Tang pham cua dong song – Ngo Nguyen Dung

*

Lời tác giả:

Trích đoạn tiểu thuyết nầy của tôi được chính tôi phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ, không sử dụng bất cứ trợ sức nào của công cụ trí tuệ nhân tạo AI theo nguyên tắc sáng tác của tôi:

“Nói không với AI, không ẩn giấu tông tích, không dùng bút danh khác giới tính, không sử dụng ảnh chân dung giả.”

Trân trọng.

*

Bắt nguồn từ đỉnh núi tuyết xứ Tây Tạng, dòng sông linh hiển chảy qua hằng ngàn cây số, vượt qua nhiều vực sâu và nước xiết ở Trung Hoa, Tây Bắc Lào, Thái Lan, Căm-bốt, cuối cùng mới tới được Nam Việt Nam. Nơi đó, dòng Cửu Long, tựa như loài thú hoang được ngọn roi thiên nhiên thuần phục, mệt lả sau cuộc hành trình nhọc nhằn, thu góp tàn lực, chia ra tám nhánh, ôm lấy mảnh đất thân yêu lúc từ giã, trước khi mãi mãi chia tay, để rồi hòa tan vào lòng biển Đông. Tặng vật tiễn biệt của sông dành cho lũ người nghèo khó nơi ấy là vô vàn thủy sản giàu chất dinh dưỡng và một vùng thổ nhưỡng màu mỡ được phù sa bồi đắp, mỗi năm rộng thêm vài phân tây. Tục truyền rằng, khi dòng Cửu Long chảy ngang vùng đất nầy, hóa thành “chín” con rồng. Dân Nam Việt, vì mê tín, đã kết nạp thêm một nhánh vào tám dòng nước thành con số chín may mắn, cốt để ngăn ngừa lãnh thổ không những trước những loài thủy quái và những kẻ xâm lược, mà còn để vun quén phân bón cho việc đồng áng. Từ đó, để vinh danh và tạ ơn, dòng sông được người dân Nam Việt đặt tên là Cửu Long Giang, con Sông-Chín-Rồng.

Trong một khu hoang dã bị những mạch nước ốm cắt vụn, cách nơi cư ngụ của gia đình họ Phạm khoảng một tiếng rưỡi đi bằng ghe tam bản, là một chéo rừng đước, chỗ người dân có thể sưu tầm nhiều loại thảo dược. Khi nước lớn, con nước nhuốm màu đỏ nhụy hoa nghệ tây từ sắc tố cây rừng. Theo huyền thoại, sông loang máu rồng lúc hỗn chiến với loài thủy quái. Cũng theo lời đồn đãi, chốn nầy còn là nơi trú ẩn của lực lượng kháng chiến trang bị võ khí, những người không những chống đối thực dân Pháp đô hộ ròng rã một trăm năm nay, mà chống cả chủ nghĩa nghĩa đế quốc hiện hành. Từ những phong trào đối kháng nầy, tự xưng là “du kích quân”, người nông dân nơi đây được nghe lần đầu tiên trong đời những cụm từ “khánh chiến giải phóng” và “đấu tranh giai cấp”, cũng như “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Đôi khi, đám trẻ con mới lớn và giới trẻ còn được nghe những câu chuyện đẫm máu từ trăm năm trước. Một trong số đó, đúng nghĩa ngữ cảnh, là chuyện hủy diệt tất cả công trình kiến trúc của mọi tôn giáo thành tro bụi, đặc biệt là những tôn giáo có gốc gác từ phương tây, bởi vì tôn giáo là “nha phiến của con người”. Chuyện nầy khiến mọi người nghĩ ngay tới việc phá hoại ngôi thánh đường ở Cái Bàu, một kỳ tích xây dựng lâu đời nhất của Ky-tô giáo La Mã ở toàn cõi Đông dương. Chuyện xảy ra vào một đêm oi bức vào tháng chạp trong thập niên năm mươi thế kỷ thứ hai mươi, không lâu sau khi người Pháp thua trận giao tranh then chốt tại lòng chảo Điện Biên Phủ.

