Pháp ngữ nhập môn
Lâm Thụy Phong
Ở cái tuổi được xem là không còn xanh của cuộc đời, tôi thường hay ngoái lại sau lưng, nhìn những con đường đã đi qua, có khúc tráng nhựa mà cũng có đoạn bị kéo dây chì. Tôi muốn viết cho chính tôi, cố gắng nhớ lại và cô đọng những gì cần nhắc lại.
Tôi viết lời chân thành biết ơn đến những người Thầy (viết hoa) đã khai tâm, mở não cho tôi hiểu biết “Ngôn Ngữ Và Văn Minh Pháp”.
Cái học bao la, “tôi chỉ biết những gì tôi chưa biết”, nhà vật lý học lừng danh Albert Einstein đã nói như vậy. Do đó, vài hột lúa làm giống trong rỗ nhiều lúa lép, gọi là mượn lễ tạ đời, để được tiếng không vong ơn bội nghĩa.
Trước tiên, những Thầy Cô của tôi trong Petrus Ký đẹp từ diện mạo mô phạm, nghiêm trang với thiên chức truyền dạy kiến thức cho thế hệ đi sau:
Tôi xin kể: Thầy Thẩm Túc, tiếng Pháp đầu đời “Le Francais Elementaire”. Đồng ấu giáo khoa thư của Moliere, lơ siên con chó, lơ sa con mèo. Cho tới “mát cuy lanh, phê mi nanh” với cơm gà siu -siu trong Đồng Khánh. Ăn hết dĩa cơm, vẫn còn thấy thiếu thiếu bánh lái, phao câu và cái bình dầu.
Cô Phan Ngọc Loan, khi chúng tôi cùng lên lớp đệ lục, sau năm đầu thử lửa cho biết đá, biết vàng Petrus Ký. Cô có giọng nói tiếng Pháp rất hay. Cô không ở lại lâu với chúng tôi, chỉ sau vài bài thơ bằng tiếng Pháp mà chúng tôi phải học thuộc lòng (recitations) và tìm định nghĩa “ứ hự” trong Larousse hay Robert . “Ne Me Quitte Pas” thảm thiết, lâm ly, bi đát kiểu Jacques Brel cũng bằng thừa !
Cô Phan Ngọc Loan (2021)
Người Thầy mà không ai trong chúng tôi muốn được “giấy mời”, có dấu ấn và ký tên Tăn văn Chương đã đến, nhẹ nhàng như cơn gió thoảng, nhưng cũng đủ cho các anh hùng hảo hớn, dọc ngang nào biết trên trần nhà có ai trong lớp, bình tĩnh mà run.
Thầy Tăn Văn Chương
Thầy có phong cách trang nghiêm, hay la rầy nhưng rất thương học trò. Trong suốt năm học sau đó, Thầy chưa bao giờ phạt một đứa nào.
Hôm nay, Thầy đã ra người thiên cổ, nhưng hình ảnh của một vị Thầy dạy chúng tôi “như đẩy xe tăng” (lời Thầy) vẫn không một nét phai mờ như vỡ kịch “Le Cid” của Corneille, mà Thầy đã kể cho chúng tôi nghe một cách say mê.
Thầy Trần văn Châu bước vào lớp ngủ 2 trong vóc dáng ốm yếu, hiền lành. Thầy đã có tuổi, nên chúng tôi thường gọi đùa là “ông quại”. Hai giờ đầu, “chịu đòn”, “hứng đòn”, “đỡ đòn” dưới sấm sét liên hồi của cô Thiên Hương (Sử địa). Cả lớp co rút, thun lại không còn thấy đâu là trời, đâu là “thiên lôi”. Hai giờ tiếp, chúng tôi kịp tỉnh dậy, cọ quậy khi áp lực “móc nối ” sujet, verbe, complement giản ra vô cùng dễ thở với “quại”.
Thầy Tràn Văn Châu
“Ông quại” đến rồi bỏ “đàn bò con” bơ vơ ngặm cỏ trên cánh đồng xanh, “Green Field”. Cô Đặng thị Thiên Chi thay thế. Cô hiền lành, nhỏ nhẹ, chỉ dạy tận tâm cho đến khi cây phượng vĩ trước cổng trường nở rồi tàn năm đó.
