Những Cảnh Não Nề Trong Phòng Thi Tú 2 Năm Nay (*)

Phóng Sự của Lê Đức Sơn

(*) Đăng trong Báo Chính Luận, Trang 7, Thứ Năm 13-7-1972

Ngày 5-7-1972 thật là một ngày trọng đại.
Trước đó dăm hôm, tôi đã nghe vọng qua vách, tiếng phàn nàn của cậu học sinh láng giềng:
– Hôm nào cũng chè đậu! Con ăn không nỗi nữa đâu, Má.
– Ráng đi con ạ. Chè đậu đỏ hên lắm. Con cố nhắm mắt nuốt ực một cái là xong chứ gì. Đi thi phải ăn nó mới đậu.
– Chè gì mà ngọt sắc, khé cả cổ.
– Hà hà, chè có ngọt thì bài mới ngọt, con ạ !
Ông trước cửa quát tháo đứa con gái:
– Tao đã bảo mầy, học vừa vừa thôi, kẻo ốm đau là tao bỏ bố. Tiền đâu ? Tiền đâu ? Thôi từ nay, cứ 12 giờ là tao cúp điện nghe chưa ?

Riêng tôi vì được nghỉ mọi công tác thí vụ ba năm dài, nên cũng háo hức muốn đến ngày trọng đại. Còn gì thích bằng được gặp những bạn đồng nghiệp cũ ? Có người hàng 8 năm mới thấy mặt ? Lại được dịp làm quen với một số bạn mới. Trong cái lúc tao loạn nầy thêm một người bạn là đáng quí lắm, miễn là bạn đừng hỏi vay tiền mình.
Vậy thì mới 7 giờ sáng ngày thi Tú 2, tôi đã tới Trung Tâm Hưng Đạo 2, đường Cống Quỳnh thuộc Hội Đồng A-2 (Vạn Vật). Văn phòng vắng ngắt. Mới chỉ có ông Phó Chủ tịch phụ trách Trung Tâm và ông Chủ tịch đang lúi húi cậm cụi bên chồng hồ sơ cao ngất.
Chả rõ thiên hạ ra sao, riêng tôi mỗi khi nhìn đống giấy thi vĩ đại, tôi lờ mờ cảm thấy hàng năm Bộ Giáo Dục đã phải chi một khoản tiền rất lớn. Nào là giấy trắng để làm bài, thí sinh muốn xin bao nhiêu cũng có giấy, mầu để nháp. Thứ giấy mịn màu hồng hoa đào hay mầu xanh nhạt, dìu dịu, giá dùng để viết thư thì tuyệt quá ?

Năm nay Bộ Nha đã áp dụng mọi biện pháp để ngăn ngừa gian lận, âu cũng là một việc rất đáng ca tụng trong thời buổi nhiểu nhương nầy. Sợ tổ chức “Mafia” biết trước các Giám Thị của Trung Tâm để điều đình, mua chuộc. Bộ giữ mật danh sách. Mỗi trường chỉ nhận được danh sách Giáo chức trường mình được cữ đi công tác, chứ không phải toàn bảng Danh sách dầy cộp như mọi năm. Trường lại được lệnh giữ mật nữa, nên Giáo Sư Giám Thị chỉ biết mình coi nơi nào chứ không được biết bạn hữu mình coi nơi mô ? Bộ cũng mướn hãng IBM dùng máy điện tử để giúp một số việc. Đại khái máy sẽ lập danh sách thí sinh, do đó ngừa được thí sinh nạp đơn thi nhiều nơi. Trúng nơi nào có “Mafia thì y thi nơi đó. Máy sẽ cộng điểm song song với công việc cộng điểm của các Hội Đồng và Máy sẽ in danh sách thí sinh trúng tuyển tránh vụ xẩy ra năm ngoái tại Saigon là tổ chức “Mafia” đã in những Danh Sách giả mạo niêm yết đàng hoàng. Để tránh nạn thiếu thốn Giám Thị, Bộ cho coi thi gần nhiệm sở và để bẽ gẫy mọi liên lạc ám muội, Bộ chọn lựa các vị Giám Thị Hành Lang.
– “Thầy tha cho con.. Bài đầu… Lần sau con không dám… Nếu rớt, con phải đi lính… Cả gia đình chỉ có mình con là lớn…”
Nhìn vào phiếu báo danh, cậu sinh ngày 21-7-1954 tức là ngày sau ngày ký Hiệp Định đình chiến đúng một hôm. Dạo ấy, tôi đinh ninh là lớp trẻ sau chiến tranh Việt-Pháp phải hưởng thanh bình hoàn toàn và dự phần kiến thiết đất nước. Không ngờ họ còn đây, lo âu, phiền muộn, thanh gươm lơ lửng trên đầu ?

