhập ban Tu Thư vì thế tôi đã không có dịp gặp thầy. Gần cuối câu chuyện, thầy cho tôi cảm nghĩ riêng về sự biến dạng và mất dần của ngôn ngữ Việt Nam tại hải ngoại. Số độc giả của những tờ báo hay khán thính giả của các đài phát thanh và truyền hình Việt Nam tại hải ngoại là những người cao hay trung niên và mỗi ngày một ít đi.

Thầy nhận xét rất sâu sắc về trình độ của những thầy cô dạy Việt Ngữ tại các trung tâm Việt Ngữ tại Hoa Kỳ và Gia Nã Đại. Mặc dầu các thầy cô này có rất nhiều thiện chí và khả năng, kiến thức cũng như học vấn, tuy nhiên đáng tiếc ít người có khả năng hay được huấn luyện sư phạm tại Hoa Kỳ (tôi là một trong những người đó) nên đôi khi những thầy cô này dùng lại những phương pháp dạy học hay đã học bên nhà và không thích ứng được với nhu cầu giáo dục hiện đại tại Hoa Kỳ. Thầy phì cười khi nghe tôi nói phụ viết sách tiếng Việt mà tôi lộn dấu hỏi ngã tùm lum. Tôi tình thật với thầy:

-Em phải dùng tự điển. Và khi em đọc chính tả cho bọn học trò tại Văn Lang, đến dấu ngã là em đọc nặng và kéo dài âm hơn để cho bọn học trò nhận ra.

Thầy Vinh ngồi phân tích và chỉ dạy cho tôi những luật lệ bỏ dấu hỏi ngã, nhưng đâu lại vào đấy. Tôi vẫn thích thú khám phá ra một vài bạn bè tôi, dân Nam Kỳ, đôi khi cũng viết vài chữ sai hỏi ngã để cảm thấy không xấu hổ và có cảm tưởng thiểu số. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nghĩ là tôi có thần may mắn phù trợ vì khả năng Việt Ngữ của tôi yếu kém như thế không biết sao mà tôi đã học và được ra trường?

Trong câu chuyện hôm ấy, thầy hỏi tôi có biết một số học trò Petrus Ký đã liên lạc với thầy trước tôi như Trần Thạnh, (lớp 68 – 75. Thạnh là em út của Trần Tam, bạn học 7 năm của tôi tại Petrus Ký. Hai anh em Tam, Thạnh đều là giáo sư tại Đại Học New South Wales), Nguyễn văn Sơn (Sơn IBM) và Mohamed Meidine (lớp 67 – 74) và dĩ nhiên Trần Hữu Nhứt.

Ngày hôm sau, thầy viết E-mail thăm tôi:

Tue, 26 Aug 2003

Anh S. mến,

Cảm ơn anh đã cho tôi những giây phút thân tình. Tôi còn ở đây qua tháng 9. Tôi muốn ghé thăm anh chị và cháu được không? Khi nào thì thuận tiện? Thân mến, Vinh.

Tôi đâu dám để thầy đổ đường xa từ San José đi thăm tôi nên tôi dàn xếp ghé thăm thầy vài hôm sau đó. Và trong dịp viếng thăm thầy tại San José, thầy đã kể cho tôi nghe….

Sau khi ra trường, nhiệm sở đầu tiên của thầy là Trung Học Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá (1954 – 1957). Đầu năm học 1958 thì thầy được thuyên chuyển về Petrus Ký dạy Sử Địa và Việt Văn và năm sau thì thầy chuyên trách dạy Việt Văn cho các lớp Đệ Tứ. Đến 1961- 1962, thầy đổi qua dạy Pháp văn lớp Đệ Ngũ, rồi bị động viên. Thầy trở về dạy Việt Văn tại trường vào năm 1968 và năm 1972, từ giã Petrus Ký sang làm Giám Đốc SàiGòn Ngân Hàng.

Thầy cùng gia đình vượt biển rời Việt Nam, tạm trú một thời gian ngắn tại Thái Lan và sau đó định cư tại Toronto vào đầu năm 1992. Dù gần 60 tuổi, thầy đã đi học lại, tốt nghiệp Bachelor of Education và Ontario Teacher’s Certificate, major Math & French. Sau đó thầy đi dạy và cộng tác với chương trình Ngôn Ngữ Quốc Tế của bộ Giáo Dục của thành phố Toronto. Thầy cũng đã dạy Việt Ngữ tại trường Language International Toronto. Thầy về hưu năm 1998. Hiện thời thầy tiêu khiển, luyện Taichi Chuan và múa kiếm, viết sách báo. Thầy là hội viên và phó chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Canada.

