Nhớ Về Những Năm Làm “Dân Petrus Ký”
Lâm Vĩnh-Thế
Cưu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Ký, 1953-1960
Hè năm 1953, sau khi đã đậu bằng Tiểu Hoc, tôi đã nôp đơn xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn (vì số thí sinh dự thi rất đông, lên đến cả mấy ngàn) vào các lớp đệ thất của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường chỉ gọi tắt là Trường Petrus Ký, và, thật là hết sức may mắn, tôi đã trúng tuyển, được xếp hạng 355 trên tổng số 550 thí sinh trúng tuyển của năm đó. Sau đó, tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại ngôi trường danh tiêng đó. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những kỷ niệm vui buốn trong suốt thời gian 7 năm được làm “Dân Petrus Ký” đó.
Trở Thành “Dân Petrus Ký”
Được làm “Dân Petrus Ký” là một danh dự lớn của thòi đó. Mẹ tôi mừng vô cùng và hãnh diện nữa vì cả 4 đứa con đều đã đậu vào 2 trường trung học công lập lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Sài Gòn nói riêng và của cả đất Nam Kỳ Lục Tỉnh nói chung:
• Chị Hai Lâm Nguyệt Anh, sinh năm 1933, đã học xong Lớp Quatrième Année,tại Collège Gia Long, đã đậu bằng Diplôme (Diplôme d’Étude Primaire Supérieure Franco-Indigène) và đang được Mẹ cho đi Pháp học lên bậc Tú Tài.
• Chị Ba Lâm Nguyệt Phương, sinh năm 1936, cũng đã học Collège Gia Long 4 năm, đã đâu xong Diplôme và đã thôi học ra đi làm
• Anh Tư Lâm Vĩnh-Tế, sinh năm 1939, đang học Lớp Deuxième Année của Lycée Petrus Ký
• Và bây giờ, thằng Út, là tôi, cũng đã đậu vào Lớp Đệ Thất Trường Trung Học Petrus Ký (năm đầu tiên của Chương Trinh Việt tại Trường Petrus Ký)
Lớp Đệ Thất F Niên Khóa 1953-1954
Lúc mới vào trường, tôi được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, sau nửa năm học, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này đã được giữ mãi cho đến hết bậc đệ nhứt câp như sau: Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954), Lớp Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956),,và Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957).
Trong năm học này, bọn tôi được học với các Thầy Cô sau đây:
- Thầy Ưng Thiều: môn Hán Văn
- Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
- Thầy Ưng Đồ: môn Anh Văn
- Thầy Nguyễn Văn Gần: môn Sử Địa
- Thầy Tăng Văn Chương: Môn Vật Lý
- Thầy Lê Văn Khiêm: môn Hóa Học
- Cô Nguyễn Thị Ngà: môn Vạn Vật
Thầy Ưng Thiều
Thầy Ưng Thiều dạy chúng tôi môn Hán Văn năm Ðệ Thất. Chúng tôi chỉ học với Thầy có nữa năm, nhưng khó mà quên được Thầy. Sau khi xong Lục Cá Nguyệt đầu, nhà trường ra thông tư cho học sinh các lớp Ðệ Thất chọn hoặc tiếp tục học Hán Văn, hoặc chuyển sang học Anh Văn. Ðại đa số học sinh chuyển sang học Anh Văn (trong đó có cả tôi), kết quả chỉ còn lại có một lớp Ðệ Thất duy nhất tiếp tục học Hán Văn với Thầy Thiều. Hôm Lớp Ðệ Thất F (sau vụ chọn môn học đó, nhà trường đổi tên gọi các lờp, và Lớp Ðệ Thất B6 của bọn tôi bây giờ đổi tên, gọi là Ðệ Thất F) học giờ Hán Văn cuối cùng, Thầy Thiều đã đọc cho bọn tôi nghe bài thơ Thầy đã cảm hứng đặt ra như sau:
Ðệ Thất cùng ta có cảm tình
Chia tay không lẻ lại làm thinh
Một ngày cũng gọi duyên sư đệ
Bốn tháng càng thêm … (tôi quên mất mấy chữ cuối)
Thú thật lúc bấy giờ, bọn tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu được tấm lòng của Thầy đối với bọn tôi. Bây giờ, nghĩ lại mới thấy quả thật mình đã quá vô tình với Thầy, chỉ mong sớm chấm dứt việc học môn Hán Văn quá khó khăn, để chuyển sang học môn Anh Văn coi bộ vừa dễ học hơn vừa có tương lai hơn. Tuy thời gian học với Thầy Thiều quá ngắn ngủi nhưng cũng có nhiều kỹ niệm vui. Thầy bắt bọn tôi mổi đứa đều phải cắt giấy tập ra thành từng miếng vuông vức, mổi cạnh chừng 5 cm, rồi viết từng chữ Hán lên đó, mà phải viết cho thật vuông vức. Mổi khi Thầy kêu lên trả bài thì phải mang lên nguyên xấp giấy có viết chữ đó trình cho Thầy, Thầy sẽ lựa ra một vài chữ, đưa ra và bọn tôi phải trả lời ngay là đó là chữ gì và nghĩa gì. Bọn tôi thường nói đùa với nhau và gọi đó là “bộ bài của Thầy Thiều”. Tuy chính thức là dạy Hán Văn, nhưng Thầy Thiều cũng dạy bọn tôi làm thơ luôn. Có một buổi học tôi còn nhớ hoài, hôm đó Thầy kêu bọn tôi lên trả bài, nhưng thay vì hỏi mặt chữ Hán như mọi lần, lần nầy Thầy biểu mổi đứa phải đọc một câu thơ. Dĩ nhiên là tụi tôi xanh mặt hết vì đâu có chuẩn bị gì trước. Tên đầu tiên được gọi, đứng lên, và nhanh trí, anh ta tuông ra một câu xanh dờn:
Má tôi đi chợ chưa về
Thầy Thiều gật gù, không biết suy nghĩ thế nào, nhưng Thầy chấp nhận, Thầy nói: “Ðược”, rồi kêu một tên khác. Tên nầy thấy coi bộ dễ ăn, bèn thừa thắng xông lên, tuông ra luôn:
Thiếm tôi đi chợ chưa về
Nhưng lần nầy thì không được nữa rồi, Thầy Thiều không chấp nhận và ra lệnh cho tên đó phải đổi qua một câu khác. Tên nầy cũng khá, bèn tự biên tự diễn luôn một câu mới, tuy mới về nội dung nhưng hình thức thì rõ ràng cũng vậy thôi:
Chú tôi ra tiệm mua đồ
Ðến đây thì Thấy Thiều đã thấy rõ ràng là kiểu trả bài theo lối nầy là không xong rồi nên Thầy tự động chấm đứt luôn và trở về lối củ, dùng “bộ bài” để đố bọn tôi chữ Hán. Thầy Thiều chính là tác giả hai câu đối đã được khắc ở cổng chính của Trường Petrus Ký:
Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm
Thầy Phạm Văn Sửu
Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dổ của Thầy (chúng tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua tư cách của thầy,, cũng như qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của thầy. Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài. Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẩn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lổ. Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỹ niệm êm đềm. Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mãnh bằng Cử Nhân Luật Khoa. Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm. Gần mười năm sau, hai thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre). Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa. Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa. Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học. Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: “Cái thằng nhớ dai dữ.” Thầy rất mừng cho sự đổ đạt của tôi. Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ “Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”.
Thầy Ưng Đố
Khi lớp Ðệ Thất F của bọn tôi thành hình (từ Ðệ Thất B6 đổi tên sang Ðệ Thất F, do quyết định chọn học môn Anh Văn), một Thầy Giám thị được nhà trường cử sang dạy môn Anh Văn. Ðó là Thầy Ưng Ðồ. Thầy Ưng Ðồ tướng người cao lớn, da ngâm đen, tiếng nói rỗn rảng. Thầy cho bọn tôi biết là Thầy tự học môn Anh Văn vì Thầy thích ngôn ngữ nầy, Thầy đã từng tìm cách làm quen với các thủy thủ tàu buôn từ các nước nói tiếng Anh đến Saigon, với mục đích học cách phát âm và đàm thoại. Nên nhớ rằng vào thời gian đầu thập niên 50 nầy, số người biết rành tiếng Anh ở Việt Nam không có nhiều lắm. Ða số người học Anh Văn ở Saigon vào thời gian nầy đều sử dụng bộ đĩa “Anglais Sans Peine” (của Pháp) để nghe và học cách phát âm, ít có người chịu khó tìm học cách phát âm nơi những người “native speakers” như Thầy Ðồ. Lúc đó, vì chưa hiểu nhiều gì về tiếng Anh, tụi tôi thường cười với nhau khi thấy Thầy Ðồ cố gắng sửa lưởi, sửa miệng để phát âm cho đúng các tiếng Anh đầu tiên mà Thầy đã dạy cho bọn tôi. Một điều đặc biệt nữa cần ghi lại về Thầy Ðồ là sự đam mê tiếng Anh của Thầy. Thầy mê đến độ Thầy đã đặt tên cho mấy người con trai của Thầy bằng tiếng Anh luôn: hai anh Bửu Second (tức Bửu Nhị) và Bửu Third (tức Bửu Tam) là bạn học với bọn tôi suốt thời gian Ðệ Nhất Cấp.
Thầy Nguyễn Văn Gần
Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư dạy chúng tôi môn Sử Ðịa trong hai năm Ðệ Thất và Ðệ Ngủ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp chúng tôi còn học với Thầy thêm năm Ðệ Tam nữa). Trong tất cả các giáo sư mà tôi đã học ở Trường Petrus Ký trong suốt 7 năm chương trình Trung học, Thầy Gần là người vui tính nhứt, và dạy học sống động nhứt với lối kể chuyện rất lôi cuốn, làm bọn tôi vô cùng say mê. Riêng đối với cá nhân tôi, Thầy Gần đã có ảnh hưởng rất nhiều, gây sự thích thú trong tôi đối với môn học mà phần đông học sinh đều cho là khô khan, khó nuốt. Về sau chính tôi đã theo bước Thầy và trở thành Giáo sư dạy môn Sử Ðịa. Ngoài việc dạy anh em chúng tôi theo đúng chương trình chính quy của Bộ Giáo Dục, Thầy Gần luôn luôn kể thêm nhiều chuyện ngoại sử (kiểu như bài đọc thêm) với nhiều tình tiết hấp dẫn. Chắc chắn anh em nào đã học Sử Ðịa với Thầy Gần trong thời gian nầy cũng còn nhớ cảnh Thầy vừa kể chuyện D’Artagnan (trong truyện Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ – Les Trois Mousquetaires của Alexandre Dumas) đánh kiếm vừa ra bộ làm tuồng rất là hấp dẫn. Thời gian đó các anh lớn Petrus Ký đi thi Tú Tài mà gặp được Thầy hỏi vấn đáp thì coi như đậu chắc môn Sử Ðịa, vì Thầy không hề cho ai dưới điểm trung bình cả. Tôi tin rằng tất cả anh em học sinh Petrus Ký ai cũng thương mến Thầy Gần vì tánh tình vui vẻ, hiền lành của Thầy.
