PHIẾM VỀ TRÀ

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

           Phiem ve tra 01

Bình tích trà vĩ đại ở bên Tàu (Ảnh Liêu VĩnhBình)

Trà đã xâm nhập vào tâm hồn người Trung Hoa, từ vạn cổ. Trà được 88 % dân Trung Hoa dùng, vì họ tin là nó giải nhiệt, tẩy độc đem lại sức khỏe, long đàm và tiêu hóa thức ăn dầu mỡ. Trà rất thông dụng, trà được dùng khắp nơi trên thế giới. Trà dùng trong các buổi cúng tế. Nhà nhà giàu nghèo đều có trà. Khách đến nhà là phải pha trà mời, nếu không coi như bất lịch sự. Trà mở đầu cho buổi hội họp, hay họp thơ văn Tao Ðàn. Trà dùng để giải lao vân vân…

Trà là loại giải khát mà mọi người ưa dùng trên thế giới, sau nước. Người Mỹ dùng cỡ 8 tỉ lít trà hằng năm.

Xin nói về trà, vì trong chuyến đi Trung Hoa kỳ nầy (04-18/01/2003), các hướng dẫn viên gần như thuyết trình và hết lời ca tụng trà Trung Quốc. Hơn nữa, cả đoàn du khách rất mê say, với cách giới thiệu các bình tích và các loại trà, cùng cung cách pha trà của các cô gái duyên dáng, làm cả đoàn ngây ngất thích thú mua sắm quá chừng, đến đỗi hướng dẫn viên phải khuyên là mua bớt đi, vì nếu không, đâu còn tiền mà mua trong hai tuần tới. Ở đây trà rất mắc, 100g tới vài chục đô la Úc. Ấy vậy mà người nào người nấy cũng ráng cộ cho cả đống!

Gần đây trà được nghiên cứu theo khoa học và ứng dụng, để ngăn ngừa bịnh tật, nhứt là ung thư. Vậy, xin thử phiếm bàn về trà coi có phải vậy không.  Nhưng trước tiên, phải nói sơ về trà.

Nguồn gốc của Trà

Trà có tên là Theaceae sinensis, Camillia sinensis, trà Hoa Nữ Trung Hoa. Trà có gần 5000 năm về trước, tức khoảng năm 2737 trước công nghuyên, ở bên Tàu, nhiều nhứt  ở vùng Vân Nam, vì nằm trên cao nguyên núi đồi luôn luôn có mây bao phủ tuyệt đẹp, rất thích hợp cho việc trồng trà.

Xưa kia, Thần Nông là vị Hoàng Ðế rất thương yêu dân, nên thường dạy họ về nông nghiệp, đánh cá, chăn nuôi gia súc và nhứt là chuyên lo sức khỏe cùng vệ sinh ăn uống. Ông thường khuyên con dân, nên phòng bịnh bằng cách đun sôi nước mới uống. Nhân chuyến kinh lý, nhà vua cho đoàn xa giá ngừng lại giữa rừng nghỉ mệt và giải lao. Ðang lúc đun nước, cơn gió thoảng qua làm lá cây khô ở lùm cây kế bên, bay vô nồi nước. Nước ngả màu vàng vàng, nên nhà vua mới uống thử thấy nó thơm ngon, mát nhưng có vị đăng đắng, ông gọi là: ‘khổ thảo’. Từ đó ông khuyên dân nên dùng lá cây nầy, pha nước uống.

Khổng Tử đã từng luận bàn về trà và khuyên mọi người nên dùng trà, cũng không ngoài mục đích phòng ngừa bịnh tật.

Trà được các giới phong lưu tao nhã dùng, để luận đàm văn chương thi phú, nghệ thuật, mà cũng từ đó lấy cảm hứng hay suy tư dưới thời của nhà Ðường.

Nhiều người cho nguồn gốc ‘Trà Ðạo’ là một triết lý thanh tao về cung cách pha và uống trà phát xuất từ Nhựt Bổn, nhưng thực ra nó phát xuất từ Trung Hoa.

Vào năm 800 sau cơng nguyên, Lu Yu đã nghiên cứu và viết quyển sách Ch’a ching. Vì mồ côi, nên ông vào chùa tu, thông minh nhưng lười, nên ông xuất viện nghiên cứu cung cách của các vị chư tăng, về việc dùng trà. Ông ra phái triết lý Zen nhà Phật (Zen Buddhist philosophy), trầm tư mặc tưởng, nó như thiền. Nhà vua rất thích và giới thiệu ông cho Nhựt Hoàng, rồi ông sang Nhựt truyền đạo (Zen Buddhist missionnaries). Việc nầy giống như Bonsai, ai cũng tưởng nó phát xuất từ Nhựt, thật ra nó có nguồn gốc bên Trung Hoa, mà chúng tôi khi được thưởng lãm đã phải bái phục trong kỳ du ngoạn nầy.