*

Sau khi Cha Bốn thổi tắt ngọn nến tuần vọng đầu tiên, vừa ngả lưng nằm nghỉ, ông chợt nghe được một tràng tiếng cú kêu từ bên ngoài len qua khung cửa lá chằm. Đã lâu rồi, ông không còn nghe tiếng chó sủa đêm, cảnh cáo chuyện bất thường. Ông không rõ, từ khi nào lũ chó nơi đây đã bị đám người, như những bóng ma tới khi đêm xuống và biến mất lúc rạng đông, giết sạch bằng thuốc độc, để họ không còn bị tiếng chó sủa báo động trong những lần tuần tiểu ban đêm. Trong cơn trằn trọc, nhà truyền giáo thường dõi nghe tiếng tàu lá chuối lùa xào xạc bên ngoài để dỗ giấc. Nhưng mà, đêm nay, trời im gió lạ thường. Vì vậy, không như mọi đêm, ông xoay qua ngẫm nhớ lại những việc xảy ra trong ngày và nhẩm đếm tổng số con chiên trong giáo phận.

Quả là một ngày đáng nhớ!

Sau gần sáu năm gắng sức không ngừng, công trình dịch thuật pho kinh Cựu Ước của ông sang ngôn ngữ An-nam, một thuật ngữ được ông sáng tạo từ bảng chữ cái tiếng La-tinh, tới hồi kết thúc. Điều nầy cho thấy, nếu không có sự hỗ trợ của đấng tối cao, ông sẽ không bao giờ làm được. Lúc ông lướt cây bút lông tà ngọn ghi xuống hàng chữ cuối cùng lên giấy: “Cầu xin mọi người hưởng đầy ân sủng của chúa Giê-su”, ông bắt được thanh âm ngập tràn nhạc điệu của thứ ngôn ngữ xa lạ nầy vang lên bên tai, thứ tiếng nói mà ông, từ những ngày đầu tiên tới đây, tư như thân thuộc từ kiếp nào. ‘Một cảm-giác-thấy-lại, không gì khác hơn là một déjà-vu’, ông thầm thì đôi ba lần. Ông mơ hồ cảm nhận một thần lực nhẹ tênh như thể do sức mạnh của đấng tối cao ban phát và thấy mình như vừa tái sinh. Một cảm giác phúc lành lan khắp người ông. Đâu đấy vẳng lại tiếng gà gáy báo hiệu bình minh. Tiếp theo, vang dội và gần hơn, là hồi chuông giáo đường gióng giã. Mấy cậu nhỏ, mới đây, do ơn gọi của Thiên Chúa, đã tự nguyện thay phiên tới gióng chuông mỗi sáng, được gọi là những cậu-trai-gióng-chuông. Để thưởng công, sau khi xong việc, các cậu nhận được một bữa ăn sáng với trứng ốp-la chiên bơ, rưới nước tương Ma-gi và một khúc bánh mì. Lời chiêu gọi của ông nảy sinh một trận đua tài giữa lũ trẻ làng nhằm tranh giành việc làm ngon lành nầy. Vô số trẻ trai trẻ gái, tìm gặp thầy Thông, ghi tên tham dự. Một buổi triệu tập được tổ chức cho thí sinh thi thố tài năng. Ngay từ đầu, các trẻ gái, dẫu bị chúng phản đối kịch liệt, đã bị loại trừ với lý do “sức lực không thích hợp”. Sau khi tham khảo ý kiến Cha Bốn, điều kiện tiên quyết được đưa ra: Chỉ những ai đồng ý cho rửa tội, mới được chọn. Thật khó cho Cha Bốn và Thầy Thông, khi phải truyền đạt cho bọn con trai hiểu thấu đáo ý nghĩa bí tích thanh tẩy nầy, khi Cha Bốn tìm cách chuyển ngữ câu “rửa sạch tội lỗi tổ tông” ra tiếng An-Nam. “Tội lỗi gì và của ai vậy?”, chúng hỏi. “Của tổ tiên chúng ta”, là câu trả lời. Lũ con trai lắng tai lơ là, bởi vì một cuộc thi đòi hỏi sức chịu đựng và dẻo dai đang chờ đón chúng.

