ÔNG NĂM

BS Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Cái tên ông Năm không lạ gì đối với người Việt Nam, nhứt là người dân Nha Trang. Tên Năm là từ tiếng của người bình dân, gọi quan Năm để chỉ Ðại tá hay Colonel, còn quan Ba là đại úy hay Capitaine.

Ông Năm là người Pháp đến Việt Nam, không phải để đánh giặc, tàn sát người Việt, mà vì lòng thương mến đất nước nầy. Ông nhứt quyết lấy Việt Nam làm quê hương và nguyện ở lại đây, sống chết với mảnh đất thân yêu nghèo nàn nầy!

Ông có quyết định nầy từ lúc lênh đênh trên biển Nam Hải, ngược xuôi từ Nam ra Bắc. Ông đã say đắm nhìn dãy Trường Sơn mà không chán. Ông có cảm giác như hồn ông quyện vào hồn thiêng sông núi, trời đất của nước ta, cho nên ông đã gắn bó và cống hiến hết tài năng, nghị lực và quãng đời mình để phụng sự, hầu đem lại sự phồn vinh tươi đẹp cho đất nước Việt Nam. Người đó chính là:

Ong nam 01

     Alexandre YERSIN (1863-1943).

Nguyên tên thật là Alexandre Emile John Yersin. Ông là người Thụy Sĩ gốc Pháp, vì ông đã được hạ sinh ngày 22 tháng chín năm 1863, tại một làng quê Thụy sĩ, Lausanne.

Ông trải qua thời niên thiếu quanh hồ đẹp nhứt Châu Âu, hồ Léman mà thi sĩ Lamartine nói tới trong bài ‘Le lac’. Ông vào học trung học Lausanne tại Marburg. Ông rất chăm chỉ học hành và đỗ bằng tú tài năm 1882 và vào Ðại học Thụy Sĩ, nhưng sau đó ông thuyên chuyển về Pháp, tiếp tục con đường công danh.

Là hậu duệ của dòng dõi Etienne Domergue, giáo phận Uzès thuộc quận Gard của Pháp. Vì sự bất hòa giữa hai tôn giáo vùng Languedoc, gia đình ông theo đạo Tin lành, phải bỏ xứ chạy qua vùng Genève định cư và lập nghiệp. Sau khi truy tầm được tông tích của mình, Yersin xin trở lại quốc tịch Pháp lúc 25 tuổi.

Trong lúc thực tập tại Viện khoa học, ông chứng tỏ một tài năng, say mê môn vi trùng học, một ngành mới choang của Y khoa, làm đảo lộn tất cả sự hiểu biết về nguồn gốc của bịnh tật. Chính ông Louis Pasteur (1822-1895) đã khám phá ra những sinh vật, mà mắt phàm chúng ta không thấy và khai sinh kỷ nguyên mới: Vi trùng học. Lúc bấy giờ, Pasteur đang nghiên cứu bịnh chó dại (1888).

Tài năng hiếm có của ông Yersin đã lọt vô mắt của Pasteur, Viện trưởng và Emile Roux (1853-1933), Phó viện trưởng. Tài năng của ông thể hiện qua nhiều nghiên cứu và phát hiện nhiều vi trùng còn mang tên ông. Ông cũng cùng hợp tác với bác sĩ Roux chế ra thuốc chủng bịnh yết hầu, còn gọi là bạch hầu, vì nó đóng màng trắng trên thịt dư trong cổ họng.

Tánh đam mê và ham phiêu lưu để khám phá điều mới lạ, làm cho ông cảm thấy tù túng trong phòng thí nghiệm ở đường Ulm. Ông giã từ cái địa vị cao sang trong tòa nhà cổ kính đó, để đi theo tiếng gọi của trùng dương xa xôi, tận chân trời xa lạ. Ông xin nhập vào Công ty Hàng hải Messageries Maritimes sang Viễn Ðông. Tàu ông cập bến Nhà rồng vào tháng Chín, năm 1890. Lúc đầu hãng này chạy loanh quanh trong vùng, về sau chỉ chạy từ Sàigon ra Hải phòng, ven biển Nam Hải.

