Sài Gòn & sứ mệnh Đô thành sông biển

Phúc Tiến

Như một báu vật bị lãng quên, gần đây thế mạnh sông nước của Sài Gòn đang được tái phát hiện, tái khám phá. Thành phố ngày nay có đến 39 tuyến kênh rạch với hơn 7900 km chưa kể nhiều ao đầm, bán đảo và cù lao đa dạng. Ngoài thiên nhiên, gia tài phong phú ấy còn bao gồm bến cảng vận tải và du lịch, nhà máy, pháo đài, chợ búa, bến đò, di tích văn hóa – lịch sử ven sông và trên mặt nước. Tuy nhiên, Sài Gòn không chỉ có sông và kênh rạch mà còn có biển!

Thành phố hiện có hơn 20 km biển và nhiều vùng nước lợ, rừng sác, khu bảo tồn sinh quyển. Sông biển của Sài Gòn không những liên thông với toàn Nam Bộ, Campuchia mà còn ra với thế giới. Hãy cùng nhìn lại dòng chảy cuồn cuộn đó để thấy từ khởi thủy, sông và biển là một phần quan trọng làm nên Cảng thị Sài Gòn, làm nên một Đô thành hội tụ dân tứ xứ và những cuộc giao lưu hàng hóa, văn hóa phồn thịnh xuyên suốt nhiều thế kỹ.

Từ một cuộc đưa dâu trên biển

Theo sử liệu cổ, lịch sử người Việt “nhập gia” trên đất phương Nam bắt đầu từ một đám cưới “vương giả” của hai hoàng gia. Năm 1620, cách đây đúng 402 năm, một tiểu thư của chúa Nguyễn, đến nay nhiều tài liệu ghi nhận là công nữ Ngọc Vạn, đã kết hôn cùng vua Thủy Chân Lạp. Thưở ấy, từ Phú Xuân – kinh đô nhà gái đến Prei Nokor-kinh đô của nhà trai, người Việt gọi là Sài Gòn, chỉ có thể đi bằng đường biển. Chắc rằng chúa Nguyễn đã tổ chức một đoàn đưa dâu trên những con thuyền lớn để cập bến “sui gia” vùng ngoại biên xa xăm. Trên đoàn thuyền của cô dâu, ta có thể hình dung, ngoài các sứ thần,  còn có nhiều tùy tùng bao gồm người phục vụ từ các phiên dịch, tì nữ, thợ may, thợ thủ công, người nấu bếp cho đến phu khuân vác và khiêng kiệu, thị vệ và binh lính. Một đoàn tùy tùng đông đảo như thế ắt hẳn trên dưới cả trăm người hoặc hơn. Để có quà tặng cho “sui gia” và hàng hóa cho công nữ sử dụng lâu dài, có lẽ đoàn thuyền mang nhiều phẩm vật hương sắc của Thuận Quảng như gạo, nước mắm, đường đen…Và không thể không có tơ lụa, đồ gốm sứ, trầm hương, vàng bạc là những đặc sản nổi tiếng của Đàng Trong.

Trên hải trình xa xôi đó, đoàn đưa dâu không thể không ghé qua Bình Thuận, thủ phủ phần đất Champa cuối cùng – đã quy phục Đàng Trong, để tiếp thêm nước ngọt và lương thực. Có khả năng đoàn nhận vào các người chèo thuyền, thủy thủ và hoa tiêu người Chăm – vốn gần gũi với sông nước giáp ranh Chân Lạp. Chính các thuyền viên người Chăm sẽ giúp đoàn thuyền nhận biết luồng lạch từ cửa Kanchoeu (Cần Giờ) theo sông Soài Rạp vào đến vàm Kas Krobei (Bến Nghé ). Giờ đây, công nữ Ngọc Vạn và đoàn tùy tùng không chỉ là sứ giả mà thực sự còn là đoàn di dân Việt đầu tiên chính thức định cư trên miền đất mới. Đó là hoa trái quý báu – kết quả của một cuộc bang giao hòa bình và đàm phán khéo léo giữa hai vương quốc.Thưở ấy, rất thuận lý, vua Thủy Chân Lạp muốn thông gia với chúa Nguyễn không chỉ để có một người vợ ngoại tộc trâm anh. Một cách thực tế, Thủy Chân Lạp cần Đàng Trong hỗ trợ để đối phó với Xiêm La và Thượng Chân Lạp – những thế lực thường xuyên đe dọa mình. Do vậy, cuộc hôn nhân giữa hai hoàng gia là cách kết nối đồng minh rất sâu lắng mà nhẹ nhàng. Và như thế, định mệnh lịch sử đã chọn Sài Gòn là một địa điểm đầu mối bang giao và buôn bán giữa hai vương quốc. Đồng thời, hơn thế nữa, Cảng thị Sài Gòn với thế mạnh liên thông sông biển đã nhanh chóng trở thành “đầu cầu” đắc địa để người Việt đường hoàng tiến vào miền đất phì nhiêu còn đầy hoang dã.