Tựu trường lần thứ tư, chúng tôi bước vào lầu 2, dãy lớp phía trái nhìn từ hành lang danh dự. “Pháp sư” là Thầy Trí, đã từng đi học ở La Sorbonne. Dáng người ốm yếu, rất trí thức phóng khoáng như “Tây khu La Tinh”. Thầy giảng không dứt, “nâng cấp” lên đỉnh cao tháp Eiffel, đại lộ đẹp nhứt thế giới Elysees, cung điện, lâu đài. Chúng tôi ngồi đó, im lặng và ngoan ngoãn lắng nghe, để mơ một ngày đường đi biết bao giờ tới? Hay chiêm bao đứt đoạn, nửa đường đứt gánh, đón xe miền Tây mà lớ ngớ, lộn đường qua bến miền Đông.
Rồi nghe đồn Thầy bỏ phấn trắng bảng đen, đi mần cho hãng thầu “Rờ Em Kêu” (RMK), chúng tôi ở lại bên này tiếp tục đi tìm “Ngôn Ngữ Và Văn Minh Pháp” theo ông Mauger, dưới sự chỉ dạy của Cô Diễm-Diễm, ái nữ của nhà thơ núi Tô Chu (ông cố tôi tên Châu, bà nội dạy chúng tôi phải né nói chữ Tô Châu), biển Giang Thành, đất Hà Tiên.
Ngày đầu tiên Cô đến lớp trong chiếc áo dài thanh thoát màu xanh lợt như nước biển quê hương Cô, khoát thêm áo len màu đen, xách theo luôn cái loa mà chúng tôi “khịa” là loa “chiêu hồi”. Ngoài sân trường, nắng như đổ lửa, Cô hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, không đủ decibels để cả lớp cùng nghe. Cũng may nhờ cái loa, đỡ lắng lỗ tai trâu học tiếng Tây!
Cô Diễm-Diễm rồi cũng ra đi, mang theo “cái loa chiêu hồi”, trong nắng chiều ngoài sân trường bắt đầu nhạt nắng. Nét mặt vắng nụ cười, thân hình mảnh khảnh như ba tôi đã từng kể về người bạn học ngày xưa, ở trường Mỹ Đức (Hà Tiên), con gái của nhà thơ ký tên Đông Hồ Lâm Tấn Phác.
“Pháp Sư” thứ ba của lớp đệ tứ 2 (1968-1969) là Cô Trương thị Thanh Vân, quá ngắn nên không có nhiều “ấn tượng” để kể lại như Tết Mậu Thân năm đó. Tang thương, chết chóc, theo điệu nhạc thật buồn “Exodus” mỗi tối trên đài truyền hình số 9.
Ba năm ở đệ nhị cấp, tam A1, 11A1, 12A1, tôi thọ giáo cùng một Thầy, Giáo Sư Pháp văn và cũng là vị Hiệu Trưởng cuối cùng của Hiệu Đoàn P. Trương Vĩnh Ký vang danh của miền Nam: Thầy Nguyễn Minh Đức.
Một nhà giáo nhiều khả năng và nhiệt huyết mong muốn đóng góp cho nền giáo dục “Nhân Bản -Dân Tộc -Khai Phóng” của nước nhà nói chung và ngôi trường nơi Ông phục vụ nói riêng, những cải tiến mới. Tiếc thay, mộng ước không thành như Thầy đã từng nói cho tôi nghe trong buổi trưa nắng gắt, cuối tháng 10 năm 1971, trên nhà Thầy ở Thị Nghè.
Cúi lạy tạ một Ông Thầy sống mãi trong tim tôi.
Tôi dành hàng cuối để vinh danh, nhớ ơn Mademoiselle Laporte, không phải do thiếu ngưỡng mộ ,”manque de respect” , hay chưa học thuộc “galanterie francaise”, mà chỉ vì lý do muốn làm tiền đề cho bài viết sau đây.
