Thành Gia Ðịnh Và Ðất Nam Kỳ Cuối Thế Kỷ XVIII
Nguyễn Duy Chính
Thành Gia Ðịnh được miêu tả khá kỹ càng bởi một thương nhân người Mỹ tên là John White đến Saigon năm 1819-20 nghĩa là không lâu sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước năm 1802. trong khoảng 20 năm từ 1802 đến 1820, thành Gia Ðịnh gần như giữ nguyên trạng nên chúng ta có thể tin rằng tài liệu khá chính xác. Sau đây là trích đoạn từ du ký A Voyage to Cochin China, do Oxford University Press in lại theo đúng bản in ở London năm 1824.
CHƯƠNG XIV
Ngày mồng 9 tháng 10, lúc 9 giờ sáng, chúng tôi lên tàu đi theo sông qua một đội thuyền đến vài trăm chiếc của các dân chài đậu ngay trước thị trấn. Khi đi ngang đây, mũi chúng tôi ngửi thấy cá mắm rất nặng mùi, mắt chúng tôi thấy từng đám người địa phương trong nhiều thuyền dọc theo bờ sông chạy ra xem “đờn ông hoa lang” hay “hoa lang bên tây” [người lạ từ Tây phương, tức người da trắng] còn tai thì nghe tiếng om sòm trầm trồ về vẻ dáng của chúng tôi.
Bọn chúng tôi bao gồm các cấp chỉ huy của cả hai thương thuyền và hai chàng trẻ tuổi, các ông Putnam và Bessel, là một thủy thủ của chiếc Marmion, nói tiếng Bồ Ðào Nha giỏi, ông già Gioachim, người hoa tiêu Bồ Ðào Nha, một viên chức hải quân và bốn viên quan khác, tất cả bọn đi cùng với ba thông ngôn triều đình bưng các món quà.
Chúng tôi xuống bến ngay tại chợ [bazar], có bán rất nhiều trái cây và các loại hàng hóa do đàn bà ngồi la liệt không hàng lối gì cả, ai nấy phụ trách những mặt hàng nhỏ bé riêng của mình. Một vài gian hàng có che bằng mái rạ, dựng trên mấy cái cọc tre để chắn cái nắng gay gắt cho người ngồi.
Từ chỗ này, chúng tôi đi theo một con đường khang trang, hai bên là nhà đủ kiểu, một số làm bằng gỗ mái ngói trông khá tươm tất, còn nhà khác hầu hết đơn giản hơn và không nhà nào có lầu. Một số nhà có sân đằng trước có rào vây quanh nhưng đều nằm sát mặt đường.
Chúng tôi đi dưới ánh nắng chói chang qua một con đường đủ thứ mùi hôi hám và tiếng của hàng ngàn con chó còm cõi sủa điếc cả tai trộn lẫn tiếng dân bản xứ rầm rĩ tò mò rất thô lỗ đến sờ mọi chỗ trên quần áo chúng tôi, sờ cả vào mặt, vào tay khiến chúng tôi phải luôn luôn lấy gậy gạt họ ra, hoặc dùng kiếm dấu trong gậy đâm những con chó nhưng cũng không làm cho những con còn lại khiếp sợ, và những mùi không thể định nghĩa bao phủ chung quanh, đó là những món quà họ tặng cho chúng tôi ngay trong ngày đầu tiên du ngoạn ở thành phố này.
Ở cuối con đường thì may thay quang cảnh dễ chịu hơn. Chúng tôi đi vào một lối ngoằn ngoèo có mái che, hai bên là tường gạch, phải đến chừng một phần tư dặm dốc thoai thoải dưới tàn cây xanh và khi đến đây thì những người dân đen kia mới không theo chúng tôi nữa. Chúng tôi tới một chiếc cầu đẹp làm bằng đá và đất bắc ngang một hào rộng và sâu, dẫn đến cửa đông nam của tòa thành, hay chính xác hơn, một quân trấn vì các bức tường đều bằng gạch và đất cao khoảng 6 mét, dày vô cùng, vây quanh một khu vực hình tứ giác mà mỗi bề đến hơn 1km.
Nơi đây viên tổng trấn[1] và các võ quan ở, ngoài ra có những doanh trại khang trang, tiện nghi đủ sức chứa đến năm vạn quân. Dinh vua ở nằm ở giữa thành trên một vùng đất xanh tươi tổng cộng chừng 8 mẫu chung quanh có hàng rào cao. Dinh thự đó hình chữ nhật, một bề 30, một bề 18 mét, xây chủ yếu bằng gạch với mái hiên có che mành, cao hơn mặt đất chừng 1.8 mét trên một nền gạch và đi lên bằng những bậc thang gỗ chắc chắn.
Mỗi bên bốn bề của cung điện cách chừng 30 mét ở đằng trước là một tháp canh hình vuông, cao khoảng 9 mét, bên trên treo một cái chuông lớn. Ở phía sau dinh cách chừng 45 thước là một cung điện cũng bề thế không kém, bao gồm những phòng cho các bà và những văn phòng đủ loại, mái lợp ngói tráng men, trang trì bằng hình rồng phượng và các quái thú chẳng khác gì ở Trung Hoa.