Trà được phổ biến khắp nước Trung Hoa, người ta uống trà chớ ít khi uống cà phê. Người dân nông thôn không biết cà phê.

Trong thơ Kiều, ở đoạn Thúy Kiều trò truyện cùng Thúc Sinh, thi sĩ Nguyễn Du đã viết:

‘Khi hương sớm, lúc trà trưa,

Bàn vây điếm nước, đường tơ họa đàn.’

Thúy Kiều nhớ Kim Trọng:

‘Mành Tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.’

Trong các cơ sở, người nào cũng sắm một tách trà có nắp, hoặc bình trà nhỏ; thật sự nó như cái keo có nắp vặn cho đừng đổ. Ðâu đâu, cả trên xe lửa cũng có bình thủy hay vòi nước nóng cho hành khách pha trà.

Cây trà

Cây trà phát xuất từ phía tây tỉnh Vân Nam, giữa Trung Hoa và Miến Ðiện. Thân cây cao từ 1 thước tới 12 thước. Lá nho nhỏ xanh lục đậm, óng ánh và xanh tươi quanh năm. Hoa trắng, nhỏ nhưng đượm mùi thơm ngọt ngào. Tuy nhiên nó có thể trồng ở khắp nơi trên thế giới, nhưng phải ở độ cao hơn 2000 thước trên mặt biển.

Trà được gặt hái bằng tay và chỉ 2 lá non đầu vào mùa xuân, gọi là hảo hạng hay hạng nhứt. Còn nếu hái vào mùa thu, thì gọi là trà hạng nhì. Tuy nhiên người ta có thể hái các lá già, nhiều khi họ cắt thấp xuống làm trà ‘bột instant’. Trà gói hay ‘bag’ không thể nào ngon được, họa chăng chúng ta có bỏ thêm vô chút mùi vị. Việt Nam có loại lá trà như vầy: lá già và cành được chặt nhỏ và chỉ người bình dân dùng: Trà Huế.

Khi vào Nam, người Huế mang loại trà nầy vào để uống, người Miền Nam thấy ngon mà không biết tên, nên kêu là trà Huế. Họ cũng gọi người Trung là người Huế hay người nẩu. Saigon cũng có rất nhiều quán trà Huế ở các góc đường, nổi tiếng là trà Huế đường Lefèvre tức Nguyễn công Trứ.

Trà chu du sang các nước khác, là nhờ nhà thực vật học Anh say mê, tìm đến Trung Hoa nghiên cứu học hỏi cách trồng, rồi mang hạt giống sang Ấn và Ceylon. Sau đó đưa đi khắp nơi trên thế giới, vì ‘Mặt trời Anh Quốc không bao giờ lặn’.

Trà cũng thay đổi theo môi sinh. Khoa học cũng biến đổi, lai giống vân vân… làm mất đi cái giá trị thiên nhiên nguyên thủy của nó.

Các loại trà

Có hằng trăm loại trà, nhưng tựu trung chỉ có ba loại chánh mà thôi: trà xanh, trà đen và trà Ô Long.

1- Thanh trà, trà xanh là trà mới hái đem phơi khô.

2- Hắc trà, trà đen là trà mới hái, ủ lên men rất lâu, vị rất đắng.

3- Rồng đen, trà Ô long (ô là đen, còn long là rồng) là lá trà được để hơi lên men một chút, rồi ngưng ngang, tức giữa giai đoạn ướp thanh trà và hắc trà.

   Trà Ô long ngon nhứt vẫn là trà Ô long Ðài Loan, rồi đến Phúc Kiến.

Xin đừng hiểu lầm Dược thảo trà, nó hoàn toàn không phải là trà. Nó là sự kết hợp của nhiều loại thảo mộc, dùng để trị bịnh nào đó thôi.

Vì ở trên đồi cao cheo leo nguy hiểm, khó hái nên người ta huấn luyện khỉ, để hái lá trà: Trà khỉ hái (monkey picking tea) hay Hầu trà. Có ngắm nhìn những đồi trà xanh tươi quanh sườn núi, mới biết nó đẹp như thế nào! Lá trà được cuốn lại như cây tăm.