Cô đến với bốn lớp Pháp văn của chúng tôi năm 1964. Luôn bắt đầu viết trên bảng thật đẹp, ngày tháng. Ngày thứ tư mỗi tuần với giọng phát âm “MERCREdi” thật khó bắt chước. Tại sao giọng Parisien mới là “chuẩn mực”? Và thế nào là “parler Francais SANS ACCENT”?
Tôi đi tìm trang sách cũ vàng úa để có câu trả lời, tôi nghe trên đài “France Culture”, tôi ngồi suốt chương trình “Bouillon de Culture”, “Apostrophe” của Bernard Pivot (đã mất, người điều khiển chương trình văn học nổi tiếng tự học, không khoa bảng, không một bằng cấp “lộn lưng”, nói chi tiến sĩ danh dự hay loại tiến sĩ in trên giấy bồi). Văng vẳng đâu đây giọng đọc của Cô Laporte, trong suốt, phân minh giữa trưa “Mercredi”, cách nay đã 60 năm, êm ái dễ ru ngủ như ngôn ngữ Pháp, du dương trong thể loại tình ca, nhạc vàng một thời mãi thương và nhớ mãi.
Người Pháp đến Việt Nam xấc xược như tên trung úy Francis Garnier, đeo súng mousqueton nhồi đạn trong nòng, bắn từng phát mộ . Chỉ một tiểu đội, chèo thuyền từ hạ lưu sông Hồng, áp chế cả triều đình vua ta, hỏi rằng “biết bố mầy là ai không”?
Vua quan ấp úng, chưa kịp trả lời, hén bèn tiếp: “Nos ancetres sont des Gaulois”.
Thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng xách dép chạy lung tung, cách đây hơn 2000 năm, người Gaulois, bố của Francais, có tổ tiên là dân tộc Celte, chung sống hòa bình cùng người Aquitains, tiền thân của dân tộc Basques, ca bài cùng mắc võng nằm thả cừu ăn cỏ, bên này và bên kia dãy Pyrennees. Jules Cesar cũng nói vậy, nhưng không chính xác, vì lúc đó, nơi đây có rất nhiều bộ tộc khác nhau chung sống: Ambiens, Helvetes, mà người La Mã gọi chung là Gallii, La Gaule. Về địa lý bao gồm luôn Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Tây Ban Nha, một phần của Đức và Thụy Sĩ ngày nay.
La France, có nguồn gốc từ “les Francs”, một bộ lạc mang dòng máu Đức, trong máu “cồn” (alcoolemie không ít hơn hơn hồng huyết cầu).
Chính vì nguồn gốc “tộc” (ethnies) khác nhau, ngôn ngữ được dùng trên lãnh thổ thuộc quyền cai trị của các triều đại tiếp nối nhau (La Gaulle) rất nhiều: Gascon, Catalan, Basque, Breton, Wallon, Picard, dialectes alsace-moiselle, Champenois vv và vv.
Nếu lấy cái mốc lịch sử của ngôn ngữ Pháp là Ordonnance Villiers-Cotterets (1539), có những điểm sau đây cần lưu ý để dễ hiểu:
– Trước đó, ngôn ngữ Pháp dùng trong triều đình và giới thượng lưu là Francique, nguồn gốc Đức. Trong các văn bản trao đổi phần lớn viết bằng tiếng La Tinh.
-Tại các địa phương, hầu hết đều dùng phương ngữ cho mỗi vùng, và mọi người, từ triều đình cho đến người dân đều xem là bình thường, lấn áp luôn cả Francique là tiếng của giới thượng lưu, vua quan, nhà thờ.
-Theo Philippe Blanchet (giáo sư ngôn ngữ -xã hội học, giảng dạy tại đại học Renne 2, tác giả “La Discrimination: Combattre La Glottophobie “tạm dịch” Kỳ Thị Phát Âm Vùng Miền”), Ordonnance 1539 kể trên dẫn đến việc thay thế tiếng La Tinh bằng sự nổi dậy của ngôn ngữ vùng miền.
