Thằng Bắc Kỳ xấu xí

Vưu Văn Tâm

Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết và chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, bố mẹ tôi đã bồng bế các anh chị tôi lên tàu “há mồm” rời đất Bắc đi tìm tự do. Miền Nam nắng ấm chan hòa như tấm lòng người dân trong ấy đã dang rộng vòng tay chào đón dân đằng ngoài xuôi Nam lập nghiệp.

Cả chục năm sau đó, thằng bé tôi mới được chào đời và lớn lên trong khung cảnh đầm ấm trong gia đình, tự do bên ngoài xã hội. Ở nhà, tôi vẫn dùng giọng Bắc với bố mẹ và các anh chị em, với bạn bè trang lứa tôi nói giọng Sài-Gòn, dù khi phát âm dấu ngã và những chữ “tr”, “v” vẫn còn lai láng ít nhiều mùi hương cốm, hương sen. Sanh đẻ ở Sài-Gòn nhưng không hiểu sao bạn bè dù thân thương đến mấy, dẫu vui hay lúc buồn vẫn hay gọi tôi là thằng .. Bắc Kỳ ! Tôi đâu có làm gì nên tội mà mọi người “kỳ thị” tôi đến ghê gớm như vậy !

Cái mặc cảm đó âm thầm bén rễ và lớn lên trong tôi cho đến ngày mất nước, cho đến khi tôi đã hiểu biết ít nhiều về cuộc sống những ngày hậu chiến. Ở lứa tuổi mười một, mười hai, khi nhìn thấy đám bộ đội và dân tình ngoài ấy lần lượt xuôi Nam chiếm cứ những căn nhà bỏ trống của những người chủ trước đã hớt hơ, hớt hãi cuốn gói ra đi vào những ngày cuối tháng tư, lòng tôi lại dâng lên một sự phẫn uất tột cùng. Họ mang tiếng đi giải phóng, xóa bỏ giai cấp mà sao không “che chòi” để ở mà lại dọn vào những ngôi nhà khang trang để chiếm giữ và cư ngụ !

Tôi ghét cay, ghét đắng dân “”Bắc Kỳ hai nút” và ghét luôn cái tên “Bắc Kỳ” mà bạn bè vẫn thường gọi dù chúng tỏ lòng trìu mến hay có hàm ý đùa giỡn, trêu chọc cho vui. Theo hết bậc tiểu học rồi lên trung học, hết năm lớp 12 tôi nộp đơn thi tuyển vào trường trung học sư phạm Thủ-Đức. Ở buổi cuối cùng, người gác thi là một cô giáo trẻ trung và xinh đẹp. Nghe giọng nói, tôi cũng đoán ra được cô là dân “hai nút” theo cơn lốc bảy lăm dạt trôi vào Nam sinh sống. Tánh tình cô vui vẻ và hết sức dễ dãi trong giờ thi cũng như cô đã góp ý sửa sai, mong cho chúng tôi được điểm tốt trong kỳ thi tuyển. Sau khi đã nộp bài và chuẩn bị rời khỏi phòng thi, cô ấy đã ân cần nói với tôi :

– Em về lại Sài-Gòn, mang giúp cô cái thư này đến nhà bưu điện, may ra thư sẽ đi nhanh hơn. Cô đã dán tem đầy đủ rồi. Cô cảm ơn em nhiều lắm nhé !

Vốn đã không có thiện cảm từ bấy lâu nay nhưng tôi vẫn nhận từ tay cô lá thư bé bỏng ấy và trên đường về lại nhà tôi đã tiện tay ném vào sọt rác !

Thời gian lặng lẽ trôi đi, tôi cũng quen biết và thân thiết với khá nhiều dân Bắc Kỳ “hai nút”. Chị Thu là dân Hà-Đông trên đường đi tìm tự do giống như tôi, đã tình nguyện nấu cơm cho mấy đứa độc thân ở trại tị nạn Hong Kong cho đến ngày chúng tôi rời trại và chia tay mỗi người một ngã. Thằng em “ngang hông” đến từ Hải-Phòng đối với tôi như bát nước đầy, không vụ lợi hay tính toan gì ráo. Bàn tay có ngón dài, ngón vắn, cuộc sống này đầy dẫy hỉ nộ ái ố, xấu tốt đan xen, chỉ trách mình chưa đủ duyên may để gặp thêm người tốt, bạn hiền. Lòng tôi đã nguôi ngoai, trái tim của tôi đã bớt sân si, hận hờn và thôi căm ghét.

Bốn mươi năm vội vã trôi đi như một giấc chiêm bao, cứ mỗi lần nhớ đến lá thư mỏng mảnh, nhỏ bé của cô gác thi ngày ấy, lòng tôi lại bất an, giấc ngủ vỗ không lành. Có khi đó là cái thư thăm hỏi mẹ cha bị ốm đau hay là lời tạ lỗi với người tình để bắc lại một nhịp cầu yêu thương dang dở. Càng nghĩ, tôi càng hối hận và xấu hổ, cái thằng “Bắc Kỳ” xấu xa, cái thằng tôi có lỗi, có tội nhiều lắm !

Bốn thập kỷ sau, cái thằng “Bắc Kỳ” năm xưa đã xa hẳn vùng trời xanh kỷ niệm, tóc tai đã phôi phai màu sương tuyết nhưng trái tim sao cứ vấn vương bao niềm vui, nỗi buồn và luôn cả lòng hối hận. Vẫn biết không ai có thể tắm hai lần trên một khúc sông nhưng niềm ray rứt ngày cũ cứ theo tôi như cái bóng đổ dài giữa buổi hoàng hôn nhạt phai màu nắng.

18.03.2021