Lúc ấy có người quen của tôi cho biết San José State University đang cần giáo sư dạy Vietnamese American Studies, tôi hỏi thầy có muốn về định cư tại San José vì thầy đang ghé chơi nhà cô Lan (con gái của thầy, Gia Long lớp 1967 – 74) lúc ấy. Thầy tâm sự:

-Thầy và cô ở Toronto cũng quen rồi.

Thầy cho biết có 7 người con, đa số đều làm việc về điện toán hay kỹ sư điện, và các anh chị sống rải rác tại California, Pennsylvania, Texas, nên thầy đi thăm con, thăm cháu khi có cơ hội thuận tiện, nhưng thầy cô còn vài người con tại Toronto nên chắc khó đi và sau đó, tôi không biết thầy có nộp đơn đi dạy tại San José State University hay không?

Tôi có hai chuyện đáng nhớ sau khi gặp lại thầy Vinh.

1. Sau lần gặp thầy tại San José, khi thầy Vinh về lại Toronto, thầy gởi tặng tôi cuốn sách “Tiếng Việt Tuyệt Vời” với chữ ký ghi tặng sách cho Nguyễn Thế S. Tôi hơi ngạc nhiên khi nhận sách, nhưng không nói gì, nhưng vài hôm sau thầy nhớ ra rồi viết cho tôi.

Fri, 12 Sep 2003

Anh S. mến,

Xin lỗi anh tôi đã viết nhầm tên anh là Nguyễn Thế S. trong thủ bút đề tặng anh cuốn sách “Tiếng Việt Tuyệt Vời”. Mãi tôi mới nhớ ra là tôi nhầm tên khi viết để tặng sách. Đây là cái mà người Pháp gọi là “Association des Idées.” Nguyên do là vì trước khi gặp anh, tôi có đi thăm người thầy cũ tại Stockton. Ông cho tôi băng nhạc của Thế S. là cháu của ông, rồi về nhà nghe nhạc Thế S., thế là trong đầu óc cứ nhớ về thầy tôi và Thế S., đến khi gặp anh, viết trên sách tặng cho Thế S., mặc dầu trong sổ địa chỉ tôi vẫn ghi là NS.

Thực ra trong số học trò cũ Petrus Ký, ngoài anh ra, tôi cũng biết Nguyễn văn S. làm tại IBM. Xin lỗi anh nhé. Nhờ anh sửa lại giùm. Cảm ơn anh nhiều. Thân mến, Vinh.

2. Một khoảng thời gian sau khi tôi viếng thăm thầy, tôi đã gởi E-mail cho thầy Vinh tại Toronto để hỏi thầy về thầy Hiệu Trưởng Trần văn Thử và xin thầy viết vài dòng kỷ niệm. Vì tôi đã không liên lạc thăm thầy được thường xuyên, tôi hỏi thầy còn nhớ tôi, thầy Vinh trả lời:

Mon, 6 Nov 2006

Anh S mến:

Nhớ chứ! Sao mà quên được? Tôi vẫn thường hỏi thăm về anh qua anh Quốc. Thế nào anh đã lập gia đình lại chưa?

Và thầy tiếp:

Khoảng năm 2003, một cựu học sinh Petrus Ký, qua Internet có phone cho tôi ở Canada, khi ấy tôi đang ở San Jose, anh ấy có tìm đến thăm tại nhà em Đẫu ở San José, chụp hình sau đó có đưa lên Web bài nói chuyện kèm hình ảnh, tôi quên mất Web này rồi, chỉ còn giữ được địa chỉ E-mail của anh ấy sau đây: S…@yahoo.com.

Tôi biết thầy lại nhầm tôi với ai rồi thì liền sau đấy thầy E-mail đính chính:

Mon, 6 Nov 2006

Anh S. mến,

Có hai anh cùng tên, khác tên lót. Tôi xin lỗi khi viết đã vô ý không nhìn địa chỉ người gởi vì thế lẫn lộn anh với anh Nguyễn văn S. cho nên trong bài viết có nhắc về anh ghé thăm tại San José và hỏi thăm anh đã lập gia đình lại chưa?