Thầy Tăng Văn Chương
Hình ThầyTăng Van Chương không rõ năm chụp
Thầy Tăng Văn Chương dáng người tầm thước, mặt nghiêm nghị là Giám thị trực tiếp trông coi lớp Ðệ Thất B6 của bọn tôi. Thầy biết tên họ, gia cảnh, hạnh kiểm, học lực của từng đứa bọn tôi. Lúc đầu bọn tôi rất sợ Thầy nhưng dần ra bọn tôi nhận ra là Thầy cũng hiền chứ không dữ như cái bề ngoài của Thầy. Một kỹ niệm vui mà tụi tôi có với Thầy xảy ra như sau: hôm đó vừa xong giờ Pháp Văn với Thầy Sửu, tụi tôi được ra chơi, anh Nguyễn Văn Ánh (về sau trở thành phi công lái phi cơ khu trục của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa và tử nạn trong một phi vụ vào khoảng cuối thập niên 60) vừa ở trong lờp phóng ra, sớn sát nhảy lên cập cổ Thầy Chương từ đằng sau, khi nhận ra mình lầm, anh hoãng hồn vừa xin lổi Thầy Chương vừa ấp úng nói: “Con tưởng thằng Tắc” (anh Dương Xã Tắc là học sinh lớn tuổi nhứt mà cũng lớn con nhứt trong lớp; anh Tắc và tôi về sau rất thân nhau; anh tử trận trong một cuộc đụng độ ở Bến Lức vào khoảng năm 1964), lúc đó tụi tôi đều xanh mặt lo sợ cho anh Ánh, nhưng, thật không ngờ, Thầy Chương chỉ cười và nói :”Cái thằng con khỉ” , rồi tiếp tục “đi tuần” như không có chuyện gì xảy ra.
Thầy Lê Văn Khiêm
Hình Thầy Lê Văn Khiêm không rõ năm chụp
Thầy Khiêm dạy Hóa Học cũng người tầm thước như Thầy Chương nhưng ốm hơn, mặt coi hiền hơn, cũng là Giám thị khu vực lớp tôi, làm việc xen kẻ với Thầy Chương. Tôi còn nhớ mãi một hôm trong giờ Hóa Học, Thầy Khiêm, sau khi làm thí nghiệm phân tích nước ra thành ốc-xy và hydrô, đã cho một số học sinh chúng tôi lên ngữi ốc-xy trong ống nghiệm mà thầy đã phân tích ra được, và dĩ nhiên là bọn nhóc tụi tôi khoái vô cùng. Mấy năm về sau, mặc dù không còn học với Thầy Khiêm nữa, nhưng bọn tôi vẫn tiếp tục được Thầy trông coi với tư cách Giám thị.
Cô Nguyễn Thị Ngà
Vị Giám thị nữ duy nhứt của Trường Petrus Ký là Cô Ngà, dạy môn Vạn Vật. Cô đi làm luôn luôn mặc áo dài trắng, ít khi thấy Cô mặc áo màu nào khác. Cô bới đầu, mặt chỉ thoa một lượt phấn mõng. Cô nói năng lúc nào cũng dịu dàng, nhỏ nhẹ, gần như không bao giờ thấy Cô giận, hay la mắng bọn tôi. Giờ Vạn Vật học với Cô lúc nào cũng vui vẻ, náo nhiệt vì bọn tôi biết không bao giờ Cô phạt ai cả. Vì thế, không nói ra, nhưng tất cả bọn tôi đều coi Cô như Bà Mẹ chung của cả lớp. Nói chuyện với nhau, bọn tôi luôn luôn gọi Cô là “Má Ngà.” Cô có một người con trai, anh Quang, học chung lớp với bọn tôi cho đến hết bậc đệ nhị cấp luôn.
Lớp Đệ Lục F Niên Khóa 1954-1955
Năm học này bắt đầu trong một hoàn cảnh chính trị hết sức đặc biệt của đất nước và lại có tác động trực tiếp vào sinh hoạt của nhà trường. Hiệp Định Genève đã được ký kết giữa Pháp và Việt Minh, chấm dứt cuộc Chiến Tranh Việt-Pháp đã kéo dài trong 9 năm (1945-1954). Gần 1 triệu người từ Miền Bắc đã ồ ạt di cư vào Nam. Bộ Giáo Dục ra lệnh cho ban giám đốc Trường Petrus Ký phải tìm mọi cách giúp đở cho Trường Trung Hoc Chu Văn An từ Hà Nội di chuyển vào Sai Gòn. Trường Petrus ký quyết định như sau: 1) Trường chỉ làm viiệc mỗi ngày 6 giờ thôi, từ 7 giờ sáng đến 1 giờ trưa; sau đó nhường cơ sở lại cho Trường Trung Học Chu Văn An sủ dụng từ 1 giờ trưa đến 7 giờ tối; 2) Các lớp đi thi sẽ được hoc mỗi ngày 4 giờ, từ 7 giờ đến 11 giờ sáng; và 3) Các lớp còn lại chỉ học mỗi ngày có 2 giờ thôi, từ 11 giớ sáng đến 1 giờ trưa. Do đó, Lớp Đệ Lục F của bọn tôi đã học mỗi ngày 2 giờ, từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa như vậy trong suốt năm học.
Trong năm học này, bọn tôi được học với các Thầy Cô sau đây:
• Thầy Ưng Thiều: môn Quốc Văn
• Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
• Thầy Đinh Xuân Thọ: môn Anh Văn
• Cô Lâm Thị Dung: môn Sử Đia
• Thầy Vũ Ngọc Khôi: 3 môn Toán, Lý-Hóa, và Vạn Vật
Thầy Đinh Xuân Thọ
Hình Thầy Đinh Xuân Thọ chụp năm 1953
Thầy Ðinh Xuân Thọ dạy Anh Văn cho bọn tôi trong hai năm Ðệ Lục và Ðệ Ngũ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp, bọn tôi còn được học thêm với Thầy một năm Ðệ Tam nữa). Thầy Thọ tướng người tầm thước, trắng trẻo, giống như lai Pháp. Thầy rất hiền, và có một đặc điểm mà tôi không bao giờ quên được là mổi khi Thầy mắt cở thì hai vành tai của Thầy đỏ lên liền. Thầy dạy học rất tận tụy với học sinh, Thầy dạy bọn tôi quyển Anglais Vivant, 6e Bleu của Carpentier Fialip là sách giáo khoa Anh văn của thời đó, Thầy bắt bọn tôi tập đọc rất nhiều, Thầy lại chú trọng rất nhiều về văn phạm, nhờ vậy mà bọn tôi có được một căn bản về văn phạm rất vững chắc. Sau khi rời Trường Petrus Ký tôi không có dịp nào gặp lại Thầy. Tháng 8 năm 1984, trước khi rời Ottawa, đi nhận nhiệm sở mới tại Hamilton, Ontario, tôi có dịp gặp được người con trai của Thầy là Bác sĩ Ðinh Xuân Anh Tuấn và được Tuấn cho hay Thầy đã mất vì bịnh tim tại Pháp mấy năm trước đó.
Cô Lâm Thị Dung
Hình Cô Lâm Thị Dung không rõ năm chụp
Cô Lâm Thị Dung là một trong số rất ít các vị nữ Giáo sư của Trường Petrus Ký trong khoảng thời gian nầy. Cô dạy bọn tôi môn Sử Ðịa ở năm Ðệ Lục nầy (về sau chúng tôi lại được học với Cô một năm nữa, ở lớp Ðệ Nhị, nhưng trong năm nầy Cô chỉ dạy môn Ðịa Lý mà thôi). Cô Dung người nhỏ thó, gương mặt trái soan, Cô cũng bới đầu như Cô Nguyễn Thị Ngà, nhưng Cô còn trẻ hơn. Về mặt dạy học, Cô Dung là thái cực đối lập với Thầy Nguyễn Văn Gần của năm Ðệ Thất. Cô rất nghiêm, và cách giảng bài của Cô lại nặng về từ chương, làm cho tất cả bọn tôi đều ngán và sợ hai giờ Sử Ðịa của Cô. Nói cho thật công bình thì vì bọn tôi đã quen với cách dạy vui nhộn và sống động của Thầy Gần qua suốt một năm Ðệ Thất, nên bây giờ trước cách dạy rất là “chính quy” của Cô, tụi tôi không thể không có sự so sánh tương đối bất công đối với Cô.
Thầy Vũ Ngọc Khôi
Hình Thầy Vũ Ngọc Khôi chụp năm 1953
Thầy Vũ Ngọc Khôi dạy bọn tôi hai năm, Ðệ Lục và Ðệ Tứ, cả ba môn Lý, Hóa và Vạn Vật. Trái hẳn với Thầy Lê Xuân Khoa, Thầy Khôi tướng tá rất vậm vỡ, trông như một võ sĩ. Có thể nói bọn tôi mê Thầy Khoa bao nhiêu thì bọn tôi sợ Thầy Khôi bấy nhiêu. Thầy dạy học rất nghiêm khắc, đứa nào lạng quạng, không thuộc bài, hay bị kêu lên bảng làm toán (vật lý) mà lôi thôi thì chết với Thầy. Nhưng nhờ vậy mà bọn tôi học rất có kết quả, nhất là năm Ðệ Tứ, đi thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp đậu gần hết. Thầy Khôi cũng là một tấm gương sáng cho bọn tôi về đức tánh hiếu học. Thầy chịu khó vừa đi làm, vừa học thêm, Thầy lấy được bằng Cử Nhân Luật Khoa. Sau đó Thầy lại học tiếp, lấy xong Cao Học Luật Khoa và sau cùng Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Luật Khoa của Ðại Học Saigon. Trong thập niên 80, tôi được tin Thầy đã vượt biên thành công cùng với người con trai và định cư tại Hoa Kỳ trong vùng Washington, D.C. Tôi có liên lạc thư từ với Thầy nhiều lần, nhưng chưa có dịp gặp lại Thầy trước khi Thầy qua đời vì bịnh tim.