Những buổi khác, Ban Giám Đốc Hưng Đạo cho mở điện. Mọi người khoan khoái, thở phào nhẹ nhỏm. Bài thí sinh có hay chắc cũng nhờ một phần ở ánh đèn Néon sáng choang và hai chiếc quạt trần quay như vũ bảo. Tôi liên tiếp được coi những phòng có nữ thí sinh “tự do” tuổi trung bình là Hai Mươi, nhưng cũng có những bà trên ba mươi tuổi.
Theo tôi nghĩ đây là những người đã thi rớt mấy năm trước, tức là đã từng học hết chương trình lớp 12 và đã ôn đi ôn lại nhiều lần.
Nào ngờ, phần đông trình độ không khá. Phòng nào cũng xếp đủ 33 thí sinh, nhưng ngay ngày đầu đã vắng mặt dăm người rồi mỗi ngày lại lác đác bỏ cuộc thêm, nên ngày cuối chỉ còn độ hai chục. Ngồi thưa thớt nên thí sinh nào cũng bó buộc “tự túc tự cường” không trông mong gì vào “ngoại viện” của láng giềng. Thường là cắn bút cố mong cho chóng hết giờ ra về, kẻo về sớm… hơi gượng.  

Môn Toán, hầu như toàn phòng, 24 cô đều bí, may lắm chỉ độ vài ba người hái nổi điểm trung bình. Sinh ngữ I Pháp văn, Sinh ngữ II Anh văn tình trạng chung của phái “tự do” là nhìn đăm đăm như muốn chọc thủng tấm đề thi được phát, hàng nửa giờ, bất động rồi sau đó nhìn nhau bằng một tia mắt. Lắc đầu chán nản, chép miệng, viết nguệch ngoạc mấy chữ.
Vốn không phải là giáo sư Pháp văn nhưng tôi cũng hiểu rằng bây giờ khoa sư phạm đã tìm ra được nhiều phương pháp  mới (như méthode du l’eutre) nhưng tại sao học sinh lại chào thua sinh ngữ đó ? Hồi tưởng ngày xưa, cách đây ba chục năm học sinh ngờ nghệch, nhút nhát, thiếu sách, thiếu mọi điểm vậy mà đi thi Certificat (tương đương với bằng Tiểu học bấy giờ) phải làm một bài luận Pháp văn dài hai ba trang giấy lớn, và viết một bài chính tả khoảng ba chục dòng, không được quá 5 lỗi.

Học sinh thời nay hoạt bát, láu lỉnh hơn nhiều nhưng sao cả phòng chả ai chia nổi verbe Apparaître temps Passé Simple ? về lối chia verbe, tôi tưởng chỉ nửa tháng học là đã quá thông thạo, hà tất phải tốn công dòng dã ba năm, từ lớp 10 đến lớp mười hai.
Nếu Pháp văn đã yếu thì Anh văn cũng chẳng khá gì hơn: Tưởng cũng là một nhận xét để giới hữu trách kiểm điểm xem có nên trở lại cái phương pháp cổ xưa đã từng bị chỉ trích đáo để, đến nỗi không ai dám nhắc tới nữa ?

oOo

Sáng nay, vừa tới Trung Tâm, Ông Phó Chủ Tịch đã chạy lại ghé tai:
– Anh muốn được như ông Hiệu Trưởng Trần Vĩnh Anh không ?
Thoáng nghe chữ Hiệu Trưởng tôi trả lời liền:
– Muốn chứ, nhưng đời nào Bộ chịu ?
– Ai chứ anh thì Bộ chịu gấp. Tôi đề nghị cho thế nào cũng được.
Bây giờ anh lên gác Phòng số Y đã nhé.