Vậy là từ đây, tôi phải liên lạc thăm thầy thường xuyên để thầy không quên tên. Hú vía vì bà xã tôi mà đọc thư thầy viết – hỏi tôi đã lập gia đình lại chưa – thì chắc tôi lại chèo queo một mình.

Trần Thạnh, em trai của Trần Tam, hiện đang cư ngụ tại Sydney, khi tình cờ đọc bài viết về thầy Vinh đã cho thêm cảm nghĩ về thầy:

Anh S.,

Hơi bất ngờ khi nhận được bài viết của anh về Thầy Vinh. Em học Quốc Văn với Thầy năm Đệ Tứ niên khóa 1971 – 1972. Thầy là giáo sư Quốc Văn hay nhất mà em được học trong suốt 7 năm ở Petrus Ký. Thầy có một phong cách giảng bài rất đặc biệt. Thầy vào lớp chỉ cầm trên tay vài cục phấn trắng và màu, không sách vở hay tài liệu chi hết. Thầy mở đầu buổi học đọc bài (văn hay thơ) cho học trò chép. Xong rồi Thầy giảng say sưa và hứng thú, thường dùng hình vẽ để minh họa. Một tâm hồn văn chương với một đầu óc logic toán học nên lý luận thường sắc bén, và lắm khi hình vẽ lại là những biểu đồ toán học. Sau đó, Thầy đọc lại bài bình giảng cho học trò ghi chép. Ứng khẩu, nhưng lời văn rất trau chuốt, bóng bẩy, hùng hồn, với tất cả tâm huyết của một người thầy.

Bây giờ đã hơn 35 năm, nhưng mỗi lần đám bạn cũ Petrus Ký của em họp lại tụi em đều nhắc đến Thầy với một sự kính phục và thương mến, kính phục nhất trong số các thầy cô mà tụi em được học ở Petrus Ký.

Thầy Đỗ Quang Vinh chụp chung với lớp của Trần Thạnh [Nguồn: http://petrusky68-75.tripod.com]

Mới đây tụi em qua e-mail lại cãi nhau về những bài thơ học ở trung học, trong đó có bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ. Không ai chịu ai vì lâu quá cũng quên nhiều rồi. Thế là đám bạn em nhờ em viết thư hỏi Thầy để xin ý kiến chung quyết. Thầy lại viết thư giảng giải cho tụi em, vẫn những lời giải thích mạch lạc, rõ ràng với một văn phong hùng hồn như thuở xưa.

Em có đọc quyển “Bút Thuật của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh” của Thầy. Rất đặc sắc. Em có hứa với Thầy sẽ viết thư bày tỏ ý kiến của em, nhưng chưa làm được (1). Phần vì bận công việc quá. Nhưng phần lớn là vì ý tưởng chưa được chín muồi để có thể viết ra được. Đành thất hẹn với Thầy. Em mong có ngày làm được việc này. Đó là vài kỷ niệm của em với Thầy muốn chia sẻ cùng anh.

Thầy Vinh đang giảng bài [Nguồn: petrusky68-75.tripod.com]

Thạnh ơi, cảm ơn em đã chia sẻ kỷ niệm về thầy Vinh. Anh em mình là dân ban B mà các thầy cô mình thương mến lại dạy mình Việt Ngữ. Cho đến bây giờ mặc dầu dùng ngoại ngữ có tiện dụng hơn, ít khi anh đọc văn chương xứ người mà anh có cái rung động khi cảm nhận cái đẹp của văn chương Việt Nam. Em chưa ngồi xuống viết là không những em lỗi hẹn với thầy Vinh, mà còn với anh, bạn bè em, và nhất là với chính em đấy. Anh gởi cho em bài Kẻ Sĩ để em nhớ về thầy Vinh, “giáo sư Quốc Văn hay nhất mà em được học trong suốt 7 năm ở Petrus Ký.” Anh biết thầy sẽ rất vui khi đọc những dòng cảm nhận của em.

Kẻ Sĩ

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí.
Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị,
Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường.
Khí hạo nhiên chí đại, chí cương,
So chính khí đã đầy trong trời đất.
Lúc vi ngộ hội tàng nơi bồng tất,
Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn.
Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang, Văn,
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.
Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí,
Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên.
Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
Đem quách cả sở tồn làm sở dụng.
Trong lang miếu, ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.
Làm sao cho bách thế lưu phương,
Trước là sĩ sau là khanh tướng.
Kinh luân khởi tâm thượng,
Bình giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi gian giai phận sự,
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.
Nhà nước yên mà sĩ được thung dung,
Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch.
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch,
Tiều dao nơi hàn cốc, thanh sơn,
Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đờn,
Đồ thích chí chất đầy trong một túi.
Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi tới,
Gẫm việc đời mà ngẫm kẻ trọc thanh,
Này này sĩ mới hoàn danh.