Trong thời gian ngược xuôi Nam Bắc, ông say mê ngắm nhìn dãy Trường Sơn đang uốn khúc từ Bắc chí Nam, hùng vĩ như kêu gọi hồn ông. Cảm nhận tiếng gọi linh thiêng đó, bác sĩ Yersin vui mừng khôn xiết. Tâm hồn ông như bị hồn thiêng của núi rừng thiên nhiên thu hút. Từ đó ông nhứt quyết sống chết với mảnh quê hương thứ ba nầy và ông lập cư tại thành phố Nha Trang thay vì Ðà Lạt, nơi xóm chài nghèo nàn vào tháng Bảy năm 1891.

Óc phiêu lưu bắt ông phải đi, để tìm cái gì mới lạ. Ông vào tận rừng sâu, ông lần mò, đi ngược xuôi vào Nam ra Bắc với sự giúp sức của người Thượng và người Việt. Ông nghiên cứu địa hình, địa vật, cây cỏ. Ông ghi chép kỹ lưỡng. Ông còn là nhà uyên thâm bác học, thông suốt mọi ngành từ vi trùng, địa chất, thực vật tới biển cả và khí tượng.  Y như nhà bác học Pasteur là người mà ai cũng lầm tưởng là bác sĩ, kỳ thực là nhà giáo, xuất thân từ Trường Cao học Sư Phạm Paris, nhưng lại thông suốt vật lý, hóa học, thực vật… phát minh ra vi trùng học và chế thuốc chủng ngừa, vân vân…

 

Ðà Lạt

Trong lúc lặn lội lên vùng Cao nguyên, ông Yersin phải chịu không biết bao nhiêu gian nan, khổ nhọc.  Ngoài việc trèo non vượt núi, ao vũng bùn lầy, ông phải đau khổ chịu cho muỗi mòng chích và những con vắt hút no nê những giọt máu Gaulois của ông. Ông từng bị sốt rét nặng. Cuối cùng ông tìm ra Cao nguyên Liang Biang với Ðà lạt vừa xinh đẹp, vừa mát mẻ lại vừa giống phong cảnh Âu Châu, vào ngày 21/06/1893. Tính tới hôm nay, thành phố Dalat được 113 tuổi.

Dalat do 2 từ tắt ghép lại: Da, tức từ dak là nước sông, suối; và Lat, tức từ M’lates là người Lat. Vậy Dalat có nghĩa là suối của người Lat. Bác sĩ Yersin lại dùng chữ Latin mà giải nghĩa qua câu ngạn ngữ:

   ‘Dat Aliis lactitiam Aliis Temperriem’ hay

   ‘Donne aux uns la Joie, aux autres la Santé’.

Nó có nghĩa là ‘Cho người nầy niềm Vui, cho người khác Sức khỏe’.

Ông đề nghị chánh phủ nên lấy nơi đây làm nơi nghỉ mát và dưỡng bịnh bởi vì khí hậu ôn hòa và phong cảnh hữu tình của Âu Châu với những đồi thông, những hồ: hồ Xuân Hương, hồ Than thở với đồi thông hai mộ:

‘Ngàn năm Thảo sống mãi trong Tâm’

Rất nhiều thác tuyệt đẹp như: Cam Ly, Prenn, vân vân…

Dalat nổi tiếng là vườn hoa, nhứt là hoa lan mà tôi chưa thấy nơi nào có nhiều vừa đẹp vừa thơm như vậy. Trong những lần đến đây, nhứt là lúc ở tại nhà bác sáu Ðẩu, Ông Trương Văn Ðẩu, sau đổi về trông nom vườn dược thảo trong Thảo Cầm Viên Saigon. Chính nó làm cho tôi say mê và ham thích hoa lan. Nhà văn Nhất Linh về đây sống với vườn lan thật là lý tưởng.

Dalat gần như là thành phố riêng biệt của Pháp và người quyền quý, vua chúa: Biệt thự Chalets Swiss như vùng Bretagne, Haute Savoie bên Pháp. Palais d’été, dinh thự mùa hè của Toàn Quyền Decoux (1933), của Bảo Ðại cũng được xây cất. Ðể phân biệt đây là vùng đất của hoàng gia, quý tộc, nó được đặt trực thuộc Hoàng triều Cương thổ (Domaine de la Couronne).