Những dinh thự này dùng làm hành cung cho nhà vua và hoàng tộc, nhưng chưa bao giờ ghé thăm Saigon từ sau cuộc nội chiến và vì thế từ đó đến nay không có ai ở. Tuy nhiên, nơi đây dùng để chứa các loại văn thư tình hạt và con dấu của nhà vua và tất cả những vấn đề quan trọng cần dùng đến nơi này được sử dụng. Khi đi ngang qua các dinh thự này, những viên quan tùy tòng, làm mẫu cho chúng tôi hạ thấp lọng xuống như một cách chào tòa nhà trống của “thiên tử”.
Chúng tôi đến ngay dinh quan tổng trấn và được đưa đến tòa nhà có lính canh ở đối diện, nơi mà người ta bảo rằng chúng tôi đợi ở đây để thông báo rằng khách đã tới và vì thế một viên quan và một thông ngôn sẽ được gửi đến. Chúng tôi không phải đợi lâu khi được cho biết rằng quan lớn ở trong dinh đã sẵn sàng tiếp.
Chúng tôi vào dinh qua một lối đi qua tường rào cao vây quanh dinh tổng trấn, ngay đằng trước, cách chừng 3 mét là một bức bình phong chữ nhật nhỏ nằm song song với lối vào rõ ràng được xây như một lá chắn. Sau khi đi qua bức bình phong thì chúng tôi vào một cái sân rộng và ngay trước mặt, cách lối vào chừng 45 mét là dinh quan tổng trấn, một căn nhà hình bốn cạnh to, mỗi chiều 24 mét, lợp ngói. Mái hiên đằng trước tiếp tục chìa ra một mái ngói đến 18 mét, có những cột gỗ tròn làm bằng gỗ hồng (rosewood) đánh bóng loáng. Hai bên hàng hiên phủ mành mành tre.
Ðặt thẳng góc với hai bên hông là ba bộ ngựa mỗi bên kê cao hơn nền đất chừng ba tấc. Mỗi bộ ngựa này dài khoảng 13.5 mét, rộng độ 1.2 mét, lắp bằng hai mảnh ván, mỗi mảnh dày đến hơn một tấc, ráp khít nhau và đánh bóng. Giữa hai dãy ngựa này, ở tận cùng của đại sảnh lại có một sàn gỗ kê cao lên chừng một thước, làm bằng một phiến gỗ độc nhất, một bề 1.8 mét, một bề 3 mét, dày đến 25 phân, vân gỗ và màu thì dường như là hoàng dương (boxwood), điều gây sự chú ý ngay lập tức là phản chiếu mọi vật chung quanh chẳng khác gì một tấm gương.
Ngồi trên bộ ván này là một người ngồi theo kiểu Á châu, xếp bằng, giơ tay vuốt nhẹ chòm râu bạc. Ðây là người giữ quyền tổng trấn[2], một ông già gầy gò, da nhăn, nét nhìn chăm chú, tuy nụ cười có vẻ nghi ngờ nhưng xem ra thành thực và sòng phẳng. Hai bên bộ ngựa là nhiều người ngồi theo thứ bậc, càng cao cấp thì càng gần vị khâm sai gồm cả quan văn lẫn quan võ.
Những hàng lính cầm mác[3]và khiên phủ bằng da trâu đã thuộc, đánh bóng có đính những nút bằng sắt đứng rải rác ở nhiều nơi trong đại sảnh.
Chúng tôi đi thẳng tới khi đến cửa của gian giữa hai hàng phản của cái ngai đó, ngả mũ ra và kính cẩn nghiêng mình chào ba lần theo thể thức của Âu châu mà viên tổng trấn củng chậm rãi cúi đầu đáp lễ. Sau đó ông ta ra lệnh cho người thông ngôn đưa chúng tôi đến một chiếc chõng tre ở phía tay phải của viên tổng trấn có xếp một số ghế kiểu Tàu để cho chúng tôi ngồi được thoải mái.
Viên tổng trấn đưa tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi và chúng tôi làm theo. Những người thông ngôn khi đó mới tiến đến dưới ngai mang theo quà tặng mà họ bưng trên đầu theo thế quì, trong khi một vài người phụ giúp khác chuyển lên cho ông ta. Sau khi coi kỹ từng món một cách thích thú và tỏ ra hài lòng, viên tổng trấn tiếp chúng tôi với thái độ rất dễ chịu, hỏi nhiều câu về sức khỏe, hành trình xa bao nhiêu, khoảng cách giữa An Nam vào nước chúng tôi, mục đích của việc thăm viếng …
Sau khi chúng tôi trả lời các câu hỏi đó, ông ta hứa sẽ dành mọi điều dễ dãi để chúng tôi có thể tiến hành công việc. Họ đem trà, thịt ngọt, cau và trầu cho chúng tôi nhưng khi chúng tôi đưa vấn đề “quà tặng”[4] và việc đóng thuế neo tàu, trọng lượng … (theo biểu xuất chúng tôi yêu cầu) thì họ không chịu và mỗi khi chúng tôi trở lại vấn đề thì viên tổng trấn lại khéo léo gạt qua và hứa sẽ làm chúng tôi hài lòng ở lần gặp tới. Chúng tôi từ biệt và vì còn sớm nên đi dạo trong thành phố cho thỏa trí tò mò.
Khi quay trở về cái cửa nam lớn mà chúng tôi đã vào, chúng tôi đi qua một hàng hiên rộng[5], bên dưới xếp khoảng hai trăm năm mươi khẩu thần công, nhiều kích cỡ và kiểu khác nhau, lắm cái đúc bằng đồng, chủ yếu là do Tây phương chế tạo, thường được đặt trên các giá gỗ để trên tàu hư mục nhiều mức độ.