Toàn cảnh phác họa quy hoạch Sài Gòn 1880 với mạng lưới giao thông thủy bộ phong phú (ảnh tư liệu)

Đến căn cứ quân binh, di dân và cửa ngỏ thông thương

Sự xuất hiện của những cư dân Việt và hàng hóa Việt, cho dù chưa lớn lao, ngay trên kinh đô của Thủy Chân Lạp đã đem cho vương quốc này những nhận thức mới về sức mạnh và lợi ích cụ thể khi bang giao với Đàng Trong. Ba năm sau -1623, vua Thủy Chân Lạp chấp thuận ủy thác quyền thu thuế giao thương trên đất Prei Nokor cho quân binh chúa Nguyễn. Đồn thu thuế đầu tiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, được dựng  ngay ngả ba vàm Bến Nghé và rạch Bến Nghé, vào khoảng vị trí Cột Cờ Thủ Ngữ hiện tại. Kế tiếp, đồn thứ hai đặt ở khu vực Cầu Kho (nay là đường Trần Dình Xu, giáp với đại lộ Võ Văn Kiệt). Vị trí Thủ Ngữ – chức danh của quan thu thuế, là nơi dễ dàng kiểm soát tàu thuyền từ biển ra vào, cũng như hàng hóa từ vùng cao Thượng Chân Lạp và Đồng Nai Thượng (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước) đổ xuống. Còn Cầu Kho là địa điểm lý tưởng cho việc kiểm soát thuyền bè chở gạo và nông sản theo sông rạch đi từ vùng Gò Công, Mỹ Tho qua Chợ Rẫy – Chợ Quán (nay là Chợ lớn), ra đến vàm Bến Nghé để giao hàng.

Vị trí Sài Gòn trên bản đồ hàng hải châu Á –Thái Bình Dương của Úc năm 1944 đang lưu tại thư viện bang Nam Úc.

Cả hai vị trí cũng là nơi xuất phát đội quân Việt đi kiểm tra thuế và tìm hiểu “miệt trên, miệt dưới”. Cùng với hai đồn thu thuế, vua Thủy Chân Lạp còn cho quân binh chúa Nguyễn mở đồn điền ở vùng Mô Xoài (Vũng Tàu-Bà Rịa). Quân binh đi đến đâu sẽ có trại gia binh mở đến đó. Số lượng chưa rõ bao nhiêu, song như thế số lượng người Việt đầu tiên trên đất Sài Gòn và Chân Lạp dần dần  gia tăng. Đó là những người Việt không chỉ thành thạo kiếm cung mà còn tinh thông nghề sông nước. Họ tập trung sống và làm quen với ngôn ngữ -văn hóa-tín ngưỡng của người Khmer, người Chăm, người Mạ, và người Xtiêng bản địa. Về sau, trên đất Sài Gòn có thêm nhiều di dân người Hoa do chính chúa Nguyễn cho phép và khuyến khích cùng vào khai khẩn với người Việt. Tất cả cư dân tứ xứ đó chung tay bươn chải kiếm sống và chiến đấu với cọp beo, cá sấu, thú hoang hùng cứ khắp nơi. Sau 70 năm khai phá ròng rã, căn cứ quân binh và di dân Việt ở Sài Gòn đã lan tỏa rộng ra cả Đồng Nai và tiến đến khu vực Tiền Giang. Vào năm 1698, lảnh thổ ấy được nhập vào Đàng Trong, chuyển thành Phủ Gia Định. Lảnh thổ tân lập có trung tâm là Sài Gòn, nay được chúa Nguyễn đặt tên chính thức là Huyện Tân Bình, có nghĩa là vùng đất mới yên bình !