Khi trường trung học Pháp được xây cất, người Pháp đặt tên là Lycée Yersin (1927) để tri ơn công trình của ông.

Thành phố Nha Trang

Tưởng chừng như ông chọn Ðà Lạt làm nơi cư ngụ, vì ông rất ưa thích nó với những đặc điểm Âu Châu, nhưng ông lại chọn Nha Trang làm quê hương.

Ông Yersin đổ bộ lên đây vào tháng Bảy năm 1891. Ông cũng không ở tại giữa thành phố, mà chọn xóm chài. Ông rất sung sướng chung sống với dân nghèo, để ông giúp đỡ, đủ biết ông có đời sống giản dị, rất thích đạp xe chớ không thích lái xe hơi. Ông hết lòng thương yêu họ. Ngược lại người dân nơi đây rất quí mến và kính trọng ông. Sau khi ông chết họ gìn giữ căn nhà nầy và đặt tên cho nó là Tháp Ngà của ông Năm.

Sau nhiều năm ngược xuôi Bắc-Nam, ông hoàn thành bản đồ con đường xuyên Việt từ Bắc vô Nam, đường Quốc lộ số 1.

Nhờ được tài trợ dồi dào, phòng thí nghiệm cũng được nâng lên thành Viện Pasteur Nha Trang. Tại đây ông nghiên cứu nhiều bịnh gia súc, bịnh uốn ván, bịnh đậu mùa.

Y tế

Tưởng chừng như ông Yersin quên nghiệp chướng ‘Vi trùng học’, để rày đây mai đó trên dải Trường sơn, nào ngờ vào năm 1894, bịnh dịch hạch nổi lên ở Trung Hoa: Hoa Nam và Quảng Ðông làm chết hàng trăm ngàn người, rồi tới Hồng Kông, giết thêm 50 ngàn người nữa. Lúc bấy giờ, Bác sĩ Emile Calmette (1863-1933) rất nổi tiếng với thuốc chủng ngừa lao BCG  hay Bacille Calmette Guérin (Guérin:1872-1961), đang đến Saigon lo xây dựng Viện Pasteur Saigon 1890 (tượng ông được đặt làm kỷ niệm nơi đây). Bác sĩ Calmette khuyên Yersin nên vì đại nghĩa, vì nhân loại mà ráng sang Hồng Kông, nghiên cứu  bịnh dịch hạch ngỏ hầu ngăn ngừa và điều trị.

Bịnh nầy rất hay lây và làm chết người rất nhanh chóng. Bịnh nầy cũng được gọi là ‘Hắc Tử thần’. Nó còn dữ hơn bịnh SARS  vì nó giết đi 25 triệu người trên thế giới từ 1346 tới 1350. Hắc tử thần đã từng giết chết 75.000 dân Hồng mao tại thành phố London năm 1664. Bịnh gieo chết chóc quá nhanh, lây truyền cũng quá nhanh. Chánh phủ không biết làm sao ngăn chặn hay trị được. Bịnh truyền từ chuột qua người bởi bọ chét (1897 do Paul Louis Simond khám phá ra), rồi từ người qua người làm sốt, hạch ở nách và bẹn sưng to và đau, sau đó chết trong vòng mấy tuần lễ. Nếu vi trùng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết, vào phổi thì nó sẽ lây truyền từ người nầy qua người khác bằng các hạt bụi lúc ho. Bịnh nhân chết rất nhanh chỉ từ 24 tới 48 giờ thôi.

Năm 1894, ông cấp tốc sang Hương Cảng, nhưng ông đã tới chậm một bước, vì Giáo sư Kitasato Shibasaburo, người Nhựt Bổn đến đây trước và chính quyền đã cung cấp cho mọi phương tiện dễ dàng để nghiên cứu. Yersin rất khổ sở, vì không được giúp đỡ.

May thay, Yersin gặp ông Cha Pháp từng là chiến binh Solferino (trận chiến nổi tiếng ở Ý năm 1859), giúp nói với người giữ nhà xác để ông vô, mà chỉ tốn có mấy chai rượu nho thôi. Ðêm đó như tên trộm, ông lẻn vào nhà xác, đánh cắp tử thi, mổ lấy hạch dưới ánh đèn dầu leo lét như bóng ma. Ông trở về lều giữa hiu quạnh, lặng lẽ và cặm cụi nghiên cứu. Chỉ có mấy ngày thôi, ông đã khám phá ra vi trùng dịch hạch. Giáo sư  Kitasato chế nhạo, cho là Yersin chỉ diễn tả vi trùng bịnh phế viêm, chớ không phải vi trùng bịnh dịch hạch.