Lớp Đệ Ngũ F Niên Khóa 1955-1956
Trong năm học này, bọn tôi đã được học với các Thầy sau đây:
• Thầy Bùi Trọng Chương: 2 môn Quốc Văn và Luân Lý
• Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
• Thầy Đinh Xuân Thọ: môn Anh Văn
• Thầy Nguyên Văn Gần: môn Sử Địa
• Thầy Phan Đình Nữu: môn Toán
• Thầy Trần Thượng Thủ: 2 môn Lý-Hóa và Vạn Vật
• Thầy Trương Đình Ý: môn Hội Họa
Thầy Bùi Trọng Chương
Hình Thầy Bùi Trong Chương chụp khoảng thập niên 2000
Thầy Bùi Trọng Chương cùng tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội và cùng được bổ về dạy Trường Petrus Ký cùng một lượt với các Thầy Lê Xuân Khoa, Thầy Vũ Ngọc Khôi và Thầy Đinh Xuân Thọ. Tôi được may mắn học với Thầy môn Quốc Văn liên tiếp bốn năm Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, Ðệ Tam và Ðệ Nhị. Thầy Chương người tầm thước, hơi ốm, và có thể nói là một trong những vị Giáo sư khả kính nhất, và có tác phong sư phạm nhất của Trường Petrus Ký trong suốt thời gian 7 năm tôi theo học tại Trường. Thầy rất nghiêm, nhưng không khắc khe, Thầy lại dạy học rất tận tâm, soạn bài rất kỹ, chấm bài rất đều, và cho điểm rất chừng mực. Khi dạy lớp đi thi, như Ðệ Tứ (thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp) hay Ðệ Nhị (thi Tú Tài I), Thầy cố gắng theo sát và dạy thật đầy đủ chương trình giáo khoa, nhờ vậy, khi đi thi có thể nói là bọn tôi hoàn toàn không bị lúng túng trước các đề thi. Thầy Chương cũng nêu gương hiếu học cho bọn tôi. Vừa dạy học Thầy vừa học thêm tại Ðại Học Luật Khoa và sau cùng cũng lấy xong bằng Cử Nhân Luật. Về sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon, tôi có dịp làm việc chung với Thầy vài lần tại các hội đồng thi Tú Tài. Khi đó Thầy thường đãm nhận chức vụ Chánh Chủ Khảo hoặc Phó Chủ Khảo các hội đồng thi nầy và tôi lại được học hỏi về cách làm việc công bình và quang minh chính đại của Thầy. Trước khi rời Việt Nam năm 1981 tôi có đến chào Thầy lần cuối tại nhà Thầy trong khu Bàn Cờ. Về sau Thầy cùng gia đình sang định cư tại tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ. Một lần nữa Thầy lại làm chúng tôi ngạc nhiên và vô cùng khâm phục: Thầy trở lại trường Ðại Học và lấy xong văn bằng Bachelor of Arts. Gần đây, mổi khi Thầy có dịp về Việt Nam thì anh em học sinh lớp Ðệ Tứ F của Petrus Ký lại tổ chức họp mặt với Thầy. Thầy mất năm 2013 tại Nam California, Hoa Kỳ. Sau khi Thầy mất, tôi đã cùng với em Lương Văn Hy, giáo sư Đại Học Toronto, thành lập một Quỹ Học Bổng mang tên Thầy nhằm mục đích cấp phát học bổng cho học sinh giỏi và có gia cảnh khó khăn của Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường Trung Học Petrus Ký trước năm 1975, là ngôi trường mà Thầy đã gắn bó trọn cuộc đời 40 năm dạy học của mình). Có thể vào xem chi tiết về Quỹ Học Bổng Thầy Bùi Trọng Chương tại địa chỉ Internet sau đây:
http://hoc-bong-btc.blogspot.ca/p/trang-chu_25.html
Thầy Phan Đình Nữu
Thầy Phan Đình Nữu tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội năm 1953 và được bổ nhiệm vào Nam cùng một lúc với các Thầy Lê Xuân Khoa, Bùi Trọng Chương, Vũ Ngọc Khôi, và Đinh Xuân Thọ. Thầy Nữu được điều về Trường Quốc Gia Su Phạm. Thầy Nữu chỉ dạy giờ tại Trường Petrus Ký có một niên khóa này mà thôi.
Thày Trần Thượng Thủ
Thầy Trần Thượng Thủ dạy bọn tôi chỉ có một năm Ðệ Ngũ nầy thôi nhưng thật cũng khó mà quên được Thầy. Vì nhiều lý do. Trước hết là con người của Thầy. Thầy tác người thấp lại mập tròn, đầu gần như không có tóc, trông Thầy giống như một sĩ quan của Quân Ðội Thiên Hoàng. Thầy lại rất nghiêm khắc, và nhiều khi có những hành động thái quá đối với học sinh, như là lên gối, dộng đầu học sinh vào bảng đen, có thể nói Thầy là một “hung thần” đối với bọn tôi (chính Thầy đã dùng chữ “hung thần” nầy để tự mô tả mình trong bài viết của Thầy trong Ðặc San Petrus Ký 1998). Nhưng phải công nhận là Thầy giảng bài hay vô cùng, Thầy lại viết chữ và vẻ hình rất đẹp trên bảng. Một điểm đặc biệt nữa về Thầy Thủ là Thầy không ký tên thật của mình mà luôn luôn ký “Tam Tê” (vì tên họ của Thầy gồm ba chữ T đứng đầu) trong học bạ của học sinh. Hơn mười năm sau, tôi có dịp gặp lại Thầy vì dạy chung với Thầy tại Trường Trung Học tư thục Kiến Thiết. Ngay tại lần gặp gỡ đầu tiên trong phòng giáo sư Trường Kiến Thiết, khi tôi tiến lại chào, Thầy đã gọi tôi bằng tên họ chữ lót đầy đủ làm tôi vừa cảm động, vừa khâm phục trí nhớ của Thầy vô cùng.
Thầy Trương Đình Ý
Thầy Trương Ðình Ý dạy bọn tôi môn Hội Họa. Mổi lần tới giở nầy là bọn tôi đến Phòng Vẻ xếp hàng bên ngoài, chờ Thầy cho phép mới được vào. Mổi học sinh có một giá vẻ riêng, ở giữa phòng có một cái bệ cao, trên đó Thầy Ý sẽ đặt một món đồ cho bọn tôi coi theo mà vẻ, khi thì cái ấm nước, khi thì nải chuối, v.v. Chuyên môn của Thầy Ý về sau nầy tôi mới biết là nắn tượng chứ không phải vẻ tranh. Thầy Ý, dù thật sự là một nghệ sĩ, bề ngoài trông không có vẻ gì là nghệ sĩ cả, nhìn Thầy bọn tôi có cảm tưởng Thầy là một ông công chức già, tóc hớt cao, làm việc tỉ mĩ. Suốt giờ học, Thầy chỉ ngồi tại bàn bu-rô, cắm cúi làm chuyện riêng của mình (phác họa các đồ án điêu khắc của Thầy), chỉ thỉnh thoảng ngước lên nhìn một vòng xem có đứa nào phá rối gì hay không, họa hoằn lắm mới thấy Thầy đi một vòng xem bọn tôi vẻ ra sao. Thầy Ý chính là điêu khắc gia đã tạo tượng Phật nằm khổng lồ, dài 49 m, ở núi Tà Cú, thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, được xác nhận trong Trang Web sau đây:
Tượng Phật Nằm khổng lồ dài 49 m tại Núi Tà Cú, tỉnh Bình Thuận
http://www.tiengviet.com/kham-pha-tuong-phat-dai-nhat-dong-nam-a.html
Lớp Đệ Tứ F Niên Khóa 1956-1957
Trong năm học này, bọn tôi đã được học với các Thầy Cô sau đây:
• Thầy Bùi Trọng Chương: 2 môn Quốc Văn và Luân Lý
• Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
• Thầy Nguyễn Hoàng Sang: môn Anh Văn
• Cô Nguyễn Thị Sâm: môn Sử Địa
• Thầy Dương Dạn Hòa: môn Toán
• Thầy Vũ Ngọc Khôi: 2 môn Lý-Hóa và Vạn Vật
• Thầy Nguyễn Văn Hài: môn Hội Họa
• Thầy Marcel: môn Âm Nhạc
Thầy Nguyễn Hoàng Sang
Thầy Nguyễn Hoàng Sang dạy môn Anh Văn là một người tầm thước, hơi ốm, đi dạy lúc nào cũng bận một đồ complet bằng sharkskin trắng. Thầy Sang có rất nhiều đặc điểm làm bọn tôi khó quên được Thầy. Tôi thật sự không rõ Thầy có được đào tạo về sư phạm hay không nhưng phải nhận rằng Thầy dạy rất hay, rất sống động, vừa tạo được không khí vui tươi cho lớp học, vừa tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong giờ học. Khi dạy về đề tài nào là Thầy vẻ hình về đề tài đó lên bảng ngay, mà Thầy vẻ theo lối hí họa nên trông rất vui và hấp dẫn. Một lần Thầy dạy một bài về tàu bè, thế là Thầy vẻ ngay lên bảng một chiếc tàu, với đầy đủ mỏ neo, ống khói và dây ăng-ten. Vẻ xong, Thầy quay lại hỏi bọn tôi có biết dây đó là dây gì hay không. Dĩ nhiên bọn tôi đều biết đó là dây ăng-ten nhưng anh Ánh (cũng là cái anh chàng Ánh liếng khỉ đã nhảy lên cặp cổ Thầy Giám Thị Chương của hai năm về trước) lẹ làng dơ tay lên xin trả lời và bảo đó là dây phơi quần áo. Bọn tôi cười quá trời. Thầy Sang, mặt không đổi sắc, vừa chỉ tay vào mặt anh Ánh vừa nói :”Cha mầy!”. Vậy thôi, Thầy không phạt anh Ánh gì cả, và lại quay ra dạy tiếp. Từ đó tụi tôi biết rõ bản tính hiền lành của Thầy. Khi dạy bài “Thỏ Rùa Chạy Ðua” Thầy kêu ba học sinh lên, tôi và hai anh Xuân và Phước, Thầy bắt tôi đóng vai Thỏ, hai anh Xuân và Phước đóng vai Rùa, rồi Thầy bố trí cho hai con Rùa trong một lối đi giữa các bàn học, một con (anh Xuân) ở đầu lối đi, một con (anh Phước) ở cuối lối đi, còn con Thỏ thì ở lối đi phía bên kia. Hể con Thỏ chạy gần đến cuối lối đi bên nây thì con Rùa nhõm dậy ở lối di bên kia, vậy là lần nào con Thỏ cũng thua cả. Trong suốt vở kịch, ba anh em chúng tôi phải nói toàn những câu tiếng Anh do Thầy đã dạy trước. Bọn diển viên bất đắc dĩ chúng tôi đã đóng trọn vẹn vở kịch “Thỏ Rùa Chạy Ðua” do Thầy Sang “dàn dựng” ngay trong lớp học, và cả lớp đã được một buổi học vô cùng vui vẻ và sống động. Ðặc điểm sau cùng về Thầy Sang mà tôi vẫn còn nhớ là Thầy đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc Juvaquatre mui trần màu trắng, một điều khá hiếm trong giới Giáo sư trung học trong thập niên 50. Riêng tôi có được thêm một kỹ niêm riêng với Thầy Sang. Giữa năm đó, thi đệ nhứt lục-cá-nguyệt tôi đứng hạng nhứt môn Anh Văn, và được Thầy chọn thay mặt cho học sinh Petrus Ký đọc một diễn văn ngắn bằng tiếng Anh trong buổi lể tiếp nhận sách do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tặng cho Trường. Tôi còn nhớ một ngày trước buổi lể đó, học sinh Petrus Ký chúng tôi được điều động ra đứng dọc theo đường Công Lý để chào mừng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm công du Ðại Hàn trở về. Bọn tôi ra đó rất sớm, tất cả đều mặc đồng phục trắng cho các ngày lể, trong khi chờ đợi thì Thầy Sang đến, nói vài lời với thầy Giám thị phụ trách lớp bọn tôi, rồi dẩn tôi ra, cho tôi lên ngồi trên chiếc xe Juvaquatre kế bên Thầy (xe Thầy chỉ có hai chổ ngồi, không có băng sau) và tập dượt cho tôi đọc bài diển văn mà Thầy đã soạn sẳn. Nhờ vậy, qua hôm sau, tôi đã làm tròn nhiệm vu, đọc bài diển văn không bị vấp váp.