Cho đến thế kỷ thứ 16, tiếng Pháp chỉ được dùng làm ngôn ngữ giao tiếp trong một địa bàn rất giới hạn, Paris và các vùng phụ cận, trong giới cầm quyền và thượng lưu.
Thế kỷ thứ 17, tiếng Pháp viết ( Francais ecrit) chánh thức được “tiêu chuẩn hóa” (en norme) cùng với sự ra đời của Viện Hàn Lâm (1635).
Cách Mạng Pháp (1789), cầm đầu bởi giai cấp tư sản Paris (bourgeoisie), thay thế giai cấp quí tộc, vương hầu ( aristocratie), phá ngục Bastille, tiếp sức bởi các quan lại “giác ngộ Cách Mạng” như Mirabeau, hay thuộc dòng Chúa như linh mục Gregoire.
Cách Mạng “bàn tay năm ngón kiêu sa bọc nhung” đổi thành độc tài, “đại khủng bố” bắt đầu từ 1793, đứng đầu bởi Maximilien de Robespierre (nhóm les Jacobins) áp đảo khuynh hướng “federalistes” ôn hòa, les Girondins chủ trương thống nhứt, tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ Pháp trong tôn trọng sự khác biệt vùng miền, địa phương (unifier dans diversite).
Có thể nói, tiếng Pháp từ một vị trí khiêm nhường, thiểu số, đứng sau các ngôn ngữ vùng miền khác như đã nhắc ở trên, nhờ cuộc Cách Mạng 1789, đã củng cố cho ngôn ngữ này một chỗ đứng thật vững chắc, từ Paris là tâm điểm trải dài xuống Orleans và lan tỏa đến vùng thung lũng sông Loire.
Song song đó, nếu được phép so sánh không quá cường điệu, Cách Mạng bạo động mắc kẹt trong bạo động Cách Mạng “Đại Khủng Bố”, từ 1793, tiếng Pháp thống nhứt đè bẹp các ngôn ngữ đa số khác bằng áp đặt ,khuyến khích, dụ dỗ, khinh miệt để nâng “accent parisien”, “Francais sans accent” lên hàng “mãi đỉnh”.
Học đường là môi trường thuận lợi nhứt để áp đặt chánh sách này, đạo luật mang tên Jules Ferry ( 1880) bắt buộc trường học phải là nơi duy nhứt xử dụng tiếng Pháp để có hường được thăng tiến xã hội, về nghề nghiệp hay quan lộ. Mọi sai phạm sẽ bị nghiêm trị.
Đường lối thống nhứt tiếng Pháp với “accent parisien” hay không còn “giọng điệu địa phương” cho đến gần cuối thập niên 70 của thế kỷ qua, khi đây đó dân chúng đòi hỏi các ngôn ngữ của tổ tiên họ (langues regionales) được dạy trong học đường.
Ngôn ngữ Pháp trong tôi ngập tràn bao kỷ niệm của tuổi thơ. Từ những giờ ba tôi dạy kèm ở nhà, đến lớp thính thị trên Trung Tâm Văn Hóa Pháp. Đọc “cọp” hình “cao bồi, các cuốn sách in thật đẹp, nhập từ Pháp như “Alice Au Pays Des Merveilles”, “Blanche Neige et Sept Nains”, “Tintin”, “Lucky Luke” trong nhà sách của ông Hùng Trương-Khai Trí ( cũng cựu Petrus Ký ). Những giờ tụ tập trên khu Đồn Đất, ly trái tắc, phì phà hút lén điếu thuốc đầu đời. Cho đến những ngày bơ vơ viễn xứ, đi tìm tương lai bằng ngôn ngữ Pháp, thứ chữ như nốt nhạc, đủ âm hưởng của tình yêu, như nếm hớp rượu chát Medoc, ăn miếng phô-mai Roquefort. Nuốt thật chậm, hương vị còn sót lại thật nhẹ nhàng như “tombe la neige”.
Biết xuống dưới đó, còn có hay không?
Lâm Thụy Phong
Petrus Ký 1964-1971
( Kính dâng hương linh của ba má, đã cho con biết ngưỡng mộ ngôn ngữ và văn minh Pháp )