Năm 1788, sau cơn binh lửa tàn khốc với Tây Sơn, Sài Gòn được tái thiết với quy mô lớn. Gia Định Kinh ra đời, là kinh đô của phần đất Đàng Trong do Nguyễn Ánh điều hành. Với sự hỗ trợ của một số chuyên viên Pháp, kinh đô mới mẻ này được thiết kế và sắp đặt theo lối châu Âu, phát triển từ mặt sông trở vào. Năm 1802, sau chiến thắng Tây Sơn, vua Gia Long dời kinh đô ra Huế nhưng vẫn duy trì Gia Định là trung tâm giao thương của cả nước và là cửa ngỏ thông thương hàng đầu với bên ngoài. Bên cạnh các tàu thuyền Xiêm La, Nhật Bản và Trung Hoa, các thuyền buôn Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mỹ lần lượt tìm đến “hải khẩu” Gia Định.

Năm 1819, John White – thuyền trưởng Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn, đã nhận ra đường thủy từ cửa biển Cần Giờ vào đến trung tâm Gia Định rất thuận tiện. Hơn thế nữa, ông ghi chép trong hồi ký, từ Sài Gòn có hẳn một hệ thống kinh rạch tỏa ra khắp đồng bằng sông Cửu Long và qua đến Campuchia. Từ đầu thế kỷ 19, hai chữ Sài Gòn bắt đầu xuất hiện trên các bản đồ hàng hải của phương Tây. Bài phú Gia Định phong cảnh vịnh khắc họa hình ảnh Sài Gòn trước khi Pháp vào, đã có nhiều chợ búa nhộn nhịp, hàng phố thương khách góp nhóp đủ loại rừng vật biển. Đặc biệt là cảnh sông nước ghe đen mũi, ghe vàng mũi vào ra coi lòa nước (thuyền từ các tỉnh) và tàu xanh mang, tàu đỏ mang hàng hóa chất ngất trời (thuyền từ các nước)

Nảy nở cảng thị quốc tế

Thực dân Pháp xâm chiếm Sài Gòn năm 1859, đã mau sớm khai thác ngay lợi thế sông biển của thành phố. Ngay khi tiếng súng giao tranh chưa chấm dứt, các đô đốc Pháp cho làm mới cầu cảng và kho bãi của bến tàu Khánh Hội, trở thành Thương cảng quốc tế mở cửa vào khoảng 1860. Thương cảng Sài Gòn ngay lập tức cạnh tranh với cảng Hồng Kông và Singapore bằng cách không đánh thuế hàng hóa ra vào. Tàu thuyền nước ngoài cập bến Sài Gòn chỉ đóng lệ phí neo tàu tính theo khối lượng và số ngày. Cùng lúc đó, Thủy xưởng của nhà Nguyễn ở rạch Thị Nghè được hiện đại hóa thành công xưởng Ba Son – chuyên sửa chửa và đóng tàu cho cả chiến thuyền và thương thuyền. Các hãng hàng hải quốc tế, đi cùng là công ty bảo hiểm, ngân hàng, kế đến là văn phòng lảnh sự và thương mại của nhiều nước, nhanh chóng “đổ bộ” Sài Gòn. Họ đặt trụ sở dọc theo thương cảng, bờ sông Bến Nghé, bờ kênh Chợ Vải và bờ kênh Tàu Hủ. Từ cuối những năm 1860 một tuyến liên lạc điện tín từ Sài Gòn đi Pháp và tỏa ra các châu lục khác đã được thiết lập nhờ có đường cáp xuyên biển được xây dựng ở Vũng Tàu.