Xin đừng quên trà xanh ở Blao cũng ngon thơm, được xuất cảng sang Nhựt. Ngoài ra trà móc câu, lưỡi chim én của tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hóa cũng đệ nhứt hảo hạng, vì ngày xưa lễ vật cống hiến cho Trung Quốc không bao giờ thiếu nó được, thì đủ biết nó ngon như thế nào.

 

Pha trà và thưởng thức trà

Nghề gì cũng lắm công phu. Pha trà cũng vậy.  Bình trà được tráng nước sôi trước hay trà bỏ vô bình rồi tráng nước sôi xong mới đổ bỏ nước xuống cái khay. Cái khay cũng được tráng nước sôi trước. Nước thiệt sôi châm vô bình rồi đậy nắp bình lại, để một hồi lâu khoảng 5 phút cho thấm và ra trà, rồi mới rót ra các chung trà nho nhỏ xinh xinh.

Bình trà có đủ màu sắc, đủ cỡ từ nhỏ tới lớn, đủ kiểu và đủ hình dáng. Bình trà tốt để pha trà cho ngon, phải là bình đất màu đỏ, tốt nhứt là màu xanh da trời. Cái quí và khéo là khi châm, trà không bị đổ một giọt nước nào theo miệng bình và khi nghiêng không bị chảy. Bình càng xưa cũ, pha trà càng ngon thơm.

Trong buổi Dạ tiệc Yến Vũ, cả đoàn may mắn được nơi đây dành riêng bàn danh dự to lớn tới 23 chỗ ngồi, có tên các chánh khách như Ðặng Tiểu Bình và các quốc khách an tọa, vào lúc khai trương hí viện nầy. Ngoài cái hay, cái đẹp, đoàn còn có cái vui là vì hai vị được chọn lựa làm sứ giả vào triều chầu: bác sĩ T T X, sứ giả Anh Quốc, bác sĩ P Q L, trong bộ quan phục cổ xưa. Cái hấp dẫn của buổi trình diễn còn có màn lạ mắt là ‘bình châm trà’ của các quan thái giám bằng đồng sáng bóng, có cái vòi dài một mét. Cái hay của họ là làm sao đứng từ xa châm trà vô tách, mà không đổ ra ngoài. Thật giống như xem phim chưởng Hồng Kông vậy.

Nhớ lại vào tháng Hai năm 1975, chúng tôi có dịp đến Ðài loan, đi xe lửa từ Ðài Bắc đến Ðài Trung. Toa xe rộng, sạch sẽ và tiện nghi hơn tàu hỏa ở đây nhiều, vì chỗ ngồi có bàn ăn xếp và có chỗ để ly nước trà. Lâu lâu nhân viên ẩm thực mang trà cho khách lựa chọn, sau đó có người mang bình nước nóng và cũng châm ngang người, làm ai cũng sợ bị phỏng … da.

Sau buổi hội thảo về Y Khoa cổ truyền Trung Hoa, giáo sư Giám Ðốc Bịnh viện tỉnh Vân Nam có thiết đãi buổi ăn trưa, toàn kỳ hoa dị thảo. Nhân đây, ông cũng giảng giải cho hiểu thêm về dược tánh của từng món ăn và không quên nói tới giá trị của thanh trà giúp tẩy bớt dầu mỡ.

Nghệ thuật uống trà là phải đưa tách trà lên, đưa qua đưa lại, hít ngửi mùi thơm, rồi mới nếm từng hớp nhỏ thôi, để thưởng thức hương vị của trà.

Lênh đênh trên thuyền ‘Rồng’ ở hồ Nhĩ Hải, trong khi xem trình diễn văn hóa người Bạch, du khách được hầu trà, gọi là “Tam Ðạo trà”.

1/ Trà đắng: lúc nhỏ phải khắc khổ, lăn lóc, vật lộn với đời để ngoi lên. Trà nầy mới nếm thấy đắng sau lại có hậu vị ngọt, không thơm.

2/ Trà ngọt: có sự nghiệp, có mái ấm gia đình sung túc. Trà nầy ngọt, ấy vậy mà còn cho thêm miếng mứt nữa.

3/ Trà hồi niệm: an hưởng tuổi già, nhớ lại lúc thiếu thời, cũng là chung trà chấm dứt buổi trình diễn và mọi người có thể chụp hình chung với vũ nữ hay diễn viên vân vân.

