Sư tử Hà Ðông

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

su tu ha dong 01

Năm nay là năm cọp, nói về cọp thì ai cũng biết, vậy thử nói sư tử coi sao. Cọp thuộc họ Panthera Tigris, còn sư tử họ Panthera Leo. Người Âu gọi chúng là mèo bự. Nói sư tử khơi khơi không hay, thử nói về sư tử Hà Ðông coi nó ra sao, mà nó cứ ám ảnh trong đầu các ông hét ra lửa, hách xì xằng ở sở nhưng về nhà riêu riếu. Thấy mà tội nghiệp. Ở sở thì vuốt râu ngạnh trê, vảnh lên. Về nhà ‘hiền thê’ hét một cái là râu nó quặp xuống.

Ðối với người Ðông phương, cọp là chúa sơn lâm. Nó tượng trưng cho cái gì oai vệ, hùng tráng, cho nên người ta mới nói là mãnh hổ. Ai mà la hét to lớn, thì cho là như hổ rống. Bất cứ cái gì hung hăng, dữ tợn đều được đặt chữ hổ hay hùm như: Tôm hùm (tiger prawn), rắn hổ, cá mập hùm (tiger shark), bướm hùm (tiger moth), mèo hùm (tiger cat) …

Cha tài giỏi, con cũng tài giỏi thì thay vì nói:

‘Cha nào con nấy’,

người ta lại nói:

‘Hổ phụ sanh hổ tử’

Nếu làm rạng danh để tiếng với đời, thì người ta khen:

Hùm chết để da,

Người ta chết để tiếng’.

Sư tử Panthera Leo có rất nhiều ở Phi Châu, cũng có số ít ở miền Nam Ðông Nam Á.. Trái với Ðông phương, người Tây phương lấy sư tử tượng trưng cho người đàn ông lực lưỡng, can đảm. Các giác đấu đánh với sư tử, chớ không đánh cọp như người phương Ðông, qua sự tích: ‘Võ Tòng đả hổ’.

Hoàng gia Anh lấy sư tử làm biểu tượng. Trafalgar Square cũng có bốn con sư tử đá, ở bốn góc công viên. Ai Cập cũng tạc tượng sư tử. Singapore lại dùng con vật huyền bí làm biểu tượng: Ðầu sư tử mình cá, Merlion, vân vân…

Người Á Đông không coi trọng sư tử, mà còn có vẻ miệt thị, chê bai nhứt là sư tử cái. Cái gì hung bạo, tàn ác thì gán cho sư tử. Ðàn bà dữ thì gọi là sư tử cái, nói cho văn vẻ thì gọi là sư tử Hà Ðông.

Chữ sư tử Hà Ðông từ đâu mà có?

Sư tử Hà Đông, có ý nói là người đàn bà ghen tương dữ tợn để bảo vệ tình yêu, chống lại đối phương đã giựt chồng mình bằng mọi giá.

Ngoài Bắc có tỉnh Hà Ðông, nhưng có phải là sư tử Hà Ðông phát xuất từ tỉnh nầy không? Chưa biết rõ, chớ nghe đâu nơi đây không có sư tử và Hà Ðông nổi tiếng nhứt Việt Nam, là nơi sản xuất tơ lụa tuyệt đẹp: lụa Hà Ðông.

Kỳ dư không có chỗ nào có cái tên Hà Ðông nữa.

Không có câu thơ hay vè nào nói tới sự hung tàn, dữ tợn của người đàn bà đất Thăng Long, xứ  Chùa Một cột cả.

Miền Trung thì có câu:

‘Ai về Bình Ðịnh mà coi,

Con gái cỡi ngựa ra roi đi quyền’.

Nghe cũng hơi rợn gáy. Con gái Bình Ðịnh giỏi võ nghệ không phải để hà hiếp chồng, mà giúp người anh hùng áo vải có chí khí lớn Quang Trung Nguyễn Huệ, chiêu binh mãi mã để dựng nước và cứu nước, chống quân nhà Thanh bên Tàu xaâm lăng nước ta.

Miền Nam nơi bưng biền, đầm lầy nước ngập liên miên, Ðồng Tháp Mười lại có câu:

‘Ai về Ðồng Tháp mà coi,

Con gái Ðồng Tháp cầm roi dạy chồng’.