Vừa bước lên thang lầu, tôi chợt nhớ Trần vĩnh Anh là một Ông Giám Thị bị thí sinh hạ sát dạo nào. Dạo ấy, tôi có dự lễ truy điệu ông ta ở sân trường Gia Long, thấm thoát đã năm 6 năm, dòng đời trôi chẩy, quên béng đi mất. Ông Phó Chủ Tịch đã nhắc đến ông Trần vĩnh Anh tức là đời mình bế mạc tới nơi. Ô hồ !

Quả nhiên Phòng Y là một trong ba phòng có quân nhân dự thi. Khi tôi vào phòng chỉ có 18 “Vị”. Hỏi thăm 15 vị kia thì nghe đâu dăm vị bị đuổi khỏi Phòng thi và Mười vị bỏ cuộc. Dưới đất ngập ngụa giấy thi xé loạn, chen lẩn với đủ loại tài liệu đã từng được sử dụng hoặc bị tịch thu nhất là tài liệu Vạn vật.

Trong số hiện diện có đủ các binh chủng hải, lục, không quân. Một ông Trung Úy đeo kính đen, phì phèo điếu thuốc. Một ông Thiếu Úy nhẩy dù dáng lại rất hiền lành, ngồi thư tỉnh tận một góc, chiếc mủ đỏ để trên bàn. Bàn đầu có một thương binh bị ở chân nên đi đôi giép Nhật, bông băng trắng xóa. Vẻ mặt đen xạm rất phong trần, tóc quăn quít như người Indonésien cánh tay trái để trần lộ một vết sẹo lớn. Bàn cuối, một thương binh khác bị ở bàn tay, đeo kính trắng. Anh chỉ dùng được có tay phải: mỗi khi gặp tờ giấy, anh cúi gặp người trên bàn lấy cằm giữ giấy. Nom thật tội nghiệp. Tôi đến gần anh kể lể:
– Em bị thương ở An Lộc đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Bàn tay bị đứt hết gân Thầy ạ. Trúng B40 mà thầy.
Bàn tay bị thương được băng kín, cánh tay trái gầy guộc so với tay phải. Anh bị thương thật. Nhìn giấy phép nghỉ, thấy ghi anh là binh I. Không hiểu sao có Tú Tài 1, mà chỉ là Binh Nhất ?
Hôm nay thi môn Lý Hóa, hệ số bốn quan trọng tương đương với môn chính Vạn vật, nên đa số đều mang theo tài liệu Lý hóa trong người. Ông Phó Chủ Tịch tăng cường thêm một vị Giám Thị Hành lang và đích thân ông săn sóc. Ông bảo tôi:
– Dù thế nào chăng nữa cũng phải giữ công bằng. Không thể hai đấu, hai thừng được.

Trung tâm Hưng Đạo hai số 125 Cống Quỳnh có đủ loại thí sinh. Loại nào ngồi riêng loại ấy. Ta thấy có phòng quy tụ nam sinh những trường lớn Saigon: Trương vĩnh Ký, Chu văn An, Võ trường Toản, Mạc đỉnh Chi. Phòng cho nữ sinh công lập, trong đó có cả những nữ sinh mấy trường ven đô như Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa. Phòng cho nữ sinh “tự do” và ba phòng đặc biệt cho quân nhân. Kỳ thi Tú Tài II có tất cả bẩy môn và thi dòng dã sáu buổi liên tiếp. Như vậy, mỗi Giám Thị phải lần lượt coi 6 phòng cả thẩy. Đến ngày cuối cùng, quen mặt một số thí sinh kết bạn được 6 giáo chức cùng phòng. Nếu không có chuyện chi rắc rối thì đó cũng là một cái lời đáng kể. Mỗi phòng có một sắc thái riêng biệt. Sau vài giờ, chuyện vui cũng có chuyện buồn cũng loáng thoáng tô điểm cho cuộc đời thêm đậm đà.