Khu vực kênh Tàu Hũ, mở đầu là Cột Cờ Thủ Ngữ, Cầu Móng, nhà phố ngân hàng, tàu thuyền ra vào ( ảnh tư liệu những năm cuối 1930 )

Lúa gạo, nông lâm sản, hàng thủ công dồi dào của Nam Kỳ và sau đấy hàng hóa của miền Trung và miền Bắc qua cảng Sài Gòn xuất đi khắp thế giới. Trong khi ấy, các con kênh nối Sài Gòn – Chợ Lớn và miền Tây được nạo vét và mở rộng rất sớm. Người Pháp cho làm thêm kênh Vành Đai nối rạch Thị Nghè với Chợ Lớn (1875) và kênh Tẻ-kênh Đôi (1906-1912) để tăng năng lực vận chuyển hàng hóa từ miền Tây lên Sài Gòn và ra biển. Theo thống kê năm 1937, Thương cảng Sài Gòn đã đón 1559 lượt thương thuyền ra vào. Ngoài Pháp, số lượng thương thuyền đến thành phố xếp theo thứ tự lần lượt là Anh, Hà Lan, Nhật,Ý, Đan Mạch, Na Uy, Hy Lạp,Đức, Mỹ, Panama,Hungary, Nam Tư Thụy Điển. Rất hấp dẩn, vào năm 1929, tại vị trí Bến Bạch Đằng hiện giờ, đã khai trương tuyến du lịch bằng thũy phi cơ đến Angkor của Campuchia. Sài Gòn chính là cửa ngỏ du lịch về cả đường biển và hàng không để du khách nước ngoài đi thăm khu vực Nam Đông Dương.

Văn hóa “trăm sông về biển”

Tâm thức và lối sống sông biển rộng mở của Sài Gòn đã sinh thành từ người bản địa – thời kỳ Phù Nam. Các hiện vật khảo cổ học ở thành phố, đặc biệt tại Cần Giờ, cho thấy quanh thế kỷ thứ Nhất, vùng đất Sài Gòn cổ đại đã gắn bó sinh hoạt sông nước và hội tụ giao lưu nhiều nền văn hóa. Tiêu biểu là chiếc  “cà ràng” (bếp bằng đất nung đặt trên thuyền ghe, gọi theo tiếng Khmer) và những chiếc khuyên tai hình hai đầu thú tinh xảo. Sách Gia Định Thành Thông Chí – viết trước 1820, cho biết dân Gia Định cứ 10 người thì có đến 9 người biết chèo thuyền và biết bơi. Trên sông rạch đầy thuyền ghe, đi lại cả đêm ngày. Chính quyền có quy định phương hướng lái thuyền sao cho trật tự. Người Gia Định còn biết nhiều thứ tiếng vì quen buôn bán với nhiều xứ sở lân bang. Cũng theo sách này, người Gia Định thích ăn Mắm, chế biến từ các loại cá, một đặc thù ẩm thực của dân sông biển !

Hơn thế nữa, cái khí chất phóng khoáng – “tứ hải giai huynh đệ” của người Gia Định thể hiện qua việc khách đến nhà, bất kể thân hay sơ đều được mời trầu nước và ăn uống no say. Tính khí hào hiệp ấy thể hiện ngay trong “sự tích” Nhà Bè ở ngả ba sông – nơi để sẳn thức ăn, vật dụng miển phí cho khách qua lại – một dạng “siêu thị không đồng” đầu tiên theo cách nói đương thời . Nhiều người dân lấy thuyền là nhà, di chuyển bất cứ nơi nào mình thích. Trên các con sông hay kênh rạch, luôn có tiếng hò và lời ca vui khỏe. Học giả Trương Vĩnh Ký đã ghi được bài hò cho biết đầy đủ hơn 20 địa danh đường sông từ Sài Gòn đi các tĩnh. Trong đó, thật hồn nhiên và thân thiện,  có câu hát kết bè, kết bạn như sau: Kể từ rạch Cát, rạch Dơi- Sài Gòn, Bến Nghé tựu nơi Nhà Bè -Rủ nhau lảnh thẻ chiêu đề -Ghe nào bạn nấy ta hè kéo neo !