Cách uống trà của người Vân Nam, cũng khác tùy theo vùng:

* Sấy trà:

Vùng Ðông Bắc thích sấy lá trà: Lấy lá trà bỏ vào ấm đất, sao rang cho lá vàng, mùi thơm bốc lên, tiếng nổ lép bép mới lấy ra bỏ vô ấm, rồi châm nước sôi. Ðợi tới khi lá trà chìm xuống hết, mới rót ra uống.

* Trà ướp:

Vùng núi, lại uống trà bằng cách lấy lá tươi cho vào chum, đốt lên rồi cho thêm lá trà vào và nén cho thật chặt, đến khi đầy chum mới thôi. Mấy tháng sau thì có trà ướp, bẻ chút ít ra pha uống.

* Trà nướng:

Người Hoa gốc Thái ở đây, lại uống trà bằng cách lấy lá hay cành trà non, hơ trên ngọn lửa, cho đến khi lá vàng và tỏa ra mùi thơm. Họ mới lấy năm, sáu lá bỏ vào bình pha.

Người Hồ Nam lại nhấm nháp lá trà non cho thơm ngon trước, rồi mới uống nước sau.

Trà xuất cảng ra ngoại quốc, qua đường bộ tới các nước láng giềng, sau đó sang Âu Châu, sang Mỹ Châu, cũng giống như theo đường Tơ lụa cũng từ Vân Nam. Trà rất quí và đắt ở các nước Âu Mỹ. 

Âu Châu

Trà xâm nhập vào Bồ Ðào Nha năm 1560, do Cha Jasper de Cruz, rồi nó lan ra Pháp, Hòa Lan và các nước khác.

Bà Marquise de Seven lại kiểu cách uống trà với sữa. Bắt đầu từ đó người ta có phong trào uống trà với sữa, nhiều hơn chocolate, café hay rượu chát.

Bên Anh, vua Charles II, Nữ Hoàng Elizabeth I cũng thích trà. Trà uống với đường, có khi bỏ thêm vô lát chanh cho thơm ngon, là lối thưởng thức của người quí phái. Ðể chứng tỏ sang trọng, những nhà trưởng giả phải pha và dùng trà bằng bộ đồ trà bằng sứ, kiểu rất quí.

Bộ đồ trà quí Việt Nam gọi là kỷ trà, như trong câu ca dao:

‘Chồng gần không lấy,

Ðể lấy chồng xa,

Mai sau cha yếu mẹ già,

Chén cơm, đôi đủa, bộ kỷ trà ai dưng?.’

Phong trào uống trà lan ra khắp nước, làm đảo lộn xã hội Anh Quốc: Nghỉ xả hơi hay giải lao, để uống trà gọi là tea-break gồm có: giải lao buổi sáng, morning tea và buổi chiều, afternoon tea.

Trà quá đắt và quí, nên người Anh mới tìm cách trao đổi nha phiến lấy trà: vỏ quít dầy, móng tay nhọn. Phải chăng đây cũng là nguồn gốc của chiến tranh nha phiến?

Người Anh có rất nhiều danh từ ghép với trà:

–   Beef tea:  roast beef, potato và tea.

–   Low tea:  người quí phái nói ăn trưa.

–   High tea:  buổi ăn chánh.

–   Coffee house: quán nhâm nhi café, trà có bàn luận văn chương thế kỷ XVIII.

–   Tea garden:    trà thính phòng, uống trà nghe nhạc.

–   Tiền típ là gì ? Tiền cho các chiêu đãi viên. Theo thói quen, người quí phái muốn có tách trà nóng, thì bỏ đồng tiền ở chỗ ngồi, tiếp đãi viên hiểu ý đem trà tới. Từ đó mới có tục lệ tiền TIPS tức ‘To Insure Prompt Service’.

–   Cup of tea: tách trà, mà cũng có nghĩa là dễ như chơi, dễ ợt cũng như piece of cake.

–   Tea cloth: khăn dùng pha trà.

–   Tea cosy: bao bình trà Việt Nam có ấm xơ dừa, nhà giàu có hộp đựng ấm trà bằng đồng, chạm trỗ tuyệt đẹp.

–   Tea room: phòng trà khiêu vũ.

     Duyên dáng và dễ thương nhứt là …gì ? Quý vị thử đoán   coi. Ðó là:

–   Tea lady: cô hàng chè xanh!