Cô Nguyễn Thị Sâm
Hinh Cô Nguyễn Thị Sâm không rõ năm chụp
Cô Nguyễn Thị Sâm là Giáo sư môn Sử Ðịa của lớp Ðệ Tứ F bọn tôi. Hình như Cô là con gái lớn của Thầy Y Tá Trưởng Bệnh Xá của Trường. Cô Sâm người tầm thước, tóc uốn, mặt trái soan, mang kính cận khá nặng, và có dáng đi rất đẹp. Cô là thái cực đối nghịch của Cô Lâm Thị Dung. Cô làm bọn tôi say mê môn Sử Ðịa vì Cô dạy môn học với tất cả tâm hồn và lòng nhiệt thành. Nếu Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư gây được niềm vui trong hai giờ Sử Ðịa thường được coi là khô khan, thì Cô Sâm là Giáo sư đã thật sự hun đúc nơi anh em chúng tôi lòng ái quốc, và niềm tự hào về lịch sử của dân tộc mình. Khác hẳn với Cô Dung chỉ lấy giáo khoa ra đọc cho bọn tôi nghe, Cô Sâm soạn hẳn bài Sử và đọc cho bọn tôi chép. Lời văn của Cô vừa bóng bẩy, vừa hùng hồn, đọc lên gây xúc động rất nhiều nơi học sinh.
Thầy Dương Dạn Hòa
Hình Thầy Dương Dạn Hòa – Niên Giám Quốc Hội VNCH Khóa 2, 1960
Thầy Dương Dạn Hòa (chữ lót trong tên của Thầy là như vậy, có lẻ do Chánh Lục Bộ đã viết sai khi thân phụ Thầy đi làm giấy khai sanh cho Thầy) dạy anh em chúng tôi môn Toán hai năm Ðệ Thất và Ðệ Tứ. Thầy Hòa người nhỏ nhắn, đi dạy học lúc nào cũng bận complet, thắt cà vạt đàng hoàng. Thầy rất nghiêm khắc, và đặt ra rất nhiều luật lệ làm cho chúng tôi theo muốn hụt hơi. Thí dụ, khi làm bài trên giấy nộp cho Thầy thì luôn luôn phải gạch hàng đóng khuôn tên của mình lại, mà khuôn thì phải đầy đủ bốn gạch thành hình chữ nhựt đàng hoàng, mấy tên nào làm biếng chỉ gạch hai gạch, và dùng hai cạnh của tờ giấy làm hai cạnh còn lại của khuôn tên, đều bị trừ hai điểm. Khi làm bài trong lớp nộp cho Thầy thì chỉ năm đứa nộp bài đầu tiên là được đủ điểm tối đa, năm đứa kế tiếp đều bị trừ một điểm, năm đứa kế nữa bị trừ hai điểm, và cứ thế điểm tối đa bị sụt dần. Vì cái “luật” khắc khe nầy, tụi tôi đứa nào cũng rán làm bài cho nhanh để khỏi bị trừ điểm. Ngoài ra, Thầy còn đặt thêm một luật nữa, là tất cả các bài toán đều phải có phép thử viết ngay bên cạnh, thiếu cái nầy cũng bị trừ điểm luôn. Nói tóm lại tụi tôi làm toán phải luôn luôn đạt hai tiêu chuẩn là nhanh và đúng. Lúc đầu mới học với Thầy thật quả là khốn khổ, nhưng dần dà rồi cũng quen và thấy có hiệu quả tốt. Và với thời gian tụi tôi cũng nhận ra rằng Thầy tuy bề ngoài có vẻ rất nghiêm khắc nhưng thật ra rất vui tính và thương tụi tôi như con. Ðặc biệt trong số học trò Thầy rất thương anh Hà Kim Phước, lý do là vì anh Phước nhỏ nhứt trong đám tụi tôi, nhỏ tuổi mà cũng nhỏ con luôn. Mãi đến bây giờ, anh em tụi tôi có dịp gặp lại nhau, có nhắc đến anh Phước đều gọi là “thằng Phước con Ông Hòa“. Ðến năm Ðệ Tứ phải đi thi bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp, tụi tôi có học thêm tại nhà với Thầy, một căn nhà gạch trong một con đường nhỏ mang tên là Palanca (bây giờ đổi tên thành đường Nguyễn Trung Ngạn). Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để nói thêm một ít về con đường nhà Thầy Hòa. Con đường nầy rất ngắn, chỉ dài chừng mười lăm, hai mươi mét từ ngoài đường Luro (sau đổi tên là Cường Ðể, bây giờ gọi là đường Tôn Ðức Thắng) vào. Ở ngay tại ngả ba hai đường nầy có một quán rượu nhỏ của một anh lính Pháp không chịu hồi hương (vì hình như đã lấy một bà vợ người Việt, và bà nầy không chịu theo chồng về Pháp) với một bảng hiệu rất ngộ nghĩnh, không đề bằng chữ mà toàn bằng số như sau : 0 20 100 0 (đọc theo tiếng Pháp sẽ tạo ra một âm thanh tương đương với câu Au Vin Sans Eau = Rượu Không Pha Nước). Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây. Nhờ học thêm Toán với Thầy, cuối năm đó đa số anh em chúng tôi đậu bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp rất dễ dàng. Thầy Hòa về sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, đại diện cho đơn vị Năm Căn của tỉnh An Xuyên (Cà Mau). Vào khoảng cuối thập niên 1990, tôi nhận được thơ của một người bạn thân cùng lớp, anh Nguyễn Thanh Hải. Trong thơ, anh Hải cho hay một tin buồn: Thầy Hòa, do lớn tuổi bị mất trí nhớ, đi lạc, không biết đường về nhà, Thầy phải lang thang xin ăn tại Chợ Cầu Muối một thời gian, may nhờ một học sinh củ nhận ra và đưa Thầy về nhà. Ðọc thơ xong, tôi không cầm được nước mắt. Lập tức, một mặt tôi liên lạc với anh Võ Duy Thưởng, Tổng thư Ký Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc California, nhờ Hội giúp đở, mặt khác tôi liên lạc với vài anh em Petrus Ký xưa có học với Thầy Hòa. Anh Thưởng nhân danh Hội Ái Hữu Petrus Ký gởi sang 100 Mỹ kim, phần tôi và mấy anh em quen góp thêm 100 Mỹ kim nữa. Tôi gởi về cho anh Hải và anh Hải đã cùng một số học trò củ đến thăm Thầy Hòa (vẩn tại căn nhà củ đường Palanca đó) và trao cho Cô số tiền nầy. Sau đó anh Hải có gởi sang cho tôi bức ảnh chụp chung tại nhà với Thầy Cô, nhìn vào ảnh tôi buồn nhiều khi thấy rõ cái nhìn không hồn của Thầy. Mấy năm sau thì tôi được tin Thầy đã mất.
Thầy Nguyễn Văn Hài
Thầy Hài, người Bắc, dạy bọn tôi môn Hội Họa trong năm Ðệ Tứ nầy. Thầy Hài người rất cao, mang kính, và tác phong hoàn toàn khác với Thầy Trượng Đình Ý của năm Ðệ Ngũ. Thầy rất hiền lành, và rất gần gũi với học sinh, giờ học nào cũng vậy, Thầy đi vòng vòng khắp lớp học và chỉ cho từng học sinh cách nhắm, cách vẻ, cách đánh bóng. Bọn tôi rất thương Thầy. Trước Tết năm đó, tin Thầy Hài bị tử nạn trong một vụ cháy nhà (nhà Thầy làm pháo, chẳng may bị nổ và gây ra đám cháy) làm cả lớp Ðệ Tứ F bọn tôi vô cùng xúc động. Nhà Trường đã tổ chức cho học sinh chúng tôi tham dự tang lể của Thầy.
Thầy Marcel
Thầy Marcel dạy bọn tôi môn Nhạc ở năm Ðệ Tứ nầy. Thầy là người Pháp lai, nói tiếng Việt (giọng Bắc) rất giỏi. Thầy bị tật ở chân nên đi khập khiểng. Ðiều đặc biệt nhứt ở Thầy Marcel là cặp mắt của Thầy, một cặp mắt sâu, sắc, và rất có thần, bọn tôi ít đứa nào dám nhìn thẳng vào mắt Thầy. Thầy lại rất nghiêm khắc. Giờ học với Thầy Marcel luôn luôn diển ra tại Phòng Nhạc. Bọn tôi sợ nhất là mổi khi Thầy ra bài, “dictée musicale” mổi lần như vậy thì Thầy ngồi vào chiếc đàn dương cầm, đánh lên một số nốt nhạc, và bọn tôi phải ghi ra trên giấy nộp lại cho Thầy để chấm điểm, tôi thường lãnh trứng vịt. Cũng may là môn Nhạc chỉ là một môn học “ăn chơi” mà thôi, không có thi lục-cá-nguyệt và điểm không được ghi vào thông-tín-bạ. Một kỷ niệm vui nữa là một hôm giờ Nhạc của Thầy Marcel trùng với giờ của trận bóng tròn quan trọng giữa Trường Petrus Ký và Trường Chu Văn An. Hơn nữa lớp Ðệ Tứ F (trong đó có tôi luôn) bỏ giờ Nhạc, trốn ra sân để xem trận banh và ủng hộ đội nhà. Ngày hôm sau vào Trường, bọn trốn học chúng tôi đều bị kêu lên gặp Thầy Tổng Giám Thị Lê Ngọc Toản, và mỗi đứa bọn tôi lãnh “nữa cấm túc”. Chúa Nhật đó tất cả bọn tôi đều gặp nhau tại Phòng cấm túc trong hai giờ.