Bản đồ lộ trình đường thủy từ Cần Giờ vào Sài Gòn năm 1820 của John White – thuyền trưởng Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Trên bản đồ có ghi chép kỹ độ sâu của từng đoạn sông, nhất là những khúc rẽ – Ảnh: TƯ LIỆU

Khá nhiều địa danh ở thành phố đến nay vẫn còn là dấu tích liên quan sông nước như các tên gọi bắt đầu bằng chữ Bàu (ao), Bến, Bùng Binh (chổ phình giữa sông rạch), Bưng (đất trũng đọng nước ), Cầu, Cù lao (Việt hóa từ Pulau trong tiếng Chàm, tiếng Malay và Indo, có nghĩa là hòn đảo nhỏ), Đầm, Giồng (dãi đất cao nổi lên ven sông ), Hóc (dòng nước nhỏ ), Láng (nơi ngập nước), Lung (chổ quanh năm có nước), Rạch, Suối, Ụ, Vàm…Trong khi ấy về tín ngưỡng, trên đất Sài Gòn từ xưa đến nay có nhiều đền miếu thờ cá Ông, Phật Bà Nam Hải… với nhiều lễ hội trọng thể.

Sóng gió phía trước

Biến đổi khí hậu, nước mặn xâm nhập sâu, triều cường, môi trường ô nhiểm là những vấn nạn đang đến cho nhiều đô thị sông biển trên thế giới. Tại thành phố, Cần Giờ, Nhà Bè, quận Bảy, quận Tám, quận Tư là những nơi phải đương đầu trước nhất với các vấn nạn trên. Tuy nhiên, bên cạnh vấn nạn thiên nhiên, các vấn nạn về văn hóa-lịch sử cũng đã phát khởi nghiêm trọng. Không ít các kiến trúc và cảnh quan giá trị gắn bó sông nước đã “tan tác”, hay bị bỏ phế. Không để lại ngay cả một bia lưu niệm dấu tích. Đó là các khu pháo đài dọc các tuyến đường sông, thủy xưởng Ba Son, Cảng Khánh Hội, Tân Cảng, Lò Gốm Hưng Lợi, nhà đèn Chợ Quán, Phà Thủ Thiêm, cầu Ba Cẳng, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, Bến phà Thủ thiêm, Bến tàu Hải Quân ở Bến Bạch Đằng…

Hiện tại, nhiều cơ quan đang soạn thảo các kế hoạch quy hoạch và phát triển các hành lang ven sông, cải tạo kênh rạch nội thành, xây dựng mới bán đảo Thủ Thiêm, Thanh Đa-Bình Quới và Cần Giờ, từ nay đến 2030 và xa hơn. Theo chúng tôi, các khu vực ven sông biển, kênh rạch, hồ nước lớn phải kiên quyết được coi là không gian công cộng. Chính quyền nên ưu tiên dành đất các nơi này làm công viên sinh thái, công viên văn hóa – lịch sử và bảo tàng chứ không thể chỉ dành cho các khu dân cư cao cấp và công trình thương mại. Các kiến trúc cổ, các công trình tâm linh, các chợ bên sông, các bến tàu và đường thũy cần được giữ gìn tốt và sử dụng đa năng để hợp thành một hệ thống văn hóa- kinh tế bền vững.

Chúng ta không thể lảng phí những lớp “phù sa” văn hóa, bồi đắp xuyên suốt từ thuở Prei Nokor đến Tân Bình, Gia Định và Sài Gòn hiện đại. TPHCM hoàn toàn là một đô thành sông biển kỳ thú, một thành phố liên thông chặt chẽ với cả Đông Dương, Biển Đông và Ấn Độ- Thái Bình Dương. Lịch sử đã trao cho Sài Gòn sứ mệnh tiên phong hội nhập quốc tế, đem hàng hóa, con người và thương hiệu Việt Nam ra với biển lớn ! Đừng đánh mất, đừng làm phôi pha niềm tự hào và quyền lợi thiêng liêng ấy !