Yersin chuyển hết tài liệu về Viện Pasteur ở Ba Lê, để kiểm chứng. Viện hoàn toàn công nhận công trình nghiên cứu vi trùng của ông là đúng và công bố cho thế giới biết. Từ đây vi trùng dịch hạch, do ông khám phá sẽ mang tên ông: ‘Bacilli de Yersin’ hay Yersinia Pestis. Giáo sư Kitasato rất khẳng khái, đứng lên công nhận nghiên cứu của Yersin và xin lỗi ông nhân cuộc họp quốc tế khoa học.

Trở về Pháp cùng năm đó để cộng tác với Calmette, biến chế thuốc trị dịch hạch.  Ông lại khăn gói trở sang Việt Nam năm sau, để tiếp tục đời phiêu lưu với dân xóm chài nghèo nàn, trong phòng thí nghiệm chật hẹp, thiếu thốn phương tiện ở Nha Trang, nhưng đầy tình người, vì ngày nào ông cũng đạp xe ra phố, cũng đều được mọi người niềm nở chào hỏi.

Bịnh dịch hạch lại tái phát hai năm sau (1896) tại Hoa Nam, Quảng Ðông, Hồng Kông, ông cấp tốc gởi thuốc đi và sang đó điều trị và nghiên cứu thêm. Ông đến một chủng viện, để trị bịnh bằng thuốc do ông hợp tác sáng chế. Thuốc tỏ ra rất công hiệu và cứu chữa được 80 % bệnh nhân. Thuốc nầy chỉ là huyết thanh dịch hạch. Ngày nay, người ta dùng kháng sinh (Sulfamide) hay trụ sinh (Tetracycline) hay Streptomycin mà trước kia chưa có.

Trở về Nha Trang, ông nghiên cứu cách chế thuốc chủng ngừa dịch hạch (vaccine). Ông cấy vi trùng, nuôi trong môi trường khắc khổ cho nó yếu đi. Nếu cho nó vào cơ thể động vật, nó sẽ phát sanh ra kháng thể để chống lại sự xâm nhập của vi trùng bịnh nầy. Nhờ đó mà cứu được biết bao nhiêu triệu người trên thế giới. Bịnh dịch hạch cũng từ từ mất luôn.

Công việc bề bộn nơi đây chưa xong, mà ông còn phải trông coi Viện Pasteur Saigon, Nha Trang và Hà Nội dưới tên chung là Viện Pasteur Ðông Dương (Institute Pasteur d’Indochine), trực thuộc Institut Pasteur de Paris. Tuy vậy, ông Yersin cũng không ở yên tại Nha Trang. Vì nhu cầu cấp bách, Toàn Quyền Ðông Dương Paul Doumer nhờ ông thành lập trường Y khoa đầu tiên ở Hà Nội năm 1902. Trường có tên là École de Médecine  (1903-1904): Trường Thuốc. Chỉ cần có bằng Thành Chung gọi là Diplôme d’État là được ghi tên nhập học. Sinh viên tốt nghiệp được gọi là Médecin Indochinois. Muốn thành bác sĩ, phải sang Pháp học thêm. Về sau trường được nâng lên thành Ðại Học.

Cuối năm 1904, Trường Thuốc được giao cho người khác, để ông rảnh rang trở về xóm chài nghiên cứu khoa học.

Ông gia tăng canh tân đồng cỏ, trồng lúa, trồng bắp, nuôi gia súc như: trâu, bò, ngựa, vân vân… để thí nghiệm và chế thuốc chủng ngừa. Ðất đai rộng lớn tới mấy ngàn mẫu, chiếm hết vùng Diên Khánh và Suối Dầu, vì hai bên bờ suối có rất nhiều cây dầu rái. Sau đó, ông tìm cách trồng các cây kỹ nghệ: cao su, cây kí ninh, cà phê…

Thảo mộc 

  1. Cây cao su (Hevea brasiliensis)

Cây cao su được trồng trong vườn Bách thảo từ năm 1877, nhưng không tốt. Năm 1897, Dược sĩ  Raoul mang từ Mã Lai về 2.000 cây, có cho ông một mớ đem về nông trại Suối Dầu trồng. Nó phát triển tươi tốt, sinh sôi nẩy nở và nông trại trở thành một đồn điền qui mô.