Lớp Đệ Tam A Niên Khóa 1957-1958
Hình Lớp Đệ Tam A (NK 1957-1958) chụp chung với Thầy Trần Huệ (GS Vạn Vật)
Trong năm học này, bọn tôi được học với các Thầy sau đây:
• Thầy Bùi Trọng Chương: môn Quốc Văn
• Thầy Trương Văn Cao: môn Pháp Văn
• Thầy Đinh Xuân Thọ: môn Anh Văn
• Thầy Nguyễn Văn Gần: môn Sử Địa
• Thầy Nguyễn Tuế: môn Lý-Hóa
• Thầy Trần Huệ: môn Vạn Vật
Thầy Trương Văn Cao
Hình Thầy Trương Văn Cao không rõ năm chụp
Thầy Trương Văn Cao dạy môn Pháp Văn. Thầy tác người hơi thấp, tóc chải xuôi, đeo kính cận khá nặng, đi dạy học xách một cái cạc-táp khá lớn. Khác hẳn với tác người, Thầy Cao là người rất nhanh nhẹn, đi cũng nhanh, nói cũng nhanh, đọc bài cũng nhanh. Mấy tháng đầu, bọn tôi chạy theo Thầy cũng mệt dữ, nhất là Thầy lại đọc tiếng Pháp có bỏ dấu, theo kiểu các Thày Dòng trường Taberd. Nghe nói trước Thầy kia Thầy cũng có đi tu dòng các Su huynh một thời gian, nhưng về sau, vì thiếu ơn gọi, Thầy đã ra khỏi nhà dòng. Giờ học nào cũng vậy, khi bắt đầu bài mới, Thầy bước xuống khỏi cái bục kê bàn Giáo sư, tiến đến trước bảng đen, mở nút tay áo, xăng tay áo sơ mi lên, cầm viên phấn lên, và cứ thế Thầy viết ào ào (viết cũng nhanh luôn nữa mà), tụi tôi chép theo muốn khùng luôn. Còn cái chuyện trả bài thì ôi thôi còn “ghê rợn” hơn nhiều. Tụi tôi sợ nhất là cái màn trả bài “récitation”, tức là trả bài thuộc lòng, mà toàn là các bài thơ tiếng Pháp không mới chết chớ. Vì sợ cái màn trả bài ghê rợn nầy, bọn tôi đứa nào cũng rán lo học cho thuộc lòng như cháo các bài “récitation” nầy. Kết quả thấy rõ là cuối năm tên nào tên nấy đều thuộc thơ Pháp quá trời. Phương pháp của Thầy Cao quả thật có hiệu quả vô cùng đáng kể.
Thầy Nguyễn Tuế
Thầy Nguyễn Tuế dạy môn Lý Hóa. Khác hẳn Thầy Binh dạy Toán, Thầy Tuế trẻ hơn nhiều, chỉ lớn hơn bọn tôi độ chừng 5, 6 tuổi (nghe nói lúc đó Thầy còn đang học Ðại Học Khoa Học, và chỉ là giáo sư dạy giờ của Trường), người cao lớn, rất đẹp trai, đi dạy mặc quần áo rất hợp thời trang, và dạy học rất hay và hấp dẫn. Có lẻ vì tuổi tác không chênh lệch mấy so với học trò nên Thầy phải tỏ ra rất nghiêm. Tôi không còn nhớ gì đặc biệt về Thầy.
Thày Trần Huệ
Hình Thày Trần Huệ chup khoảng thập niên 2000
Thầy Trần Huệ dạy chúng tôi môn Vạn Vật. Thầy người thấp, mặt tròn, trắng trẻo, mang kính cận, nói chuyện hay giảng bài gì cũng rất bình tĩnh, chẩm rải. Bọn tôi có nhiều kỹ niệm vui với Thầy Huệ. Năm Ðệ Tam, chương trình Vạn Vật là học về Ðịa Chất. Mổi đầu giờ học đều có chú lao công của Phòng thí nghiệm mang lên một khay đựng đầy các mẫu đất đá mà Thầy Huệ đã chọn sẳn. Thầy cho phép bọn tôi chuyền nhau xem các mẫu đất đá đó. Lần nào cũng như lần nấy, đến cuối giờ Thầy kiểm lại thì cũng đều thiếu một vài mẫu vì bọn tôi dấu đi để phá Thầy. Thầy chỉ cười, kêu đích danh một vài tên mà Thầy biết rõ tánh liếng khỉ, và các tên đó phải móc túi ra, đem mẫu đất đá lên trả lại Thầy, và cả lớp lại được một màn cười thoải mái, thích thú. Thầy Huệ cũng là một mẫu người hiếu học, và rất có chí. Nghe nói Thầy xuất thân là một Giáo Học Cấp Bổ Túc (có bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp và học 3 năm tại Trường Quốc Gia Sư Phạm Saigon), nhờ cố gắng học đã đậu được bằng Tú Tài 2, Thầy lại tiếp tục học và lấy được Cử Nhân Giáo Khoa Vạn Vật và sau đó lấy luôn bằng Cao Học về Vạn Vật tại Ðại Học Khoa Học Saigon. Sau nầy tôi có dịp gặp lại Thầy trong thời gian du học ở Hoa Kỳ, 1971-1973, lúc đó Thầy đang học Tiến Sĩ về Giáo Dục. Sau khi tốt nghiệp, cả hai thầy trò chúng tôi đều cùng về phục vụ tại Trường Ðại Học Sư Phạm Saigon cho đến ngày 30-4-1975.
Lớp Đệ Nhị A Niên Khóa 1958-1959
Trong năm học này, bọn tôi được học với các Thầy Cô sau đây:
• Thầy Bùi Trọng Chương: môn Quốc Văn
• Thầy Trương Văn Cao: môn Pháp Văn
• Thầy Phạm Văn Thuật: môn Anh Văn
• Thầy Vũ Ký: môn Sử Ký
• Cô Lâm Thị Dung: môn Địa Lý
• Thầy Trần Văn Thử: môn Toán
• Thây Nguyễn Văn Phối: môn Lý-Hóa
• Thầy Nguyễn Gia Tường: môn Vạn Vật
Thầy Phạm Văn Thuật
Hình Thây Phạm Văn Thuật không rõ năm chụp
Thầy Pham Văn Thuật dạy bọn tôi môn Anh Văn lần đầu tiên vào năm Lớp Đệ Nhị A (NK 1958-1959). Thầy là Giáo Sư Anh Văn đầu tiên của bọn tôi thật sự đã tốt nghiệp từ một trường đại học Âu-Mỹ. Thầy tốt nghiệp Đại Học Sorbonne tại Paris, Pháp với bằng: Cử Nhân Văn Chương Pháp, và Cao Học về Anh Ngữ tại Trường School of Economics, Đại Học London của Anh Quốc. Thầy nói tiếng Anh dễ dàng và trôi chảy như một người Anh chính hiệu, hoàn toàn không có chuyện phải uốn môi uốn lưởi như Thầy Ưng Đồ đã dạy Anh Văn cho bọn tôi hồi Đệ Nhứt Cấp. Về sau, Thầy rời Trường Petrus Ký về Bộ Giáo Dục và đảm nhận chức vụ Tổng Giám Đốc, Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục. Đầu thập niên 1970, cả hai thầy trò chúng tôi cùng đi du học tại Hoa Kỳ và, sau khi mãn khóa, đều về phục vụ tại Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn cho đến ngày 30-4-1975.
Thầy Vũ Ký
Hình Thầy Vũ Ký không rõ năm chụp
Thầy Vũ Ký dạy chúng tôi môn Sử. Thầy người Trung, tác người ốm, cao, da hơi ngâm đen, và đeo kính cận gọng vàng. Tôi không còn nhớ gì nhiều về Thầy Ký, chỉ còn nhớ là tiếng Thầy rất lớn, giọng Thầy sang sảng và Thầy giảng Sử với rất nhiều nhiệt tình. Sau nầy tôi mới biết Thầy chính thật là một Giáo sư môn Quốc Văn, và là tác giả của nhiều sách giáo khoa môn nầy, cũng như là tác giả của một số sách về phê bình văn học khá nổi tiếng.
Thầy Trần Văn Thử
Hình Thầy Trần Văn Thử không rõ năm chụp
Thầy Trần Văn Thử là Giáo sư môn Toán, không riêng của lớp Ðệ Nhị A bọn tôi mà luôn cả các lớp Ðệ Nhị B nữa. Thầy Thử người to lớn, dềnh dàng, nhưng nói năng rất từ tốn. Thầy dạy bọn tôi cả Hình Học lẩn Ðại Số. Trong tất cả các Giáo sư dạy Toán mà tôi đã được học trong suốt 7 năm tại Trường Petrus Ký, Thầy Thử là ngưòi mà tôi khâm phục nhứt. Thầy dạy có phương pháp sư phạm đàng hoàng và sử dụng giờ dạy học với hiệu quả rất cao. Mổi tuần, bọn tôi học 4 giờ Toán, 2 giờ Hình Học vào Thứ Ba, và 2 giờ Ðại Số vào Thứ Năm. Tuần nào cũng vậy, Thầy bảo bọn tôi về đọc trước bài giáo khoa về phần sẽ học tuần sau. Vào giờ học, Thầy tóm lược nội dung của bài giáo khoa, sau đó Thầy chỉ cho chúng tôi cách áp dụng phần giáo khoa để giải các đề toán. Thí dụ, muốn chứng minh hai mặt phẳng song song thì có mấy cách tất cả, trong mổi cách thì cần có những yếu tố gì để có thể chứng minh được. Sau đó Thầy đưa ra các đầu đề toán về phần đó và dựa vào các yếu tố có trong đầu đề Thầy chỉ rõ cho bọn tôi là phải dùng cách thứ mấy để chứng minh. Phần còn lại của giờ học là thực sự giải các bài tập. Cuối giờ, bao giờ Thầy cũng lập lại các cách chứng minh cho bọn tôi nắm thật vững. Và cuối cùng là Thầy cho biết bọn tôi phải làm bài tập nào để nộp vào tuần sau. Thầy áp dụng cách dạy như thế trong suốt năm học. Mổi tuần bọn tôi phải nộp hai bài, một cho môn Hình Học và một cho môn Ðại Số. Và tuần nào Thầy cũng chấm và trả lại đầy đủ cho bọn tôi. Các bạn cứ thử tính xem, Thầy dạy tất cả 6 lớp Ðệ Nhị, mổi lớp độ 50 học sinh, mổi học sinh nộp hai bài, như vậy là mổi tuần Thầy chấm 600 bài tập, và chấm thật kỹ, sai một cái dấu + hay – trong bảng biện luận là Thầy cũng thấy và khoanh tròn. Thú thật, trong suốt cuộc đời đi học và sau nầy đi dạy của tôi, tôi chưa từng thấy một Giáo sư nào vừa dạy hay, vừa tận tâm với học sinh như vậy. Cuối năm Ðệ Nhị, bọn tôi đi thi Tú Tài Ban A, làm hai bài toán hoàn toàn không gặp một chút khó khăn nào. Về sau, Thầy Thử có một thời gian làm Hiệu Trưởng của Trường Petrus Ký.