Riêng ở Úc có một loại tea đặc biệt, mà từ điển The Macquarie Dictionary Úc cũng không có, chỉ có nhân viên bưu điện mới biết thôi đó là tea-money quá đã! Sở Bưu điện tặng cho ai làm overtime ngày thứ bảy và chủ nhựt, số tiền là 14 đô la, không có khai thuế! Quá sướng!

Mỹ Châu

Trà du nhập đất Mỹ vào thế kỷ XVII.  Người Mỹ thích uống hắc trà có nước đá và đường, đôi khi bỏ thêm lát chanh.

Nhớ lại ở VN, vào trưa hè sau khi đánh banh vừa mệt, vừa mồ hôi nhễ nhại, mà có ly trà đá chanh đường, thì nó đã khát thấm giọng và sảng khoái biết mấy!

Trà đã mắc mà Charles Towshand (Anh) còn đánh thuế nặng ở New York, nên đưa tới biểu tình đổ trà xuống biển, về sau lan ra và biến  thành phong trào Cách Mạng ở Mỹ.

Nhựt Bổn

Vào thế kỷ thứ mười hai, các nhà Sư như Yeisei sang Trung Hoa nghiên cứu đạo pháp, quá thích trà nên khi trở về cố hương không quên mang theo hột trà về trồng và truyền bá. Ông lại đem trà vào môn thiền (Zen), người Nhựt cho ông là tổ sư trà (The Father of Tea).

Nhờ có nhà vua hậu thuẫn, Zen được truyền bá sâu rộng trong dân chúng và trở thành một nghệ thuật thanh tao: Nhựt lễ trà hay Trà đạo (Japanese Tea Ceremony, Cha-no-yu). Trà đạo phải học rất công phu, học nhiều năm mới tốt nghiệp, có bằng cấp hẳn hòi. Ðây là cách pha trà một cách tuyệt hảo, người hầu dâng trà một cách dịu dàng cung kính lễ phép.

Lúc đầu nghệ thuật nầy được trình diễn trong căn nhà nhỏ thật yên tĩnh và sạch sẽ, rồi sau nầy các Geisha hầu cho các nhà quí phái nhiều tiền mua chuộc, nên nó trở nên hư hỏng mất hết ý nghĩa cao quí của nó, giống như ả đào hát chèo ở nước ta, trước tao nhã, sau đượm mùi ăn chơi đàng điếm.

Nhà sư Ikkya (1394-1481) mới khổ công chỉnh đốn lại, nhờ đó nó mới trở về nguyên thủy thanh cao, trưởng giả của người quí phái, của nó ngày xưa. Từ đó các Shogun, Lãnh chúa vân vân… trước khi ra tay hành hiệp hay chiến đấu, đều được vinh dự dưng trà kiểu nầy.

Khi bị ép vào chùa, Thúy Kiều phải đau khổ hầu trà cho Thúc Sinh và Hoạn Thư, mà không dám hé môi:

‘Thiền trà cạn nước hồng mai,

Thong dong nối gót, thư trai cùng về’.

Trà trong y khoa

Trà rất tốt và không độc. Nó chứa chất caffeine, theobromine, theophylline và polyphenols. Theo GS Colin Binns, ÐH Curtin cho trà có thể ngăn ngừa ung thư, bịnh tim mạch nếu uống mỗi ngày nên uống chừng 3 tới 6 tách trà.

A. Tai hại của trà

Vì trà có chứa caffeine nên gây ra tác hại:

  • Kích thích thần kinh, bồn chồn, mất ngủ, ưu phiền.
  • Tim hồi hộp.
  • Có thai, cho con bú, mất ngủ, bị bịnh lên máu không nên uống trà.
  • Trẻ con không nên uống trà vì những lý do trên.

B. Ðiều lợi của trà

1. Trà rất tốt, vì nó có tánh cách kháng oxidant mạnh polyphenols để ngăn chặn phản ứng các gốc tự do. Các chất nầy gây thiệt hại cho tế bào nhứt là DNA, phân tử và chất proteins trong cơ thể. Chất kháng oxidant (anti oxidant) giúp loại trừ oxidant là chất lão hóa, nhờ đó mà tươi trẻ, sống lâu.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy hắc trà ít kháng oxidant hơn thanh trà. Trà sữa lại không tốt bằng trà không có sữa, vì các diên tố trong sữa ngăn chận hiệu năng của polyphenols.