Trong số này chúng tôi thấy có một dãy chừng độ một tá [dozen] đại bác pháo binh trên có dấu hiệu ba bông hoa huệ [fleurs de lis] và khắc chữ được đúc dưới thời Louis XIV [6] còn trong tình trạng khả quan. Gần đó có một số súng giả bằng gỗ để cho lính tập và ở đồn gác chính, gần cổng ra có mấy người lính bị đóng gông [caungue]. Ðến bây giờ chúng tôi mới biết gông dùng cho quân đội làm bằng tre còn những tội nhân khác thì làm bằng gỗ lim nặng. Phía bắc của cửa đông là một pháo đài có cột cờ, nơi đó cờ An Nam treo lên ngày đầu tháng âm lịch và những dịp lễ khác.
Có tất cả bốn cửa làm rất kiên cố tán đinh sắt theo kiểu Âu châu, có cầu bắc ngang hào nước được trang trí bằng nhiều chạm nổi đủ loại kiểu cách quân sự và tôn giáo trên các vách. Trên mỗi cửa có các vọng lâu vuông, mái ngói và cầu thang đi lên trên tường ở hai bên cửa phía bên trong thành.
Ở khu vực phía tây thành phố là một nghĩa địa có tường vây quanh, bên trong có vài chiếc lăng mộ của mấy viên quan xây rất tráng lệ theo kiểu Trung Hoa. Một vài nhà mồ có khắc chữ và phù điêu trên đá, đường nét ngoạn mục.
Khu vực đông bắc có sáu tòa nhà lớn, có rào chung quanh, căn này cách rời căn kia. Mỗi biệt thự đó vào khoảng 36 x 24 mét, mái có những rui mè rất chắc chắn, lợp ngói tráng men, có cột bằng gạch, giữa hai cột có vách gỗ chắc chắn cao chừng 5.4 mét. Ðây là các kho chứa đồ tiếp liệu cho binh lính và hải quân, thực phẩm, khí giới …
Nhiều lều của các nhóm binh lính đóng rải rác bên trong tường, nằm lẩn với các bụi cây nhiệt đới trông rất nên thơ. Ngoài những thứ khác, chúng tôi cũng thấy có mấy đống phân chồn. Nhiều đường đi đẹp tỏa ra tứ phía, hai bên có trồng cây palmaria (mù u?), một loại cây đẹp, giống như cây lê [pear-tree], có hoa trắng thơm nồng mà đến tháng mười, mười một thì tỏa ra rất xa. Từ hoa này, người dân bản xứ trích ra một loại dầu mà họ bảo là chữa được mọi thương tích.
Ngoài cửa thành dưới triền dốc mà con đường gạch bị cắt đứt có thả rong vài con voi của triều đình có nài chăn, ngồi trên cổ voi.Vài con trong số này có thân hình khổng lồ, lớn hơn những con voi tôi thấy ở Ấn Ðộ nhiều. Những người nài – đúng hơn là người đi chăn – cầm một cái ống gỗ bịt hai đầu, chính giữa có một cái lỗ mà họ thổi thành tiếng giống như thổi vào một cái thùng rỗng để nhắc chừng cho người đi đường biết là voi đang tới vì họ ít khi nào muốn mất công phải lái voi qua hướng khác khi gặp chướng ngại, và quả thật tức cười khi thấy mấy bà già đang buôn bán khi nghe thấy tiếng hụ lập tức thu dọn hàng hóa chạy ra một quãng xa trong khi voi xuống bờ sông uống nước rồi quay về.
Khi đi ngang chúng tôi họ chậm lại nhìn chăm chú hẳn là vì khuôn mặt da trắng và y phục Âu châu khác thường cũng giống như chúng tôi lúc đầu nhìn thấy những con vật to lớn này. Quả thực những người An Nam cũng sợ rằng mặc đồ kỳ lạ có thể gây ra bất trắc nên cũng khuyên chúng tôi đổi sang y phục bản xứ mà sau này chúng tôi làm theo khiến họ rất vui vì coi như đó là một cách khen tặng họ. Ngoài ra cũng còn những lợi điểm khác vì y phục của chúng tôi là quần áo của quan hàng nhị phẩm khiến cho quần chúng rất kính trọng. Bộ áo tôi mặc hiện nay đang giữ trong Hiệp Hội Hải Quân Ðông Ấn ở Salem.
Chúng tôi đi ngang qua vài cửa tiệm chất nhiều thịt heo tươi, gà vịt, cá khô và cá sông và rất nhiều loại trái cây nhiệt đới. Các loại rau, nhiều loại mà chúng tôi không biết rằng ăn được cũng bày bán. Người An Nam cũng giống như người Pháp ăn nhiều rau và thảo dược mà chúng ta thường không đụng đến.
Chúng tôi lại chú ý đến một bà già đang la lối trách móc gì đó trong chợ. Một người lính đứng gần bên đang lựa trái cây, rau cỏ, gà vịt nghe bà ta nói một cách thản nhiên. Sau cùng bà lão im lẳng, chắc vì hết hơi còn người lính thì nhoẻn miệng cười thông cảm ra khỏi quầy sang một tiệm khác lại chọn những hàng hóa khác thêm vào những gì y có từ trước. Chúng tôi quan sát thấy trên đường y đi thì những người chủ quán khác đều lén lút dấu đi những hàng hóa tốt nhất của họ. Khi hỏi ra chúng tôi biết rằng kẻ ăn cướp kia được phép, mà chẳng sợ gì thưa kiện, lấy cho chủ của mình, một vị quan to, nên y có thể mặc tình lấy đồ mà không trả tiền. Chuyện đó sau này chúng tôi biết được là một hành vi bình thường và phổ biến. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ việc sang đoạt đó cũng thường xảy ra cho mấy bà già, còn mấy cô trẻ thì y chỉ nhoẻn miệng cười hay chào rồi đi qua.