SÀI GÒN THÀNH PHỐ HƯỚNG RA SÔNG BIỂN

Một góc bản đồ mô tả lộ trình đường thủy từ Cần Giờ vào Sài Gòn năm 1820 của John White thuyền trưởng Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Trên bản đồ, John White ghi chép kỹ càng độ sâu của từng đoạn sông, nhất là những khúc rẽ. Sau bốn tháng ở Sài Gòn và ra Đà Nẵng, Huế, đoàn tàu của John White trở về Mỹ mang theo đường thô, tơ lụa và lúa gạo cùng nhiều hàng lưu niệm khác. Rất tiếc do nhiều thủ tục phiền hà, giữa Việt Nam và Mỹ đã không có được quan hệ thương mại và ngoại giao chính thức. Trong ảnh : chi tiết về Sài Gòn cho thấy thành phố đã được quy hoạch, sắp đặt theo lối châu Âu khá quy củ ( ảnh chụp từ bản đồ đang lưu giữ tại Đại học Yale)

CÁNH CUNG VÀNG HAI BỜ SÔNG SÀI GÒN

Nhìn trên bản đồ, hai bờ sông Sài Gòn với một bên là quận Bình Thạnh, quận Một và quận Tư, một bên là bán đảo Thủ Thiêm, hợp lại giống như một cánh cung vững chắc. Đoạn bờ sông từ cầu Tân Thuận đến cầu Sài Gòn dài khoảng 6,5 km. Tương ứng bên phía Thủ Thiêm có độ dài lớn hơn một ít. Không gian dọc hai bờ sông cần giữ là không gian công cộng, làm hành lang dạo chơi, công viên thoáng rộng. Đây cũng là hành lang văn hóa- lịch sử -du lịch đan xen cả quá khứ, hiện tại và tương lai thông qua nhiều hoạt động như bia lưu niệm, tiểu tượng, tiểu cảnh, sân khấu nổi, tàu thuyền du ngoạn vv. Rất mong sẽ có những cuộc thi thiết kế ý tưởng rộng rãi để người dân, nhất là giới trẻ tham gia để hiện thực hóa CÁNH CUNG VÀNG quý giá , không đâu

 

SÀI GÒN CUỐI THẾ KỶ 19 ĐƯỜNG THỦY LÀ CHÍNH



Một trong những dấu tích đô thành sông biển của Sài Gòn là tờ Gia Định Báo. Đây là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ra đời năm 1865, trong đó phần tin tức là được gọi là tạp vụ, có nhiều tin bài về sinh hoạt của Sài Gòn và Nam Kỳ. Trong đó, đáng chú ý thường xuyên có các câu chuyện thuyền ghe từ nước ngoài chở hàng đến hoặc từ miền Tây chở hàng, chở người lên Sài Gòn. Số báo đề ngày 1/1/1866 cho biết triều đình Huế có đưa mười người thợ vào học nghề đóng “tàu khói” (tàu hơi nước) tại Sài Gòn và cũng qua đấy đặt mua “tàu khói” tại Hương Cảng.
Đặc biệt, tin bài hàng đầu của Gia Định Báo nhiều năm liền là bảng dự báo con nước lên xuống hàng ngày trong thành phố. Dĩ nhiên lúc ấy, Sài Gòn đã có đường phố, đường bộ nhưng tất cả vẫn còn sơ khai, giao thông đường thủy qua kinh rạch, sông biển vẫn là chính. Mãi đến 1881 mới có xe lửa chạy nội thị (xe tram), 1886- xe lửa chạy liên tĩnh ( đường sắt Sài Gòn-Mỹ Tho), 1913 – xe đò ( Sài Gòn-Tây Ninh) và 1931- hàng không ( Sài Gòn-Paris ) . Lịch sử đã sang trang, thành phố đã có nhiều phương tiện giao thông hiện đại và phong phú, tuy nhiên giao thông đường thủy vẫn rất cần thiết và  còn nhiều cơ hội phát triển ! Trong ảnh là Trang Một tờ Gia Định Báo ngày 1/1/1886 với mục dự báo con nước nằm dưới tên tờ báo ( tư liệu Thư viện quốc gia Pháp )