 

  1. Cây kí ninh, quinquina (Cinchona ledgeriana)

Nơi đây có hòn Bà, cao 1.500 thước trên mặt biển. Theo huyền thoại, thì nơi nầy là chỗ Thánh Mẫu Thiên Y du lãm. Ông hợp tác cùng Giám Ðốc Hải học viện Nha trang, bác sĩ Krempf, nghiên cứu địa hình, địa thế để lập đài thiên văn và nơi trồng cây quinquina, để trị bịnh sốt rét.

Cây kí ninh được đem lên trồng ở cao nguyên Lâm Viên (1923). Diện tích trồng trọt lên tới mấy trăm mẫu và hằng năm thu hoạch được hai tấn.

 

  1. Cây cà phê

Cây cà phê được ông lấy giống Arabica của Brazil về trồng trên Cao nguyên, vì nơi đây có thời tiết phù hợp cho cà phê phát triển. Một lần nữa ông đã giúp làm giàu đẹp cho đất nước nầy.

Ngoài ra ông cũng cho trồng nho, dâu. Ông cũng thành lập trại an dưỡng lao phổi Sanatorium, vì nó nằm ven bờ biển và ở trên cao rất lý tưởng.

Năm 1933, ông Alexandre Yersin được phong làm Giám Ðốc Danh Dự Viện Pasteur Paris.

Năm 1940, nhân có Ðệ nhị Thế chiến, mặc dầu tuổi tác chồng chất nhưng với tấm lòng thương yêu quê hương tổ quốc chân thật, ông già Yersin đã 77 tuổi, lại sang Pháp, để xin gia nhập vào việc phòng chống xâm lăng.

Với tài cao trí rộng, Ông Năm làm gì cũng được và thành công mỹ mãn, nhưng lần nầy ông rất buồn, vì không được toại nguyện. Ðó cũng là lần cuối cùng, ông từ giã Pháp Quốc trở về Saigon, rồi trở về căn nhà ở xóm chài.

Ông Năm cũng yếu sức từ đó, ông không còn chạy xe đạp nữa. Ðầu năm 1943, cảm thấy mình kiệt sức, chắc cũng không còn bao lâu nữa trở về với cát bụi, ông cũng ráng nhìn về biển Nam Hải lần cuối, rồi từ từ nhắm mắt nghìn thu vĩnh biệt cỏi đời vào ngày mùng 3 tháng Giêng 1943.

Mặc dầu thời thế khó khăn, nhưng đám táng ông được cử hành trọng thể, với tình thương tiếc của dân chúng Khánh Hòa. Ông được chôn cất giữa khu vườn cao su, mà ông đã trọn đời xây dựng lên ở Suối Dầu. Ðây cũng là lời ước nguyện của Ông là:

‘Sống ở Việt Nam mà chết cũng ở Việt Nam’.

Tâm hồn ông đã gắn bó vào hồn thiêng núi rừng của dãy Trường Sơn, ngay từ phút ban đầu khi ông nhìn thấy nó.

Xin thán phục tinh thần thương yêu đất nước Việt Nam mà chính chúng ta cũng phải xa rời sau ngày 30-4-75 


Tham khảo:

1- Chử Bá Anh: Tưởng nhớ về Ðà Lạt, nhân dịp 100 năm ngày thành lập thành phố nầy. Chiêu Dương, 29/05/93.

2- Hương Giang Thái Văn Kiểm: Nha Trang-Ðà Lạt và Bác sĩ Alexandre Yersin, Chiêu Dương 16/02/02

3- Thành phố Ðà Lạt và sự Phát triển. Chiêu Dương 24/08/02

4- Bác sĩ S G Phan: Ông Năm, Bản thảo, Người Áo Trắng. 1960’s, mất.

5- Nhiều tài liệu khác.