Về sự phong phú của những hàng quán này cùng giá cả cực rẻ ở Saigon chúng tôi kể sơ vài món:
– Thịt heo 3 xu (cents) một pound (khoảng 450 gr)
– Thịt bò 4 xu một pound
– Gà 50 xu một tá [12 con]
– Vịt 10 xu một con
– Trứng 50 xu một trăm
– Bồ câu 30 xu một tá
– Tôm cá 50 xu [đủ cho cả tàu ăn]
– Nai 1 dollar 25 xu [một con]
– Khoai lang 30 xu [100 củ]
– Gạo 1 dollar [một thạch, 150 pounds]
– Khoai 45 xu [một thạch]
– Cam 30 xu đến 1 dollar [100 quả]
– Chuối 2 xu [một buồng][7]
– Bưởi 50 xu [100 quả]
– Dừa 1 dollar [100 quả]
– Chanh 50 xu [100 quả]
Vì tôi đang nói về các loại trái cây, chúng tôi xin cố miêu tả một vài loại mà chúng tôi cho rằng trội hơn những loại trái cây đã thấy ở những vùng khác ở miền đông nước Ấn [tức khu vực Ðông Nam Á].
Trái mít mọc từ thân của một cây lớn và mượt, chỉ dính vào bằng một cái cuống nhỏ xem ra không tương xứng với sức nặng của nó mà thường là từ 5 đến 7 kg. Khi trái chín có màu xanh vàng, vỏ bên ngoài trông như trái cà độc [loại trái có gai đâm ra tua tủa]. Dân ở đây thích ăn tươi và củng làm một số món ăn, đối với người lạ thì mùi hơi nặng, khó chịu, buồn nôn, có nhiều hột khi rang lên cũng ăn được.
Trái xoài ăn rất ngon và khoái khẩu, có hình bầu dục, to hơn trứng gà tây một chút hình hơi giống như một hột đậu. Bề ngoài khi chín có màu vàng sậm, vỏ rất mỏng, chính giữa là v một cái hột lớn cũng theo hình dạng trái. Xoài còn xanh có thể giầm làm dưa ăn ngon.
Ðu đủ cũng được nhiều người thích, hình dáng giống như trái lê Âu châu nhưng lớn hơn nhiều. Vỏ ngoài mỏng còn bên trong thịt thì màu vàng bao quanh giống như trái dưa gang rất nhiều hột đen vị hăng hăng.
Trái lựu, loại trái cây từng được ca tụng trong Kinh Thánh, theo ý kiến riêng của tôi, thì xem chừng bị thoái hóa nhiều, hoặc vì trái mà chúng tôi gọi đây không hẳn là trái cây thời cổ. Trái cây này có rất nhiều hột, bao quanh bằng một dịch trấp hơi chua, màu hồng ở trong một lớp biểu bì mỏng thành từng chùm, mỗi chùm cách nhau một màng màu vàng có vị rất chát. Tất cả được bọc lại bằng một cái vỏ màu nâu sậm, to chừng trái táo Mỹ. Vì ăn trái này sẽ bị bón nên những người dân ở Ðông Ấn dùng như một loại thuốc trị tiêu chảy.
Trái na [custard-apple][8] là loại trái cây ăn ngon nhất, cây nhỏ hơn cây đào. Trái na to chừng một trái táo lớn, vỏ màu xanh nhạt, trông như những mảnh thủy tinh cắt theo hình viên kim cương.
Cùi của trái cây này, cũng màu trắng như kem trứng có nhiều hột đen, giống như hột dưa. Khi trái chín, chỉ cần bóp nhẹ là vỡ ra là có thể xúc ăn bằng muỗng. Người Nam Hà biết cách châm[9] cho loại trái cây này ngon hơn.
Chuối[10] có vài ba loại khác nhau, loại lớn nhất dùng trong nấu ăn và rất nhiều loại nhỏ hơn, còn gọi là vả Ấn Ðộ. Các loại trái cây khác như lê, chanh, cam, me, dừa, dưa hấu và đủ thứ khác có rất nhiều và ngon.
Ngoài thực phẩm ra thì các tiệm ở đây không có mấy thứ hàng hóa, chỉ có một số ít hàng Trung Hoa rẻ tiền, vài thứ vải lụa thô, các loại trà và đồi chơi vụng về … là những món họ bày ra.
Trong khi đi dạo, chúng tôi rất khó chịu vì hàng trăm con chó còm sủa inh ỏi. Trong các cửa hàng thì chúng tôi lại bị các người ăn xin vây quanh, nhiều người rất tội nghiệp và gớm ghiếc, một số bị cùi không còn nguyên hình dáng, còn nhiều người khác thì chân, tay bị sâu lở ăn mòn. Không phải chỉ bị những thành phần này làm phiền mà còn bị những quan binh đi theo chúng tôi hạch sách, chúng tôi thường phải dùng gậy gạt họ ra vì nếu không thì dân chúng sẽ xúm quanh, mùi hôi hám đến ngạt thở, đưa tay bẩn sờ vào mọi thứ áo quần rồi nói bàn tán huyên thuyên. Họ còn dám xông tới lột mũ chúng tôi, thò tay vào túi nên khi về đến tàu thì ai nấy lấm lem như chui ra từ trong ống khói vì bị đối xử thô lỗ như vậy.