(Ca dao)

[Câu nầy do một ông thầy thuốc Bắc ở Cao Lãnh, cho tôi (10/1966) nhân lúc Trung đoàn 16/Sư đoàn 9 đồn trú ở đó].

Nghe mà phát sợ, không ai dám cưới cô nàng về làm vợ, làm dâu! Có gan đằng trời cũng phải lấy tàu mo bó mông mới chịu thấu? Như vậy, hạng đàn bà ‘nữ kê tác quái’ nầy chắc hà hiếp chồng một cây. Họ có ăn hiếp chồng như vậy không đây?

Thật ra có đi sâu vào Ðồng Tháp mới biết hoa sen Ðồng Tháp, (con gái nơi đây tự hào cho mình là hoa sen vì ở đây có đầm sen mênh mông) quê mùa chất phác lại xinh đẹp, hiền hậu, thùy mị, thì chắc chắn câu nầy không mang ý nghĩa hung hăng dữ tợn được.

Theo như cụ bô lão nầy cho biết, thì đây là bưng biền, nơi phát xuất các phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của Thiên Hộ Dương, vậy câu nầy có nghĩa là:

Ðàn bà Ðồng Tháp, ngoài bổn phận của người vợ hiền tảo tần nuôi chồng con, còn có tinh thần cách mạng kháng chiến chống ngoại xâm. Lúc nào họ cũng khuyên chồng phải lo:

*    Chống thực dân Pháp, cởi bỏ xích nô lệ,

*    Chống cường hào ác bá, bóc lột và hãm hại dân lành,

*    Chống sưu cao thuế nặng, nhứt là loại thuế ô nhục của người đàn ông nước ta dưới thời thực dân Pháp, đó là loại ‘thuế thân’. Phong trào nầy khởi xướng nơi đây, rồi mới lan tràn sang các tỉnh khác.

Như vậy, phụ nữ nơi đây không hổ danh là hoa sen Ðồng Tháp. Họ còn giữ cái khí khái của người con dân yêu nước, yêu quốc gia và dân tộc, khuyên lơn chồng con, không vì nghèo khó mà chấp nhận làm tay sai cho giặc. Có chí khí, thật đáng kính phục. Cái tinh thần cao cả đó, đúng như câu ca dao:

‘Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’.

Cái chí khí đó, nó phát xuất từ thuở ban đầu của lịch sử Việt Nam. Hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị thấy người thân mình, dân tộc mình bị chà đạp, bị bóc lột nên tức giận đứng lên đánh đuổi tên Thái thú Tô Ðịnh về Tàu.

‘Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh’

Phụ nữ Miền Nam noi gương bà Trưng, bà Triệu, nên ở biên thùy Châu Ðốc,  Thất Sơn huyền bí có đội binh của bà Phấn, vợ lớn Ba Cụt, người bị Tổng thống Ngô Ðình Diệm xử tử ở Cần Thơ. Súng ống đầy mình hay võ trang tới răng, mà bà cũng đâu lấn át Ba Cụt và hà hiếp cô vợ sau Cao Thị Nguyệt, một nữ sinh trường Marie Curie hay cô hiệu trưởng trường Voltaire.

Hà Ðông là tên một vùng bên Tàu. Bên ấy quanh con sông Hoàng Hà có: Hà Bắc, Hà Nam, Hà Tây và Hà Ðông. Ðàn bà nơi đây nổi tiếng hung dữ. Các đấng phu quân mà hào hoa phong nhã, lăng nhăng lôi thôi, là các bà ‘đốp’ liền không tha. Ðàn bà Hải Nam cũng hung dữ mà không bằng:

   ‘Nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ’ , hoặc

   ‘Con công tố hộ, con gà đá độ

    Ðá ngay cần cổ lỗ máu đầu’.

Mấy ông mà lôi thôi, bị mấy bà đánh u đầu chảy máu là vậy. Người đàn bà Hải Nam nổi danh oanh liệt một thời, trong và sau Thế chiến II, mất ngày 28 tháng 10 năm 2003, thọ 104 tuổi, đó là bà Tống Mỹ Linh. Muốn biết bà hung hăng cỡ nào, xin kêu hồn ông Tưởng Giới Thạch thì biết !!!