Thầy Nguyễn Văn Phối
Hình Thầy Nguyễn Văn Phối chụp năm 1959
Thầy Nguyễn Văn Phối dạy chúng tôi môn Lý Hóa. Hình như Thầy cũng là Giáo sư chịu trách nhiệm chung về tất cả các phòng thí nghiệm của Trường. Thầy Phối người Bắc, tác người trung bình, tóc hớt cao và đã bắt đầu hoa râm. Thầy nói năng, làm việc đều cỏ vẻ lụp chụp, nhưng tánh Thầy rất hiền lành, dễ dãi, ít khi thấy Thầy giận học trò. Những giờ bọn tôi học Thầy đều diển ra tại phòng thí nghiệm. Tôi còn nhớ hoài có một lần Thầy làm thí nghiệm chất Na-tri, không hiểu sao bị nổ, miểng kiếng văng trúng vào tay Thầy làm chảy máu nhiều, Thầy phải ôm tay chạy lên Bệnh xá để được băng bó làm bọn tôi cười quá xá (dĩ nhiên bây giờ nghĩ lại thì thấy có lổi với Thầy quá, nhưng lúc đó thì bọn tôi đâu có nghĩ như vậy). Một điều nữa làm tôi nhớ hoài về Thầy Phối là Thầy thường dọa bọn tôi mổi lần bọn tôi học hành, làm bài lôi thôi với môn Lý Hóa của Thầy. Mổi lần như vậy là Thầy lại nói: “Học hành như mấy anh như vầy, cuối năm đi thi mà đổ thì cứ dầm cái tay tôi đi.” Bọn tôi cứ mượn cái câu nầy của Thầy mà giởn với nhau hoài: “Tao dầm cái tay mầy bây giờ.” Dọa bọn tôi như thế nhưng thật ra Thầy rất thương bọn tôi và dạy rất tận tâm, cho làm toán và giải bài tập rất kỹ, nhờ vậy cuối năm Ðệ Nhị nầy, bọn tôi thi Tú Tài I đậu gần hết lớp. Về sau Thầy Phối rời Trường Petrus Ký, lên làm việc trên Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, với chức vụ Chủ Sự Phòng Khảo Thí. Trong một thời gian, Thầy chính là người ký tên vào các chứng chỉ trúng tuyển các kỳ thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp và Tú Tài.
Thầy Nguyễn Gia Tường
HìnhThầy Nguyễn Gia Tường chụp năm 1959
Thầy Nguyễn Gia Tường dạy chúng tôi môn Vạn Vật. Chương trình môn Vạn Vật của lớp Ðệ Nhị là Thực Vật Học. Thầy Tường cũng là người Bắc, lúc bấy giờ đã trọng tuổi rồi, đầu Thầy đã hói nhiều, và râu Thầy cũng đã bạc. Ði dạy học, Thầy Tường luôn luôn đội nón cối và mặc một bộ complet may bằng hàng tussor. Thầy là Giáo sư cơ hữu về môn Luân Lý Chức Nghiệp của Trường Sư Phạm Quốc Gia, và chỉ dạy giờ cho Trường Petrus Ký. Cách dạy của Thầy rất đặc biệt. Mổi đầu giờ Thầy bảo bọn tôi dở sách giáo khoa ra, kêu một đứa đứng lên đọc bài cho cả lớp nghe, thĩnh thoảng Thầy bảo ngừng lại để Thầy giảng cho rõ về đoạn đó, cứ như thế cho đến cuối giờ. Cách Thầy bảo ngưng đọc cũng rất là đặc biệt, Thầy luôn luôn nói: “Thông thả, thông thả nào”. Lúc đầu bọn tôi đâu có hiểu, cứ tưởng là Thầy bảo đọc chậm lại, về sau mới biết là khi Thầy nói như thế tức là Thầy bảo ngừng đọc. Dĩ nhiên, câu nói nầy cũng đi vào “ngôn ngữ” của bọn Ðệ Nhị A chúng tôi luôn. Cứ mổi lần ra chơi, giành nhau uống nước trà nóng do Trường cung cấp ngoài hành lang thì thế nào cũng có tên la lớn lên: “Thông thả, thông thả nào”. Tôi không rõ Thầy có từng học vẻ hay không nhưng Thầy vẻ rất đẹp, bọn tôi nhiều hôm cứ mãi lo trầm trồ các hình Thầy vẻ trên bảng về các loại cây cối mà quên cả vẻ theo vào tập của mình. Trong tất cả các vị Giáo sư lớp Ðệ Nhị A năm học đó, Thầy Tường là người đạo mạo và khả kính nhứt.
Lớp Đệ Nhứt A1 Niên Khóa 1959-1960
Trong năm học cuối của bậc đệ nhị cấp này, bọn tôi đã được học với các Thầy sau đây:
• Phạm Mạnh Cương: môn Triết Học
• Thầy Huỳnh Văn Hai: môn Pháp Văn
• Thầy Phạm Văn Thuật: môn Anh Văn
• Thầy Trần Văn Quế; môn Sử Ký
• Thầy Bùi Đình Tấn: môn Địa Lý
• Thầy Trần Văn Binh: môn Toán
• Thầy Cao Thu Hiền: môn Lý-Hóa
• Thầy Nguyễn Huy Hùng: môn Vạn Vật
Thầy Phạm Mạnh Cương
Hinh Thầy Phạm Mạnh Cương chụp khoảng thâp niên 1960
Thầy Phạm Mạnh Cương dạy chúng tôi môn Triết Học. Thầy người Trung, tác người hơi thấp, nhỏ con, hơi ốm. Thầy rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ. Môn Triết là một môn học khó, nhưng Thầy cố gắng giảng cho thật dễ hiểu. Tuy nhiên bọn tôi vẫn không lấy gì làm thích thú môn học quá trừu tượng nầy. Mặc dù có sách giáo khoa của Linh Mục Cao Văn Luận, Thầy vẫn chịu khó soạn bài và đọc cho bọn tôi chép. Chỉ tiếc một điều là Thầy không cho làm luận nhiều nên năm đó đi thi bọn tôi tương đối gặp khó khăn với đề luận Triết. Thầy Cương lúc đó cũng đã là một nhạc sĩ nổi tiếng rồi, về sau Thầy còn nổi tiếng nhiều hơn
Thày Huỳnh Văn Hai
Thầy Huỳnh Văn Hai dạy chúng tôi môn Pháp Văn. Lúc dạy bọn tôi Thầy đã về hưu từ lâu rồi, nhưng Thầy vẫn còn đi dạy giờ thêm. Ðầu Thầy bạc trắng, nhưng Thầy vẫn còn rất khoẻ, tiếng nói vẫn còn rỗn rãng. So với Thầy Trương Văn Cao ở lớp Ðệ Nhị thì Thầy Hai dạy Pháp Văn vui hơn nhiều. Trong thời Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Thầy Hai đã từng là Dân Biểu của tỉnh Gò Công. Về sau, tôi còn được học với Thầy Hai thêm mấy năm ở Ðại Học Sư Phạm Saigon. Thầy phụ trách dẫn sinh viên Ban Sử Ðịa bọn tôi đi dạy tập sự ở các trường Trung Học Ðệ Nhị Cấp tại Saigon.
Thầy Trần Văn Quế
Hình Thầy Trần Văn Quế mặc sác phục Đạo Cao Đài
Thầy Trần Văn quế dạy chúng tôi môn Sử. Thầy người Nam, rất cao lớn, giọng nói trầm và ấm. Cũng như Thầy Huỳnh Văn Nhứ, năm đó Thầy đã lớn tuổi lắm rồi. Ði dạy học, có khi Thầy mặc complet có khi mặc áo dài, nhưng luôn luôn là màu trắng. Sau nầy tôi mới được biết Thầy là một chức sắc cao cấp của Ðạo Cao Ðài và đã từng làm Thứ Trưởng Nghiên Cùu và Cải Cách trong Chính Phủ Nguyễn Văn Tâm lần đầu (từ 25-6-1952 đến 8-1-1953). Thầy Quế rất hiền lành, ngay cả cái cười của Thầy cũng rất hiền lành. Chương trình Sử lớp Ðệ Nhứt là học về sử Việt Nam cận và hiện đại, Thầy lại là một chính khách đã từng hoạt động chống Pháp, bị tù Côn Ðảo, và lại từng tham gia Nội Các, nên khi Thầy giảng về các phong trào chống Pháp, Thầy giảng với tất cả tấm lòng nhiệt thành của Thầy, cộng thêm với những kinh nghiệm chính trị mà Thầy đã trãi qua, làm bọn tôi vô cùng say mê.
Thày Bùi Đình Tấn
Thầy Bùi Ðình Tấn dạy chúng tôi môn Ðịa Lý. Thầy người Bắc, cao lớn, trắng trẻo. Thầy dạy học rất nghiêm. Lúc đó sách Ðịa Lý Ðệ Nhứt của Thầy đã là sách giáo khoa tiêu chuẩn. Bọn tôi đứa nào cũng có mua sách nầy của Thầy. Vì thế vào lớp Thầy chỉ giảng thêm cho rộng ra mà thôi. Một đặc điểm về Thầy Tấn mà tôi khó quên được là Thầy vẻ bản đồ rất hay, Thầy lại chỉ cho bọn tôi phương pháp để vẻ nên bọn tôi vô cùng thích thú. Cuối năm đó, sau khi đậu xong Tú Tài 2, tôi tiếp tục học sách giáo khoa của Thầy và thi đậu luôn vào Ðại Học Sư Phạm Saigon, Ban Sử Ðịa.
Thầy Trần Văn Binh
Thầy Trần Văn Binh là Giáo sư môn Toán và có lẻ là Giáo sư lớn tuổi nhứt trong số Giáo sư dạy lớp Ðệ Nhứt niên khóa đó. Thầy Binh có nhiều nét rất độc đáo. Trước hết, Thầy là một con người sống rất giản dị. Nếu gặp Thầy ở ngoài đường người ta khó có thể đoán được Thầy là một Giáo sư trung học. Thầy luôn luôn mặc một chiếc quần ka ki củ màu vàng lợt, áo sơ mi tay ngắn trắng nhưng cũng rất củ, đã ngả sang màu cháo lòng, Thầy lại thắt một sợi dây nịch da cũng củ sì, mà lại quá dài, ở đoạn gần cuối, Thầy dùng Thầy một sợi dây thung buộc nó lại cho sát vào lưng quần. Thầy lại có nước da khá đen, răng Thầy bị hư khá nhiều và mất mấy chiếc, Thầy lại hớt tóc kiểu bàn chải. Tất cả cái bề ngoài đó dễ làm cho người ta lầm Thầy là một người thợ. Trên thực tế, trước khi về Trường Petrus Ký dạy Toán cho các lớp Ðệ Nhị Cấp, Thầy Binh là một công chức cao cấp, đã từng làm Phó Tỉnh Trưởng. Sau nầy, Thầy rời Trường Petrus Ký về làm Phó Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo các công chức cao cấp của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Không những giản dị, Thầy còn là một người rất hiền lành, bọn tôi chưa bao giờ thấy Thầy nổi giận hay nói lớn tiếng với học sinh. Thầy rất giỏi Toán, là một trong số rất ít người đã đậu Cử Nhân Giáo Khoa Toán trong thập niên 50 tại Ðại Học Khoa Học Saigon. Nhưng phải nhận là Thầy dạy Toán không có gì hấp dẫn. Cũng may là đối với Ban A của bọn tôi, môn Toán không phải là môn chánh.