CHƯƠNG XV
Thành phố Saigon có khoảng 180000 dân, trong số đó chừng 10000 người Hoa, theo con số trung thực và chính thức mà linh mục Joseph [chúng tôi có dịp nói chuyện sau này] cho chúng tôi. Ðây cũng là số lượng viên tổng trấn hay phó vương cho biết khi ông ta đi ra kinh thành Huế trở về một ít ngày sau khi chúng tôi đến.
Thành phố nằm ở giao điểm của hai nhánh sông Ðồng Nai và kéo dài khoảng 6 dặm trên bờ phía bắc. Gần sông thì mật độ dân chúng cao nhưng càng xa thì càng thưa dần. Nhà cửa ở đây vật liệu chính yếu bằng gỗ, lợp lá dừa hay bằng rơm rạ và đều một tầng. Chỉ có một số ít xây bằng gạch và lợp ngói. Những người ở giai cấp cao có các gác lửng xây dưới các tàn cây, rộng chừng 3 mét, chạy suốt tòa nhà, chung quanh có song bằng gỗ để thông gió, muốn lên phải dùng thang, chúng quanh là sân có cổng thông ra đường, còn người nghèo thì làm sát ngay phố bề ngoài bệ rạc.
Khách đến đây không thấy ai có cửa sổ bằng kiếng mà người Âu châu không thể thiếu. Những cánh liếp [wooden shutters] trông cục mịch thường được giở lên cho ánh sáng chiếu vào và khi nào thời tiết xấu thì dân chúng phải đóng lại khiến cho căn nhà rất là tẻ nhạt. Nghèo nàn và dơ dáy là khung cảnh chính yếu ở nơi đây.
Các đường phố được phân bố đều đặn, thường là giao nhau theo hình thước thợ, một số rất khoảng khoát. Ở phía tây của thành phố có hai ngôi chùa Tàu, còn người An Nam thì cũng có nhiều đền đài ở khắp nơi. Ngay trung tâm có một nhà thờ Thiên Chúa, trong đó có hai ông cố đạo người Ý với vài người đệ tử và nhiều giáo dân. Số lượng tín đồ theo đạo Chúa ở Nam Hà là 70000 người, trong số đó thì giáo xứ Ðồng Nai là 16000 người [theo viên tổng trấn và các thừa sai]. Tất cả đều thuộc dòng Thiên Chúa La Mã [Roman Catholics].
Người An Nam không làm gác chuông cho chùa của họ. Những chuông đó, thường từ hai đến bốn cái, nhiều cỡ khác nhau đặt mỗi nơi thờ phụng một cái treo trên giá gỗ ngay lối ra vào, không được lắc mà nện bằng tay. Hình dạng cũng khác với chuông Âu Châu, trong gần giống như một quả thông cắt đôi.
Chính giửa hai đầu của thành phố gần ngay bờ sông là một dãy nhà dài và đẹp, đây là các kho gạo, là độc quyền của triều đình, nếu ai đem bán ra nước ngoài sẽ bị chặt đầu. Những thuyền buôn khi đi dời bến chỉ được mang theo một số lượng thực phẩm nhất định, tùy theo số thủy thủ trên tàu và thời gian hành trình. Một chiếc thuyền Xiêm lớn hiện bỏ ụ trong một con rạch ở bờ sông Bà Ngà, viên thuyền trưởng và các sĩ quan bị xử tử, chỉ một thời gian ngắn trước khi chúng tôi tới đây, các thủy thủ thì bị giam vì đã vi phạm sắc lệnh này.
Vùng đất phía bắc của thành phố cách chừng hai dặm là một khu đất rộng chừng một cây số vuông dùng làm nơi chôn người chết. Nghĩa địa khổng lồ này đầy những mả, xây theo kiểu Tàu theo hình móng ngựa. Chung quanh bãi tha ma trồng cây cũng giống như các đường phố ở ngoại ô với loại cây giống như cây thốt nốt (palmaria), nếu so sánh không bạo quá thì tương tự như đường phố ở Paris.
Về phía đông bắc của thành phố, trên bờ một con rạch sâu là xưởng thủy quân và kho đạn, nơi mà trước đây khi có loạn [tức thời Tây Sơn] đã đóng một số đại hiệu [war-junks] và hai chiến hạm [frigates] theo kiểu Âu châu, dưới quyền giám thị của các sĩ quan người Pháp. Công trình này khiến người An Nam hãnh diện hơn hết thảy trên toàn cõi và quả là có thể sánh ngang với nhiều xưởng đóng tàu tại Âu châu. Không có những chiến thuyền lớn được đóng hay đang đóng ở đây nhưng thấy có rất nhiều vật liệu tốt đủ để đóng vài ba chiến hạm. Gỗ đóng tàu và những phiến ván tôi thấy tốt hơn hết những gì tôi đã gặp. Tôi đo thử một tấm ván, ni tấc của nó là 32.7 mét, dày hơn một tấc [.1mét], vuông vức từ đầu chí cuối mà bề rộng là 6 tấc [.6 mét]. Phiến gỗ đó cưa từ một cây teak mà tôi tin rằng không một nơi nào trên thế giới có được những cây khổng lồ như ở Ðàng Trong. Tôi đã thấy ở ngoài đồng một cây lớn đủ làm một cái cột buồm chính cho một chiến hạm, không có mấu mà theo tôi biết thì không phải là chuyện khác thường ở xứ này.