Ðàn bà có hung dữ tới đâu, người ta cũng không kêu là hổ cái hay nữ hổ mà gọi là sư tử cái hay sư tử Hà Ðông.

Theo sự sưu tra, chúng tôi biết được sư tử Hà Ðông là do câu chuyện về ông Trần Tạo (trích trong ‘Ðiển Hay Tích Lạ’ trang 83-84). Có chỗ cho là ông Trần Quế Thường.

Ông sanh ra vào đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia, rất hào hoa phong nhã và rất sùng đạo Phật, nên có pháp danh là Long Khâu. Ông lại nổi tiếng sợ vợ, cho nên biết thân biết phận, hết lòng chú tâm kinh kệ, dù vợ ông là bà Liễu thị (tên tự Liễu Nguyệt Nga), có giận lên la hét chửi mắng, ông cũng làm ngơ. Một hôm nhân có bằng hữu đến chơi, ông mời kỹ nữ ca hát cho vui, cho linh đình. Thốt nhiên vợ ông nổi cơn thịnh nộ, phát đổ nghè tương, la hét to lớn trong buồng, làm ông hồn vía lên mây, rớt cây gậy đang cầm trong tay.

Thi sĩ Tô Ðông Pha là một trong ba người bạn chí thân của  ông, gọi là ‘Tứ Ðại Tài Tử’ (Phật Ấn, Trần Thế Du, Tô Ðông  Pha và Trần Tạo), mới làm bài thơ chế nhạo ông như sau:

‘Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,

Ðàm không thuyết pháp dạ ất miên.

Hốt văn Hà Ðông sư tử hống,

Trụ tượng lạc thủ tâm mang nhiên’.

Bài nầy đã được dịch như sau:

‘Ai hiền bằng thầy Long Khâu,

Ðọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu.

Bỗng nghe sư tử Hà Ðông rống,

Kinh hoàng, chẳng biết gậy nơi đâu’.

Hai chữ Hà Ðông được dùng ở đây, cũng được dùng lại trong một bài của thi sĩ Ðỗ Phủ nói về cô gái Hà Ðông họ Liễu:

‘Hà Ðông nữ nhi thân tinh Liễu’.

Theo kinh Phật, sư tử là chúa sơn lâm, chúa muôn loài cầm thú. Khi nó rống lên, tiếng nó to quá làm khiếp đảm cả các loài cầm thú. Chính vì vậy, sư tử rống cũng để diễn tả cơn ghen tương, cơn thịnh nộ. Ở đây là tiếng hét của nàng Liễu Thị.

Trong văn chương Việt Nam, chính một thi sĩ tài nhiều mà phận bạc, vác chiếu thi hoài mà không đậu, nằm nhà vợ nuôi, rồi hận đời, hận người làm thơ chế nhạo thiên hạ: Tú Xương, trong bài thơ vịnh cảnh lấy vợ lẻ có câu sau đây:

‘Hậu hạ đã cam phần cát lũy,

Nhật khoan còn ói tiếng Hà Ðông’.

Không biết bà Ðoàn Thị Ðiểm có gặp nàng Liễu Thị hay Hoạn Thư không, chớ bà Hồ Xuân Hương đã từng nếm mùi cay đắng đó rồi. Chính trong bài thơ ‘Phận Lẻ Mọn’ bà đã từng than:

‘Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,

Cầm bằng làm mướn, mướn không công’.

Tới đây chúng ta thở hơi thở nhẹ nhõm, vì người đàn bà tỉnh Hà Ðông của ta đã bị hàm oan. Vậy ta có thể mơ người con gái dịu dàng, nết na hiền hậu, đầu quấn khăn, vai mang dải yếm đào, mặc áo tứ thân, nghiêng đầu chăm chỉ dệt lụa, may áo cho chồng:

‘Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ’.

 

Sư tử Cái

Giờ đây ta thử coi sư tử cái nơi sơn lâm, có thiệt độc ác và hung dữ như người ta gán ghép cho nó không?

Sự bội bạc của sư tử cái.