Thầy Cao Thu Hiền
Thầy Cao Thu Hiền phụ trách môn Lý Hóa cho lớp Ðệ Nhứt A1. Thầy người Nam, ốm, cao, mang kính cận khá nặng. Thầy chỉ lớn hơn bọn tôi chừng 5, 6 tuổi gì đó thôi, và vừa mới đậu xong Cử Nhân Giáo Khoa Lý Hóa. Trong chương trình lớp Ðệ Nhứt Ban A, môn Lý Hóa rất nặng, nhất là phần Vật Lý, với hai quyển sách giáo khoa dầy cộm về Ðộng Lực Học. Chính vì thế mà Thầy Hiền phải tập trung gần như trọn năm học để dạy cho xong phần Vật Lý, phần Hóa Học gần như chỉ lướt qua thôi. Như vậy mà vẫn không có nhiều giờ để làm bài tập Vật Lý. (Chính vì vậy, tôi và một số bạn thân đã quyết định đóng tiền học thêm lớp đêm của Giáo sư Nguyễn Xuân Nghiên tại Trường Trung Học Tư Thục Hưng Ðạo vì được biết Giáo sư Nghiên hoàn toàn không dạy phần giáo khoa, chỉ giải bài tập mà thôi). Thầy Hiền quả đúng với tên gọi, Thầy rất hiền lành và dạỵ bọn tôi rất tận tâm.
Thầy Nguyễn Huy Hùng
Thầy Nguyễn Huy Hùng là Giáo sư môn Vạn Vật. Thầy người Bắc, ốm, cao, trắng trẻo, trông rất là thư sinh. Mà thật vậy, năm đó Thầy đang là sinh viên năm thứ 5 của Ðại Học Y Khoa Saigon. Chương trình Vạn Vật của lớp Ðệ Nhứt là học về cơ thể và sinh lý của con người. Với kiến thức Y Khoa, Thầy Hùng đã dạy môn Vạn Vật nầy rất hay. Không những dạy hết trọn chương trình giáo khoa, Thầy còn giải cho bọn tôi một số đề mang tính tổng hợp rất hay. Không rõ về phần các bạn khác ra sao, riêng cá nhân tôi năm đó đậu Tú Tài 2 là nhờ môn Vạn Vật học với Thầy Hùng. Tôi không bao giờ quên được lần gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Thầy Hùng. Buổi chiều hôm đó, vào một ngày Thứ Sáu, độ một tuần hay 10 ngày gì đó sau kỳ thi viết Tú Tài 2, tôi tình cờ có việc đi ngang Trường Petrus Ký thì gặp Thầy Hùng vừa trong Trường đạp xe ra (Thầy vẫn còn đi xe đạp). Gặp tôi Thầy mừng lắm, ngoắc tôi lại cho hay là tôi đã đậu phần thi viết rồi, và bảo tôi về lo học ôn bài để chuẫn bị vào thi vấn đáp vào sáng Thứ Hai tới. Tôi mừng quá xá, cám ơn Thầy lia lịa, rồi chạy về nhà liền để báo cho Mẹ tôi hay. Sau nầy tôi không có cơ hội nào được gặp lại Thầy Hùng nữa, nhưng được biết có một thời gian Thầy làm Trưởng Ty Y Tế tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh), chi tiết nầy do một ngườI bạn thân của tôi là anh Nguyễn Bình Tưởng kể lại, lúc đó anh Tưởng là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Vĩnh Bình.
Nhóm Các Bạn Thăn
Trong thời gian 7 năm (1953-1960) theo học TrườngPetrus Ký, tôi đã kết thăn với 8 người bạn cùng lớp thành một Nhóm 9 Ngươi BạnThân. Tình bạn này đã kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ, chính xác là 66 năm, cho đền tận ngày hôm nay ở năm 2026 này. Đó là các bạn:
- Nguyễn Thanh Hải
- Nguyễn Trung Hiều
- Đinh Xuân Lãm
- Võ Văn Minh
- Trần Phục
- Phan Văn Quang
- Dương Xã Tắt
- Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh)
- Lâm Vĩnh-Thế (Thế Lâm)
Các Bạn Đã Mãn Phần
Hiện nay, 6 trong số 9 người đã vĩnh viễn từ giả ban bè, đó là các bạn:
- Nguyễn Thanh Hải
- Đinh Xuân Lãm
- Võ Văn Minh
- Trần Phục
- Dương Xã Tắt
- Huỳnh Hữu Thế
Xin thắp lên một nén hương để tưởng niêm các bạn đã mãn phần:
Bạn Nguyễn Thanh Hải
Hình Bạn Nguyễn Thanh Hải chụp năm 1960
Nguyễn Thanh Hải, sinh năm1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.
Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào Đại Học Sư Phạn Sài Gòn (ĐHSPSG). Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó. Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm. Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Võ Văn Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn. Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân. Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi. Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới! Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?” Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.
Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt cua Võ Văn Minh, vào ngày 6-10-1963, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.
Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân, tại Cần Thơ. Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chỉ huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia.
Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt.
Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm. Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO. Vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:
Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012
Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau. Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.
Bạn Đinh Xuân Lãm
Hình Bạn Đinh Xuân Lãm chụp khoàng thập niên 1990
Tôi và Lãm quen nhau từ năm 1953 khi thi đậu vào Trường Petrus Ký và cùng được xếp vào Lớp Đệ Thất B6 (niên khóa 1953-1954). Được nửa năm, tên lớp được đổi thành Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp này đã được giữ mãi cho hết đệ nhứt cấp: Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), và Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957). Hè 1957, Lãm và tôi đều đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp. Tưu trường niên khóa 1957-1958, hai chúng tôi cùng lên lớp đệ tam, nhưng không còn học chung lớp nữa, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi thì học Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm, tức là Ban Van Vật).
Hè 1960, Lãm và tôi cùng đậu bằng Tú Tài 2. Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa và Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960, và bế giảng ngày 30-3-1963. Ra trường, với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiên (TQLC), và được điều về làm Đại Đội Phó (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi danh là Tiểu Đoàn Trâu Điên).
Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi tại Cà Mau và đó là chiến thắng lớn nhứt trong năm 1963 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lãm đã làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi với Nhơn Nghĩa..
Sau đó, Lãm đã tham dự rất nhiều trận đánh lớn của TQLC. Câp bậc và chức vụ cuối cùng vào ngày 30-4-1975 của Lãm là Thiếu Tá, Ti\ểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.
Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi cải tạo tại Miền Bắc hơn 10 năm. Năm 1990, Lãm được đi định cự tại San Jose, Nam California, Hoa Kỳ, theo diện HO (Humanitarian Operation = Chiến Dịch Nhân Đạo), dành cho các cựu sĩ quan của QLVNCH đã bị đi học tập hơn 3 năm.
Hè 1992, nhơn dịp đám cưới con gái của Trần Phục, Lãm đã cùng với Phục và hai Thế chúng tôi có được tấm ảnh quý hiếm chụp trước nhà Phục như đã trình bày bên trên
Sau đám cưới con gái của Phục, tôi đưa vợ chồng Lãm – Lệ và đứa con trai trở về San Jose, và hôm sau thì tôi bay về Toronto. Lãm và tôi tiếp tục giữ liên lạc qua thư từ và điện thoại, và tôi vui mừng được biết gia đình Lãm đã từng bước ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, và hai đứa con trai đều học hành có kết quả rất tốt, tốt nghiệp ra trường và đều có công ăn việc làm vững vàng.
Mùa Thu năm 2007, sau khi tôi đã nghỉ hưu, vợ chồng tôi bay sang California để thăm bà con và bạn bè. Trong dịp này, vợ chồng tôi đã dành thì giờ đi San Jose thăm hai vợ chồng Lãm – Lệ. (chính trong đám cưới của vợ chồng tôi năm 1963, Lãm là rể phụ cho tôi và Lệ là dâu phụ cho vợ tôi; hai ngườ đã quen nhau từ đó, yêu nhau, và sau cùng đi đến hôn nhân và sinh được 2 đứa con trai), Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý cho cuộc gặp gỡ này:
Hình vợ chồng Lãm – Lệ và vợ chông tôi trước nhà Lãm, San Jose, Califotrnia, Hoa Kỳ – Hè 2007
Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Lãm. Ngày 21-6-2011, Lãm mất đột ngột ở tuổi 71. Đám tang Lãm đã được Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tai Hoa Kỳ tổ chức rất trọng thể, có cả Lễ Phủ Quốc Kỳ:
“Lý do rất là chính đáng: Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, chức vụ cuối cùng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 TQLC, đã trọn đời chinh chiến, luôn sát cánh với đồng đội, và được sự thương yêu của cấp dưới cũng như được cấp trên đánh giá cao. Trước khi đột ngột qua đời, trong một lần lâm bệnh, Thiếu Tá Lãm đã được chính các cấp chỉ huy đến tận nhà thăm viếng như trong tấm ảnh bên dưới đây:
Hình chụp tại nhà Lãm: người đứng bên trái là Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, cựu Tư Lệnh TQLC; người bắt tay Lãm là Đại Tá Ngô Văn Định, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC
Các quân nhân TQLC VNCH chào kính trước khi làm lễ di quan tại đám tang của Lãm
Bạn Võ Văn Minh
Hình Bạn Võ Văn Minh chụp khoảng thập niên 1960
Võ Văn Minh, sinh năm 1940, là một người trong nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi học bậc đệ nhứt cấp tại Trường Petrus Ký. Về sau, Minh còn thân tình với tôi nhiều hơn nữa vì tôi đã cưới Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Minh.
Minh là một người tính tình hiền lành, vui vẻ, và có lòng với bạn bè. Nhà Minh bao giờ cũng là nơi bọn tôi tụ họp lại để ôn bài thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là thi bán niên), dưới sự hướng dẫn làm các bài Toán của Thế vì Thế là một “câyToán” của lớp.
Sau khi thi rớt bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957 thay vì ở lại học thêm một năm để năm sau thi lại, có lẽ vì tự ái, Minh đã bỏ trường, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long. Hè năm sau, Minh thi rớt Tú Tái Ban C, và bỏ học luôn, ra đi làm. Nhờ một ngươi anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Ban F22, Cảnh Sát Đặc Biệt, thuộc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gai, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy lương bổng cho Ty Cảnh Sát Gia Định.
Minh lập gia đinh với Chị Bùi Thị Kim Hoàng (trùng tên họ với vợ Huỳnh Hữu Thế) và sinh được 3 đứa con, 1 trai và 2 gái, đặt tên là Võ Hoàng Hải, Võ Thị Ngọc Hà, và Võ Thị Ngọc Hạnh.
Cuối tháng 1-2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam ngay, nhưng vẫn không kịp. Minh đã mất vào buỏi tối ngày 3-2-2018, thọ 78 tuổi. Vợ chồng tôi chỉ cúng được cho Minh 2 cái Thất.
Bạn Trần Phục
Hình Bạn Trần Phục chụp năm 1993
Trần Phục, không rõ sinh năm nào, nhưng tôi nghĩ là có thể lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi Gia đình Phục tương đối khá giả, có một cơ sở khá lớn, buôn sỉ chén bát trong Quận 5, Chợ Lớn. Phục tính tình hiền lành và rất tốt với bạn bè.
Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, Phục thi vào Trường Cán Sự Y Tế, hệ 3 năm. Ra trường, Phục được bổ nhiệm làm Y Tá tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và Phục đã làm việc tại đây cho đến ngày 30-4-1975. Cũng chính tại đây, Phục đã gặp được người vợ tương lai của mình.