Có vào khoảng 150 tiểu hiệu [chiến thuyền nhỏ, gallies] được đóng đẹp vô cùng kéo để trong các lán, mỗi chiếc dài từ 12 đến 30 mét, một số có gắn 16 đại pháo loại nòng đạn 3 pounds. Những chiếc khác thì gắn 4 hay 6 đại bác, nòng từ 4 đến 12 pounds, đều làm bằng đồng đẹp tuyệt trần. Ngoài ra cũng còn khoảng 40 tiểu hiệu khác để trên sông để chuẩn bị cho quan tổng trấn du ngoạn lên thượng nguồn sông khi ông ta từ Huế trở về. Hầu hết những chiến thuyền này có trang trí dát vàng và các hình trạm trổ, cắm cờ đuôi nheo sặc sỡ trông rất sống động, dễ ưa.
Người An Nam phải nói là những người đóng tàu khéo léo nhất và hoàn thành công việc cực kỳ tinh xảo. Tôi rất thích phần bộ kinh tế có tính chính trị này nên vẫn thường đến xem cơ xưởng thủy quân.
Sắt dùng ở các tỉnh miền nam thường được mang từ Xiêm qua theo từng thoi, rất dễ dát mỏng và uốn. Loại thép cứng và dòn hơn thì sản xuất ngay tại nước này ở biên giới Bắc Hà và được dùng phổ thông hơn. Trước đây còn có một lò đúc súng ngay tại Saigon, dưới quyền giám đốc của giám mục Adran và tàn tích của một lò khác hiện vẫn còn ở tỉnh Ðồng Nai. Ở Huế thì hiện nay còn một lò khác đang hoạt động nơi đó súng đại bác đủ cỡ được đúc bằng thau; đồng được sản xuất trong những mỏ ở Bắc Hà và khoáng sản ở đây rất nhiều.
Thành phố Saigon trước đây chỉ thu gọn trong vùng cực tây của vị trí hiện nay, bây giờ gọi là Saigon cũ là nơi còn nhiều dấu vết cổ xưa và những kiến trúc vượt trội. Một vài con đường được lát đá và bến tàu làm bằng đá và xây gạch kéo dài đến gần một dặm dọc theo bờ sông. Tòa thành và kho đạn thủy quân, với ngoại lệ là vài căn lều cho thợ ở là những người duy nhất sống trên đất liền vùng phía đông, thế nhưng từ sau khi nội chiến chấm dứt thì số dân dọn sang ở bên phía đông đã gia tăng mau chóng đến khi tất cả hợp lại thành một thành phố và lan cả sang bên kia bờ sông và bao quanh cả tòa thành lẫn cơ xưởng.
Bên phía tây thành phố thì một con kênh mới được đào [thực ra khi chúng tôi tới thì cũng chưa xong hẳn] dài 23 dặm Anh, nối với một nhánh sông Vàm Cỏ mà tiếng An Nam gọi là Cây Mai (?)[11] . Con sông đào đó sâu 3 mét 6, rộng khoảng 24 mét cắt hẳn vào trong rừng và đầm lầy, chỉ đào mất có sáu tuần lễ. Hai mươi sáu nghìn người được điều động, suốt ngày đêm, xoay phiên để làm công trình vĩ đại này, trong đó 7000 người đã bỏ mạng vì mệt nhọc và bệnh tật. Bờ kênh này cũng đã trồng cây palmaria (mù u) là giống cây mà người An Nam rất thích.
Ðịa điểm của thành Saigon là khu đất nổi cao đầu tiên có thể thấy được từ ngoài sông, sau khi rời Cape St. James, cao độ khoảng chừng 18 mét trên mặt nước: trước đây nó vốn là một ngọn đồi tự nhiên bao phủ bởi cây. Ông nội của nhà vua hiện thời ra lệnh cho bạt ngang ngọn đồi cho bằng phẳng, sau đó đào một cái hào sâu chung quanh được dẫn nước từ sông vào bằng một con kênh. Ðây là một vị trí phòng thủ tuyệt vời và nếu bố trí đúng cách thì có khả năng chống trả một cuộc vây hãm lâu ngày, kể cả chống lại một đạo quân Âu Châu. Tường thành bị phá hủy trong thời nội chiến nhưng sau này được tân tạo còn tốt hơn là lối cũ. Vùng đồng ruộng chung quanh có thể thoát nước nên thành phố có kênh đào chằng chịt đan với nhau, có cầu bắc ngang thường là chỉ bằng một phiến gỗ lớn.
Saigon nằm trên một vùng phụ lưu của sông Ðồng Nai chỉ cách nơi tàu bè đến được chừng vài dặm, nơi đó bị chặn ngang bởi những cồn cát và nước nông nhưng các thuyền bè của dân bản xứ thì còn lên được thêm một quãng xa mà khi nước nguồn đổ xuống xói vào bờ phía nam của thành phố thì con sông nối sông Ðồng Nai với sông Vàm Cỏ chỉ độ hơn ba thước ngay cả khi nước lớn.