Ngay bài đầu tiên, tôi được coi phòng qui tụ nam sinh các trường công lập Saigon. Phòng tối kinh khủng. Thường ngày thì Ban Giám Đốc Hưng Đạo cho bật đèn sáng choang, nhưng đã phải cho mượn Trường, lại hao tốn điện thì buốt quá, nên hôm ấy, chỉ có văn Phòng được dùng điện còn phòng thi bị cúp. Thí sinh nháo nhác đề nghị mua đèn cầy. May sao ông Phó Chủ Tịch khéo xoay đâu được cây đèn manchon trịnh trọng treo giữa phòng. Ánh đèn manchon xanh, yếu ớt nhưng cũng đã là quý lắm rồi.

Mọi người đang chăm chú làm bài Triết bỗng ông Giám Thị hành lang bước vào chộp luôn một cậu có tài liệu đuổi ra khỏi phòng.
Cậu thí sinh nhếch nhác năn nỉ, có lúc như muốn òa lên khóc.

Riêng đối với tôi, những người quân nhân đều dễ mến vì họ vui tính hay bông đùa dễ tha thứ nhưng coi họ cũng là cái mệt. Ngăn ngừa không cho sử dụng tài liệu cũng đã là một thành tích. Đề thi phát ra, chỉ có một người xem chừng hiểu đề cấm cúi viết. Có lẻ anh ta đã học hết chương trình 12. Còn những người khác ? Trong quân ngủ làm sao có thì giờ học nhỉ ?
Một anh trong Ban An Ninh Quân Đội kể hoán:
– Khổ lắm, Thầy ơi. Muốn học cũng những không sao học được? Canh gác, ứng chiến bù đầu. Cơ mầu nầy đến nạp giấy trắng.

Bổng nhiên Ông Phó Chủ Tịch thoáng hiện. Ông bước nhanh vào, tịch thu luôn cuốn sách vật Lý của một anh ngồi sát tường.
Anh ta cố kêu nài nho nhỏ nhưng khi thấy vô hiệu liền thu xếp bước ra, chậm chạp xuống lầu.
Anh bạn Giám Thị cùng phòng, một Giáo sư Lý Hóa trường Trung Học Đức Hòa (Hậu Nghĩa) thật là hoạt động. Anh tịch thu các tài liệu liên miên, không biết mệt và công việc nầy kéo dài mãi cho đến khi hồi chuông reo vang, báo hiệu một giải thoát cho cả thí sinh lẩn Giám Thị.

Trở về nhà, tôi vẫn nhớ tới hình ảnh người thương binh An Lộc liên tiếp phóng những tia mắt khẩn cầu “tiếp viện” tới anh không quân ngồi ngay trước mặt và anh hải quân ngồi chếch phía sau, nhớ tới hình ảnh một thí sinh “tự do” có bầu gần ngày sanh, giờ trắc nghiệm Sử Địa không khoanh nỗi nằm gục xuống tờ giấy, thả mở rộng tóc tả tơi rối bời, mấy ngón tay quờ quạng như cố đón lấy mảnh bằng than ôi ! Bao giờ cũng vượt khỏi tầm tay ?

LÊ ĐỨC SƠN

(*) Đăng trong Báo Chính Luận, Trang 7, Thứ Năm 13-7-1972

Cảm ơn anh Võ Phi Hùng – cựu học sinh Petrus Ký (67-74) chụp lại từ microfilm của Thư Viện Đại Học Cornell, New York.

Cám ơn anh Lê Phước Hải (PK 65-72) đã bỏ công đánh máy lại và gởi cho Petrus Ký Úc Châu