Sau khi vượt biên thành công và được Mỹ nhận, gia đình Phục đã định cư tại Anaheim, Bắc California, và Phục đã sống tại thành phố này cho đến khi mãn phần vào ngày 21-12-2018.
Bạn Dương Xã Tắt
Hình Bạn Dương Xã Tắt chụp nhăm 1963
Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Tắt lớn tuổi nhứt, mà cũng to con nhứt, và có tiền nhiều nhứt vì ba Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnh Tân An (về sau đổi tên thành Long An). Tánh Tắt rất có lòng với bạn bè, và cũng rất rộng rãi nên mỗi lần đi chơi chung cả nhóm với nhau, khi góp tiền, ai không có đủ thì Tắt đều ứng ra cho, hoàn toàn không nề hà gì cả.
Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt cấp, cuối niên khóa 1956-1957, Tắt thi và đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ CấpTốc, chỉ học một năm thôi. Sau khi tốt nghiệp, Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An. Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh. Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:
Hình là Tắt tại tiệc cưới của tôi: Tắt người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)
Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).
Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức. Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi. Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp. Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt. Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ. Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi.
Bạn Huỳnh Hữu Thế
Hình Bạn Huỳnh Hữu Thế chụp năm 1993
Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Huỳnh Hữu Thế [1] là người giỏi môn Toán nhứt Mỗi khi cần ôn bài để chuẩn bị thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) hay thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì bọn tôi đều tụ tập tại nhà Võ Văn Minh và Thế đứng ra hướng dẫn anh em ôn tập Toán.
Hè 1957, sau khi dậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như cả nhóm, Thế đã tao ra một kỳ tích cho Trường Petrus Ký là Thế đã đi thi và đậu luôn cả bằng Tú Tài 1, Ban B (ban Toán),,tức là Thễ đã nhảy lớp, mà nhảy cả 2 lớp, từ Đệ Tứ lên thẳng Đệ Nhị.
Vì vậy, khi tưu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên lớp đệ tam, thì Thế đã học lớp đệ nhứt rồi, nhưng Thế phải chuyển qua học Trường Chu Văn An vì Trường Petrus Ký lúc đó vẫn còn áp dụng chính sách cấm học sinh nhảy lớp.
Hè 1959, Thế đậu bằng Tú Tài 2, cũng Ban Toán, và sau đó cũng đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán. Vì vậy, đầu năm học 1959-1960, trong khi bọn tôi lên lớp đệ nhứt, chuẩn bị để đi thi bằng Tú Tài 2 vào cuối năm, thì Thế đã là một sinh viên của ĐHSPSG rồi.
Nhưng cũng bắt đầu từ năm này, Thế đã phải dương đầu với rất nhiều khó khăn. Thứ nhứt, Thế bị bệnh đau đầu rất nặng, hậu quả của việc dùng quá nhiều thuốc chống ngủ trong lúc hoc nhảy lớp đó. Thứ hai, vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đai Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và đã bỏ Thế, và mang 2 đứa con gái nhỏ đi theo người nhân viên đó về Thụy Sĩ luôn. Kết quả là Thế bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng. Chương trình học của ĐHPSG là 3 năm nhưng Thế phải học đến 6 năm vì năm nào cũng bị rớt và phải ở lại lớp. Khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1965, Thế đã đậu Thủ Khoa và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Nhưng chỉ dạy được một niên khóa (1965-1966) thì Thế bỏ trường, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Nhưng nhờ vậy, qua 6 tuần lễ huấn nhục, ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn của gia đình, Thế đã vượt qua được khủng hoảng tinh thần đó.
Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu. Thế dạy học ở đó được 1 năm thì được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt. Tại đây Thế đã may mắn gặp được chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là luật sư tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, sinh được 1 đứa con trai đặt tên là Phong. Phong giống cha nên cũng học rất giỏi, vế sau đậu PhD và đi sang Phi Châu giúp các nước nghèo.
Sau ngày 30-4-1975, Thế phải đi cải tạo mấy năm. Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, ngay trong chuuyến đi đầu tiên, hai cha con Thế đã đi thoát, được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, thuộc tiểu bang Connecticut. Được tin vui này, tôi và bà xã cùng với đứa con trai nhỏ là Trung đã sang thăm hai cha con Thế ngay và chúng tôi đã có được tấm hình chụp chung sau đây tại khuôn viên của Trường Đai Học MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại thành phố Boston:
Tử trái qua: một người bạn của Thế, Trung, con nhỏ của vợ chống tôi, bà xã tôi và tôi, Phong, con trai của Thế, và Thế.
Sau đó, chính Chị Hoàng, không chờ Thế bảo lãnh, cũng đã đi vượt biên và, rất may mắn, Chị cũng đã thành công, được Mỹ nhận và đoàn tụ được với hai cha con Thế.
Năm 1992, Trần Phục gởi thiệp mời dự đám cưới của đứa con gái lớn, tôi điện thoại cho Thế và được biết Thế cũng đã nhận được thiệp mời rồi. Hai Thế chúng tôi cùng quyết định bay xuống Anaheim, Nam California, nơi vơ chồng Phục đang sống, để dự đám cưới. Cùng lúc tôi cũng được tin Đinh Xuân Lãm đã qua đến Mỹ theo diện HO, và đã định cư tại San Jose, Bắc California. HO là chữ viết tắt cho Humanitarian Operation, chương trình của Chính phủ Mỹ nhằm đưa người sang định cư tại Mỹ dành riêng cho các cưu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cải tạo trên 3 năm.
Tôi mua vé máy bay và bay xuống San Jose. Tại đây tôi mướn một chiếc xe hơi nhỏ, đến nhà Lãm, và chở vợ chồng Lãm với đứa con nhỏ là Tùng đi xuống Anaheim. Chuyến đi mất gần 6 giờ, và suốt đoạn đường đi dài khoảng 600 km đó, tôi và Lãm nói chuyên liên tục vì có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi bị chia cách nhau mười mấy năm trời. Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt tại đó rồi. Bốn người bọn tôi, bên mâm trà do vợ Phục dọn ra, nói chuyện đến gần sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi ngưng câu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu vào lúc 11 giờ.
Sau khi ăn sáng xong và trước khi bên nhà trai đến rước dâu, bọn tôi đã ra trước nhà Phục chụp một tấm ảnh kỷ niệm như sau:
Từ trái qua: Thế Lâm, Phục, Thế Huỳnh, và Lãm chụp trước nhà Phục – Hè 1992
Hè năm sau, hai vợ chồng Thế với hai vợ chồng Phục cùng đi du lịch sang Canada, và đã đến thăm hai vợ chồng tôi và chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung với nhau như sau:
Phục và vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng tôi tại Mississauga – Hè 1993, hình do vợ Phục chụp
Mấy năm sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc, khi thì điện thoại, khi thì điện thư. Thế mất ngày 20-10-2006 vì bị đột quỵ khi chạy bộ buổi sáng trên bãi biển ở gần nhà. Vợ Thế quá đau buồn nên không thông báo cho bạn bè ai cả. Một hôm Phục gọi phone qua thăm mới biết Thế đã mất và báo cho tôi.
Các Bạn Còn Tại Thế
Hiện nay, ở năm 2026 này, chỉ có 3 bạn còn tại thế: 1) Nguyễn Trung Hiếu; 2) Phan Văn Quang, và 3) Lâm Vĩnh-Thế, tác giả của bài viết này,.
Bạn Nguyễn Trung Hiếu
Hình Bạn Nguyễn Trung Hiếu chụp năm 1993
Tôi không rõ Hiếu sinh năm nào nhưng chắc là lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi. Hiếu ra đời rất sớm. Lúc bọn tôi còn đang học mấy năm đầu của bậc Đệ Nhứt Câp thì Hiếu đã đi lam rồi. Hiếu bán vé tạiTrường Đua Ngựa Phú Tho vào các ngày cuối tuần, và vì vây đã được các bạn đât cho cái biệt danh rất dễ thương là “Hiếu ngựa đạp.”. Hiếu cũng lập gia đình rất sớm nhưng không được may mắn. Hiếu bị vợ bỏ và hiện đang sống với đứa con gái tại thành phố San Diego, tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Bạn Phan Văn Quang
Hình Bạn Phan Văn Quang chụp năm 1993
Tôi không rõ bạn Phan Văn Quang sinh năm nào nhưng chắc có thể lớn hơn tôi độ vài tuổi. môt hôm, trong giờ hoc Pháp Văn với Thầy Phạm Văn Sửu, Thầy dạy bài thơ ngụ ngôn Le Renard et le Bouc của Văn hào Phap Jean de La Fontaine (1621-1695) rất sống động, bằng cách dàn dựng thành một vở kịch ngắn và rất vui ngay trong lớp và bạn Quang được Thày Sửu giao cho đóng vai Le Bouc. Và, vì vật, từ đo về sau, cho đến tận ngày hôm nay, bọn tôi đều gọi bạn Quang là là Quang Bouc. Sau khi cùng đậu bằng Tú Tài 2 với tôi năm 1960, Quang có học ĐaiHọc Khoa Học SàiGòn một thời gian, nhưng sau đó, Quang đã bỏ học, tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạ, Khóa 19, tức là Khóa Nguyễn Trãi, khai giảng ngày 23-11-1962 và mãn khoá ngày 28-11-1964.
Ra trường, Quang được điều về Trung Đòan Bộ Binh 52 Biệt Lập tại Phước Tuy và bị thương rất nặng, tưởng đã không qua khỏi; chính bạn Huỳnh Hữu Thế lúc đó đang là sĩ quan cán bộ của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu đã nhân được lệnh chuản bị đi gát xác cho Quang rồi. Như một phép lạ, Quang đã qua khỏi được và bình phục nhưng sau đó bị xếp vào loại 2, tức là không tác chiến, và được điều về phục vụ tại Biệt Khu Thủ Đô cho đến ngày 30-4-1975.
Sau khi đi cải tạo về, Quang được đi Mỹ theo diện HO và đã định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington
Lâm Vĩnh-Thế (Tác già bài viết này)
Hình Lâm Vĩnh-Thế chụp năm 2010
Vĩnh-Thế sinh n8m 1941, tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Khóa 3 (1963), Ban Sử Địa. và bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) năm 1973 tại Trường Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), thành phố Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ, hiên đang sống tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada.
Thay Lời Kết:
Những năm theo học tại Trường Petrus Ký, từ Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954) cho đến Lớp Đệ Nhứt A1 (niên khóa 1959-1960) đã đi qua từ lâu rồi, lâu lắm rồi, hơn nửa thế kỷ rồi, chính xác là đã 66 năm rồi (1960-2026), nhưng đối với tôi như mới hôm qua. Tôi vẫn còn nhớ thật rõ những khuôn mặt thân thương của các Thầy Cô dạy lớp và của các bạn học cùng lớp, cũng như những sự việc vui buồn đã xảy ra trong khoảng thời gian 7 năm (1953-1960) mà bản thân tôi đã được sống thật hạnh phúc như là một “dân Petrus Ký” chính hiệu con nai.