Phụ chú: Thạnh đã hoàn thành bài viết “Bút Thuật của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh” với tâm hồn của một người học Toán và đã gởi tặng tôi. Vì bài đến trễ nên rất tiếc không thể đăng toàn bài, xin trích một đoạn:

Thầy cũ trường xưa

Niên khóa 1971–1972 tôi học Quốc văn (lớp 9) với Thầy Đỗ Quang Vinh. Gần 30 năm sau, khi đám bạn cùng lớp họp lại thành một nhóm trao đổi điện thư để ôn lại kỷ niệm của bảy năm học Petrus Ký, một trong những người thầy chúng tôi nhắc đến nhiều nhất là Thầy Vinh. Những giờ giảng văn của Thầy in sâu vào trí óc chúng tôi, tuy phần lớn chúng tôi sau năm đó đều theo học ban toán (ban B) và hiện nay không ai theo đuổi nghề viết văn.

Thầy Vinh trong lớp học

Thầy vào lớp chỉ với vài viên phấn trắng và màu. Với lối giảng đặc biệt, dùng nhiều hình vẽ và các biểu đồ để minh họa, khác hẳn những cách giảng thông thường của các thầy cô khác, Thầy đã thu hút tất cả chúng tôi.

Bài giảng của Thầy không bắt đầu bằng một đoạn văn trích hay một bài thơ, theo sau là xuất xứ, đại ý, bố cục, giải thích từ ngữ, giảng giải ý nghĩa của toàn bộ bài văn hay bài thơ, như hay thấy trong các sách giáo khoa ngày trước. Trái lại một đoạn văn dẫn nhập với những lời lẽ khi sắc sảo khi du dương mở đầu bài giảng, để tiếp theo là trích đoạn thơ văn, rồi đến những phân tích sâu sắc, lập luận chặt chẽ, với các phân đoạn A, B, C, I, II, III, 1), 2), 3), a), b), c)… theo thói quen của Thầy. Điểm đặc biệt là khi đọc cho chúng tôi chép những bài giảng đó, Thầy nhìn vào khoảng hư vô trước mặt như để tìm kiếm ngôn từ, và những câu văn cứ thế tuôn trào. Lúc đó tôi tự hỏi không biết Thầy đang ứng khẩu hay Thầy đã nhớ thuộc lòng bài giảng. Mới đây qua email tôi có hỏi Thầy về chuyện này thì được Thầy cho biết Thầy dựa vào dàn bài chi tiết đã ghi trên bảng rồi ứng khẩu thành bài luận văn cho chúng tôi chép. Tôi cất giữ quyển tập ghi những bài giảng của Thầy khá lâu, gần 20 năm, khi sang Úc phải để lại quê nhà. Sau này về tìm lại không thấy, thật đáng tiếc.

[Nguồn: Trần Thanh]

Mohamed Meidin từ Na Uy (Petrus Ký 67–74 và là học trò cũ của thầy) nhớ về thầy như sau:

Em cũng xin cảm ơn thầy Vinh, người mà Trần Trung Chánh (12B8) gọi là thầy của các vị thầy. Trong những bài quốc văn em còn nhớ rõ thì những bài của thầy giảng chiếm trọn gói, em cứ nghĩ vốn liếng văn chương của em là do chỉ mình thầy đào luyện? Ngay như bài Kẻ Sĩ, 30 năm sau em còn nhớ vanh vách, bạn bè ở đây phục sát ván, ngỡ là em giỏi văn chương. Thật ra là thầy giỏi.

Học không trả bài nhưng em thuộc lâu lâu và thuộc cả 30 năm sau. Phải nói em trân trọng và quí mến cái kho tàng văn chương Việt Nam thầy đã trao cho em. Em rất mong muốn được gặp thầy, cũng rất vui khi các bạn cùng trường được cái diễm phúc này.

Meidin.

Mohamed Meidin và Nguyễn Văn Sơn

Bài viết này được góp ý bởi các bạn Trần Hữu Nhứt, Trần Thanh, Nguyễn Văn Sơn, Mohamed Meidin và anh Nguyễn Văn Ưu.