Sau đó, dân làng được nghe tiếng chuông gióng giả cả ngày trời, tròn trịa cũng như lệch lạc. Rốt cuộc, bảy cậu trai mình trần, ốm tong teo trúng tuyển. Ngay tức thì, chúng được Cha Bốn đặt cho những cái tên mới, dựa theo tên ngày trong tuần bằng Pháp ngữ, nghe rất rổn rảng, nhưng cũng rất líu lưỡi, như một lời vinh danh chúng vừa được kết nạp vô cộng đồng Ky-tô giáo.

Trong khoảnh khắc nầy, Cha Bốn mới nhận ra rằng, lại một lần nữa ông đã thức làm việc trắng đêm. Không phải một, mà là nhiều đêm ngày liên tục. Bao nhiêu, ông không rõ. Ông chỉ nhớ rằng, ông đã hoàn tất công trình của đời mình trong một ngày mưa dầm tháng chín. Cơn mưa liên tục nhiều ngày báo trước mùa mưa sắp qua. Trước đó, ông đã dặn dò Thầy Thông dọn bữa ăn cho ông cạnh bàn làm việc. Ông không muốn bị ai quấy rầy. Sau hồi chuông sáng mỗi ngày, Thầy Thông mang cho ông một thau nước ấm, một chiếc khăn sạch và đem bô vệ sinh đi đổ.

Nghi thức tôn giáo cũng như đời thường cứ vậy tiếp nối giữa hai người đàn ông như một vở kịch câm.

*        

Như mọi sáng, sau khi thức dậy, Cha Bốn lần chuỗi mân côi, đọc kinh Lạy Cha năm lần và kinh Kính Mừng mười lần trước bàn thờ bày vỏn vẹn một cây thánh giá bằng tre và một chân đèn cầy. Rồi ông tới mở cửa sổ và làm vài động tác thể dục mười lăm phút. Quang cảnh cỏ cây nhiệt đới bên ngoài nhá nhem sương mờ. Cơn gió nhẹ luồn vào, thoảng mùi trái chín rữa. Vị linh mục cảm tưởng như mình là một người tiền sử đã từ lâu chặt đứt mọi liên hệ, vừa trở lại thế gian. Cảm xúc tục lụy trở lại, dấy lên lòng ông nhu cầu cấp bách, nếm lại hương vị cơn mưa nhiệt đới. Ngạc nhiên thay, nhúm nước mưa trong lòng tay ông sáng nay thoảng vị mặn như được pha trộn nước biển. Hoặc, không chừng đó là thông điệp trời ban ăm ắp lệ gởi tới ông lời chúc mừng vừa hoàn thành một sứ mạng cao cả? Không, Cha Bốn vừa nhanh chóng nhận ra vị mặn của nước mưa tới từ những giọt nước mắt của chính ông. Trong khoảnh khắc xúc động, ông nghĩ mình vừa thấy lại những khuôn mặt đẫm lệ nhạt nhòa, đẫm mưa tuôn. Khuôn mặt rám nắng Địa Trung Hải của cha. Khuôn mặt lãnh đạm của mẹ, khi ông gặp lại bà trong mảnh vườn trồng rau của một tu viện trong một ngày hè, sau cuộc hành trình dài băng qua những cánh đồng oải hương. Và vô số những khuôn mặt khác … Những khuôn mặt quá khứ, đã có thời đồng hành cùng ông qua những chặng đời thanh xuân, vừa khẽ chạm ý nghĩ ông, khi thì dịu dàng như một cử chỉ âu yếm, khi thì hung hãn như một ngọn gió đông: Như một bức tranh ấn tượng đã phai màu, không còn bất kỳ đường nét sống động ấm áp nào. Tất cả, hiện hữu Tại-Đây-và-Lúc-Nầy trong ký ức ông, chỉ còn là những mẫu tự tên người và những hình ảnh nhạt màu: Cha mẹ ông đã khuất, khát vọng có được một đứa em trai không bao giờ thành tựu, ông thầy giáo môn thần học khó tính được ông kính cẩn gọi là đức cha Cazardieu, mối tình đầu tiên của ông mang tên Guerlaine. Đúng rồi, ông khép mắt giây lát và  nhớ lại cô bạn gái xinh đẹp Julie Guerlaine.