Khi chúng tôi trở lại tàu thì thấy có vài võ quan được viên tổng trấn sai đến hộ tống vì hôm sau là ngày làm lễ đo những chiếc tàu. Sở dĩ phải làm lễ vì đây là một thủ tục không thể miễn trừ là trên tàu phải làm tiệc đãi các quan đến thăm. Trong tình hình khẩn cấp này, chúng tôi hỏi ý kiến Joachim và Pasqual thì được biết trong các lần trước chưa ai được miễn cả và tốt hơn cả là nên đãi họ càng trọng thể càng tốt.
Việc sửa soạn để đón họ cho chu đáo được đặt dưới quyền trông coi của vợ Pasqual và trong dịp này đã làm nhiều món đủ loại, chủ yếu là có gốc Á Ðông như cơm chiên, cà ri, súp …cùng nhiều món mứt, trái cây.
Việc e ngại của chúng tôi không khỏi bồn chồn vì những món ăn cay thế này sẽ phải cần đến một số lượng lớn rượu để cho dễ nuốt mà những người thông ngôn cũng xác định rằng họ mong như thế và nếu không được thì sẽ gây khó khăn. Thêm vào số rượu có sẵn, chúng tôi mua thêm một số rượu đế của xứ này, loại rượu nấu bằng gạo để trộn vào rượu Âu châu và việc này rất ổn thỏa nên về sau chúng tôi thường áp dụng nhưng cũng cẩn thận đợi cho tới khi họ có vẻ “xỉn” rồi mới đưa ra để khỏi ai nhận ra được. Thật ra, có rượu đế vào rồi thì chuyện gì cũng xong.
Ðể tiến hành những sắp xếp từ hôm trước, khoảng 9 giờ sáng ngày Chủ Nhật mồng 10 tháng 10, thuyền của chúng tôi được đưa đến để hộ tống những ông “hạm” này lên tàu, và trong khoảng nửa giờ chúng tôi đã thấy một đội thuyền của xứ này do thuyền của chúng tôi dẫn trước đầy người đủ các cấp ra khỏi bờ, gần nơi chợ, và chỉ trong ít phút đã đến áp theo chiếc Franklin.
Viên khâm sai, người mà trước đây đã đề cập, cũng là người mà chúng tôi sẽ liên hệ chặt chẽ, hóa ra lại là người ít nhũng nhiễu hơn đa số những người khác, đi ra đầu tiên. Ði theo ông ta là người thu thuế, một lão già có vẻ tham lam như Do Thái, mũi và cằm chầu vào nhau mà sau đó thái độ của y cho thấy tài xem tướng của chúng tôi không sai chút nào. Đi theo ông ta là một đoàn người nhiều loại cấp bậc, mỗi người lại dẫn theo một đoàn gia nhân đầy tớ, đứng chật cả sàn tàu và bốc hơi người nồng nặc.
Ngay sau khi giới thiệu đợt đầu được thực hiện với một số nghi thức, mặc dù không lấy gì làm lịch sự (việc lịch sự với người lạ trong xã giao hầu như không biết đến và cũng không thực hành ở An Nam) họ đã hỏi ngay đến rượu, và vì chúng tôi cũng muốn họ đi sớm cho khuất mắt nên lập tức đem ra rồi hối họ tiến hành công việc. Thế nhưng họ cũng phải hỏi lẫn nhau mất một lúc lâu, rất to tiếng và om sòm rồi mới bắt đầu …
… Ngày hôm sau chúng tôi lại đến thăm viên tổng trấn (governor) để điều chỉnh lại số lượng “trà nước” [sagouètes]. Lần này, sau khi bị giữ lại vài phút ở điếm canh phía trước, chúng tôi được đưa vào trong dinh và thấy ông trong một căn phòng lớn, bao gồm một giá sách, một trường kỷ bên cạnh một cái sập mà ông ngồi trên đó cùng một số bàn ghế kiểu Tàu.
Lần này ông không có tùy tùng mà chỉ có hai tiểu đồng, một đứa đứng quạt. Ông tiếp chúng tôi rất ân cần, mời chúng tôi ngồi xuống và đưa ra trà, cau cùng đồ ngọt. Sau khi thỏa mãn một số câu hỏi tò mò về Âu châu có cả với Mỹ châu (mà họ không phân biệt đều gọi là Olan – Hoa Lang) chúng tôi mới đề cập đến vấn đề “trà nước”. Ông cho chúng tôi biết rằng có luật cố định không thay đổi trong vương quốc nên việc điều chỉnh vấn đề này để làm ngơ hay bãi bỏ, dẫu ông có muốn thế nhưng vì có rất nhiều quan lại tham gia nên không thể nào làm được.
Sau khi nói chuyện chừng khoảng 45 phút, chúng tôi đứng lên kiếu từ thì ông nói gì đó với những người thông ngôn để truyền lại cho chúng tôi ngồi xuống. Họ bảo rằng quan tổng trấn sắp gửi người đem biểu lên nhà vua có cả những công văn liên quan đến phái đoàn của chúng tôi đến đây và hỏi xem chúng tôi có muốn gửi phẩm vật gì không. Chúng tôi xác nhận rằng có và biết được có một sĩ quan người Pháp đang làm việc trong triều nên yêu cầu được viết thư cho ông ấy và viên tổng trấn bằng lòng. Rồi chúng tôi từ giã và hứa rằng sẽ đem phẩm vật và thư sớm ngày hôm sau.