Sư tử đực lúc nào cũng oai vệ hùng dũng với cái ‘bờm’. Là đấng trượng phu hiên ngang, sư tử đực lúc nào cũng lo bảo vệ đoàn thê nhi, chống lại sự xâm lăng của kẻ địch và tình địch. Nói cách khác, muốn giữ được ‘cô vợ’ của mình, phải thắng hết các sư tử khác, để làm chúa tể đoàn sư tử.

Sư tử đực rất hiên ngang và có trách nhiệm. Nó không có bê tha và lúc nào cũng lo săn thú cho vợ con ăn. Ðược nhiều mồi thì cùng hưởng, mà ít quá lại nhịn ăn, nhường phần cho đám thê nhi. Ðúng là trang quân tử.

Hãy xem sư tử đực săn mồi, nó nhào tới vật, rượt bắt con mồi với tất cả sức lực và nanh vuốt của mình. Sư tử cái chận đường tẩu thoát của con mồi. Thấy con mồi mệt yếu, sư tử cái nhảy vào cắn cổ hay cặp mồm con mồi lại, cho nó nghẹt thở. Khi con mồi chết, nó mang con mồi ăn thịt một cách ngon lành. Nếu lúc đó sư tử đực nhảy vô liếm láp chút đỉnh, sư tử cái nhất quyết không cho. Nó giẫy nẫy giận hờn, nhiều khi còn đuổi rượt sư tử đực chạy te.

Chàng trai đầy chí khí nhịn nhục kia, lặng lẽ bước đi nơi khác nằm nghỉ, trong sự thèm thuồng đói khát. Với trí dũng, nó thừa sức đối phó với sư tử cái, nhưng nó không làm như vậy. Quân tử Tàu mà lị!

Khi có tình địch hay kẻ muốn chiếm lãnh thổ hay cô vợ cưng, sư tử đực chống trả mãnh liệt với sức dũng mãnh và nanh vuốt của mình, để bảo vệ đoàn thê nhi. Một khi kẻ xăm lăng hay tình địch bị hạ, sư tử cái lại xông ra mần thịt kẻ chiến bại, một cách ngon lành.

Chẳng may sư tử đực bị địch thủ gây thương tích gần chết hay sát hại thê thảm, sư tử cái không chút ngại ngùng thương tiếc, nhảy ra ăn thịt ông chồng yếu hèn thân bại danh liệt kia một cách ngon lành.

Thật đau lòng cho kẻ trượng phu. Ðời là thế!

No nê, cô ta chấp nhận tôn vinh kẻ chiến thắng và coi như chúa đoàn. Số phận kẻ chiến thắng cũng không có thọ, vì nó lại phải ra sức phấn đấu bảo vệ đoàn và chống tình địch. Rồi một ngày nào đó, nó cũng phải bị sư tử cái phân thây không thương tiếc, như đã nhai ngon lành xác anh chồng trước vậy.

Người mẹ bất nhân

Sư tử đực dầu có đói, cũng nhường phần cho sư tử cái và sư tử con. Nó chỉ liếm láp phần thừa thãi mà thôi. Nó trìu mến liếm mình sư tử con, và tỏ ra thật là yêu thương. Nó chơi giỡn với đàn con và chẳng bao giờ ám hại đàn con cả.

Sư tử cái thấy có mồi có ăn, là nhào tới giành và xua đuổi sư tử đực. Chẳng những thế nó còn xấu xa, xua đuổi đàn sư tử con ra xa nữa. Phải đợi tới nó no say rồi vứt bỏ, các sư tử kia mới được ăn. Nếu mồi quá ít, không đủ cho sư tử cái xơi, mà sư tử con nhào tới xía phần, sư tử cái dám nhào tới táp thịt sư tử con luôn cho no nê! Thật là tàn nhẫn, không tình mẫu tử như khỉ hay cọp cái. Vì vậy người ta mới có câu:

‘Hùm dữ không ăn thịt con’

Còn sư tử cái không tình nghĩa, kể cả tình mẫu tử. Nó ích kỷ tàn nhẫn, vô lương tâm, bội bạc, độc ác hà hiếp chồng vân vân…Chính vì vậy mà mới có cái biệt danh cho các bà hung dữ hay ghen tuông là ‘Sư tử cái’ hay ‘sư tử Hà Ðông’.