‘Sao có thể như vậy được, ròng rã bao nhiêu năm trời, cô gái nầy là người duy nhất còn để lại trong trí nhớ ta ngần ấy cảm xúc sống động và ấm áp?’, ông thầm hỏi.

Julie là một thiếu nữ xinh xắn, với mái tóc dài, óng ả, mượt mà màu vàng dã mai và màu mắt xanh hoa thỉ cúc. Cô như một thiên sứ giữa đám sinh viên, nam nhiều hơn nữ. Anh, cậu Paul Debeauvais trẻ trung, ngoan đạo và tràn đầy lý tưởng, Anh quen biết cô khi theo học chuyên ngành về môn thần học Tây phương và triết Đông. Cô là mối tình thuần khiết đầu tiên và duy nhất của anh, bởi vì anh thường tưởng tượng rằng, anh và Julie là Adam và Eva bị Thiên Chúa trục xuất khỏi vườn Thượng Uyển. Anh không muốn tái phạm lỗi lầm của họ, bằng cách ghé răng cắn trái cấm dục vọng do cô mời mọc, bởi vì anh thường xuyên khao khát tìm lại Thiên Đàng đã mất. Khu vườn ấy sẽ được tìm thấy đâu đấy. Ở nơi mặt trời mọc cuối biển. Ở cao nguyên Tây Tạng, nơi dòng Cửu Long bắt nguồn từ rặng Hi-mã-lạp-sơn và chẻ ra chín nhánh trước khi xuôi ra biển. Ở một nơi sản sinh hằng ngàn loại chim và bươm bướm trong khu rừng mưa. Ở một nơi loài người được vô tư thưởng thức những loại trái cây thiên đường. Ở một nơi anh có thể tạo dựng một chỗ trú thân cho những linh hồn vô thần nhờ sự trợ lực của Thiên Chúa …

Ông úp mặt vào lòng tay, run rẩy. Những hoài niệm rối rắm, ẩn giấu sâu thẳm trong tiềm thức ông và thực tế phù phiếm dâng lên khuôn mặt hiện tại. Theo nhịp mưa lao xao tán lá và vọng âm hồi chuông lễ sáng, những bóng hình quá khứ lại trỗi dậy trong lòng ông. Những hình ảnh quê nhà xa thẳm thuở nào được tráng lên màu sắc tươi tắn và tưới tẩm hương thơm bốn mùa. Ông cứ tưởng mình đã đánh mất hương thơm và mùi vị của quê nhà từ lâu. Ông ngẩng mặt, khép mắt thầm thì: “Ôi, Chúa vạn năng, xin tạ ơn ngài đã nhân từ trợ lực giúp con.”

Bất chợt ông thầm hỏi ý nghĩa của quê hương. Ngay lúc nầy, trong khoảnh khắc tâm tư rúng động, ông tìm ra cho mình một định nghĩa sát sao như tấm áo vừa vặn ni tấc: Quê hương chỉ là một ảo tưởng được khắc dấu trong ý thức của loài người. Với ông là mùi hương hải sản theo về cùng gió biển, là những bông tuyết phất phới đêm lễ thánh, là những hồi chuông rộn rã lễ sáng chủ nhật, là những ngày hè thơm ngát bông oải hương … Dưng không ông nhớ lại chuyến đi cầu hòa tại ngôi chùa làng và câu chuyện đàm đạo với nhà sư trú trì vài năm trước, sau khi xảy ra tai nạn thảm khốc trong lúc xây ngôi giáo đường, và buổi đàm luận trong đình làng sau đó.

“Chết không phải là hết …”

(04.2026)

. . . . . . . . . .

(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.

Nguồn ảnh từ tin mạng.