Khi chúng tôi về đến tàu thì gặp lại viên giám quan đi cùng với một viên quan khác, viên quan này mời chúng tôi đến nhà y cũng ở gần đó. Sau khi uống trà, ăn trầu … chủ nhà đem ra một lọ đựng mù tạt không với cánh tay của vua Anh trên nhãn dán và hàng chữ lớn “Mù tạt Durbham hạng nhất” ẩn bên dưới, đặt lên trên một mảnh giấy mà trên đó có quệt một thứ gì đó giống như thuốc cao đã khô đen, không mùi vị gì cả. Đây là mẫu chứa trong lọ trước đây và hỏi chúng tôi có mặt hàng này trên tàu không?
Chúng tôi xác quyết là có và cũng có mang một số để biếu nhà vua. Nghe vậy họ rất vui mừng và nói với chúng tôi rằng hoàng thượng rất thích món hàng này và đã cẩn thận gửi cái chai và mảnh giấy từ Huế vào từ mấy tháng trước để làm mẫu cho người lạ xem mặt hàng mà ngài cần mua. Cũng mẫu này hôm trước ở Turon chúng tôi đã xem hồi tháng 6 nên đã mua rất nhiều ở Philippines trước khi quay trở lại Đàng Trong.
Khi trở lại tàu chúng tôi viết một lá thư bằng tiếng Pháp gửi Monsieur Vannier là đô đốc của nhà vua đang ở Huế yêu cầu ông ta giúp chúng tôi để can thiệp giảm bớt tiền “trà nước” và nhờ ông trình lên cho nhà vua một thanh kiếm đẹp kèm theo lá thư.
Sáng hôm sau, các người thông ngôn và một số viên chức lại đến để đòi tặng phẩm gửi lên nhà vua và chúng tôi giao cho họ. Họ rất sửng sốt về cách thanh kiếm được đánh bóng và những hoa văn khắc trên lưỡi kiếm, cách tháp lưỡi kiếm vào cán và luôn mồm trầm trồ “Kaa! Kaa!” (có lẽ là Chà chà) để biểu lộ sự kinh ngạc và nhấn mạnh nhiều lần.
Lá thư đó được giao cho ông Vannier kèm theo khoảng chục chai mù tạt gửi nhà vua và khi họ ra về cũng không quên mè nheo để được uống rượu cho thỏa thuê.
Khi đám người này chuẩn bị ra đi thì một đám đàn bà tới, mà chúng tôi biết là con buôn, hay đúng hơn là bạn hàng, sau khi xin mỗi người một ly rượu mới nói đến việc buôn bán và đưa ra đường, lụa, bông sợi cùng các mặt hàng khác nhưng lại không cho xem mẫu hàng nào cả. Chúng tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng đường mía, mà họ biết là mặt hàng có nhu cầu cao nhất, hay ít ra ở lúc này, nay đã tăng giá từ 80 đến 100 phần trăm tính từ hôm chúng tôi vừa tới trong khi các loại hàng khác thì không tăng theo tỉ lệ đó.
Cứ như thế mà suy ra, chúng tôi dè dặt hơn trong việc hỏi mua lụa, bông, đường thốt nốt hay các mặt hàng khác nổi tiếng của xứ này mà chúng tôi bảo họ mang mẫu tới sau khi cho biết giá chắc chắn. Sau khi cò kè hồi lâu chúng tôi mới thỏa mãn được tính biển lận, tham lam của bọn con buôn thì họ ra đi và hẹn hôm sau sẽ gặp chúng tôi.
Họ đến đúng hẹn nhưng không mang theo một mẫu mã nào cả nhưng chúng tôi hiểu ra khi họ cho biết là mặt hàng chúng tôi hỏi mua hôm trước nay đã lên giá gấp rưỡi. Người đọc chắc chán ngán, còn chúng tôi thì bực mình khi cứ gặp phải những trò đê tiện của dân bản xứ trong suốt thời gian lưu lại nơi đây. Họ lì lợm chỉ toan tính việc đánh lừa chúng tôi bằng cách tráo trở đáng ra có thể được lợi hơn nếu thẳng thắn và công bằng… Có lẽ chính vì những thứ đó mà người Nhật ngừng buôn bán và người Bồ ở Macao không đến đây để đi qua nơi khác và người Trung Hoa, người Xiêm cũng càng lúc càng ít đến.
[1] Nguyên tác viceroy tức phó vương
[2] Ðây là người thay quyền ông Lê Văn Duyệt, có lẽ là Huỳnh Công Lý.
[3] Two-handed swords là loại đao cán dài, tương tự như đại đao của Trung Hoa nhưng lưỡi thuôn dài không rộng bản.
[4] Những tàu buôn đến nước ta phải có quà tặng cho mọi quan chức theo một luật lệ bất thành văn.
[5] Nguyên tác là bungalo[w], một thứ hành lang chỉ có mái che, không có vách
[6] Vua Pháp trị vì rất lâu (1638-1715) ở thời kỳ thịnh trị.
[7] Miền nam gọi là một quài (quài chuối)
[8] Miền nam gọi là mãng cầu
[9] Lai giống bằng cách dùng hoa cây này cho cây khác thụ tinh [nguyên văn precocity]
[10] Tác giả dùng lẫn lộn nhiều tên cho nhiều loại trái cây khác nhau [guava (ổi), anana, pine-apple (dứa), banana (chuối), Indian fig (vả)]. Có lẽ White không phân biệt được những loại thơm, khóm, dứa, chuối, ổi…
[11] Nguyên văn Cou-maigne