2. Trà Xanh ngăn ngừa nguy cơ ung thư.

Chất polyphenols của thanh trà là catechins, nó có khả năng đình trệ sự tăng trưởng tế bào ung thư, chớ không phải tế bào thường. Thanh trà còn giúp cho việc trị bịnh càng hữu hiệu thêm. Nó cũng làm cho ung thư phát sinh trễ đi. Theo cuộc thí nghiệm của bác sĩ Jack Bukowski, nhà miễn nhiễm học, thuộc Women’s Hospital, ở Boston thì trà dùng chống ung thư (The SMH 23/04/03) nhờ nó gia tăng miễn nhiễm. Trà giúp chống bịnh tim và ung thư, nhưng phải pha 1 gói trà và chờ 5 phút sau mới uống. Có thể pha với chanh, đường. Một ngày dùng khoảng 5 tách. 

Phổi:

Thanh trà ngừa được ung thư phổi, bằng chứng là người Nhựt hút nhiều thuốc lá mà ít bị bịnh trên. Nó giảm hiệu năng gây đột biến (mutagenic effects) của thuốc lá.

:

Trà thanh làm giảm ung thư vú, vì nó ảnh hưởng tới lượng kích thích tố. Nếu điều trị ung thư mà dùng thanh trà, chất epigallocatechin gallate sẽ có tác dụng ngừa ung thư, sẽ giúp cho thuốc Sulindac và Tamoxifen hiệu nghiệm thêm.

Thực quản và bao tử:

Chất epigallocatechin EGC của trà là chất kháng oxy hóa mạnh. Nó khử trừ các gốc tự do chuyên làm hại DNA. Như vậy trà xanh giúp ngăn ngừa ung thư thực quản và bao tử.

Ruột già:

Ngăn ngừa ung thư ruột già ở nữ giới nhiều hơn nam giới. Người ta chưa tìm ra nguyên do.

Ung thư nhiếp hộ tuyến:

Theo cuộc nghiên cứu của Mayo clinic, thì trà có chứa chất quercetin mà ta thấy trong táo, củ hành và rượu chát đỏ. Chất nầy ngăn chận nam kích thích tố, tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến tăng trưởng (The Australian Doctor, 20 April 2001)

3. Hạ cholestols giúp gan và tim

Các cuộc nghiên cứu cho thấy người Nhựt trên 40 tuổi, ít bị bịnh tim gan là nhờ uống nhiều thanh trà. Việc nầy là do nó làm hạ cholesterol và triglycerides. Số người dùng trà cũng ít bị tai biến mạch máu não hơn người thường. Nó làm hạ chất cholesterol xấu LDL và tăng cholesterol tốt HDL. Nhờ đó nó giảm bịnh đau tim và mạch máu.

Chất polyphenols ngăn chận cytochrom P+450 gây ung thư. Giúp cơ thể bài tiết các độc tố và phân hóa thuốc men. Gan sẽ đỡ mệt. Hắc trà không có lợi gì cho tim và gan.

4. Răng

Trà giúp ngăn ngừa sâu răng, nhờ chất polyphenols làm cho đường và vi trùng không bám vào men răng. Người Trung Hoa hay súc miệng sau khi ăn bằng trà, nên ít bị sâu răng. Bác sĩ Ly, tốt nghiệp tại Úc, là bác sĩ tư của Mao Trạch Ðông thấy răng ông vàng, nên khuyên ông đánh răng. Mao Trạch Ðông trả lời: cả đời ông không hề đánh răng, chỉ súc miệng bằng trà thôi, nên không bị sâu răng.

Từ mấy ngàn năm nay, trà vẫn sống mãi trong tâm hồn người Trung Hoa và là thức uống của quãng đại quần chúng, trên năm châu bốn bể. Trà giúp ngăn ngừa bịnh tật như ung thư, đau tim mạch và trà cũng gây tác hại cho trẻ con, cho người cao máu và thai phụ. Trà cũng là đầu dây mối nhợ của cuộc chiến tranh Cách mạng thành công ở Mỹ và cuộc chiến tranh Nha phiến, vì Trung Hoa là cái mồi màu mỡ của bọn thực dân thời đó.

 

Sách tham khảo:

– Andrew Well, MD: The Encyclopedia of popular hebs, pp 238-48, 1999.

– Lê Giang : Trung Quốc xưa & nay, trang 248-49,1998.

– Les Plantes Medicinales.

– More tea? Kate Woods, p 23 15/09/05 Medical Observer

– Trà, cô Trí, bản tin số 6, Hồ Ngọc Cẩn.

– Còn nhiều tài liệu khác trong các tạp chí y khoa.