NHỚ MÃI MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH

 Phan Văn Thạnh

mot chuyen hai hanh 01Xa lắm rồi …chiều 15/7/1984 của thế kỷ trước, sau mấy ngày chờ thời tiết êm, chiếc tàu sắt Cửu Long 102 cũ kỹ rời bến Ninh Kiều mang theo đoàn giáo viên Saigon – Cần Thơ ra thăm Côn Đảo. Lần đầu trong đời tận mục sở thị con sông Hậu, tôi choáng ngợp vì mắt quen nhìn dòng Kinh Thanh Đa (P27, Q.Bình Thạnh), như cái mương nước sau hè. Sông Hậu dài ngút mắt trải rộng đôi bờ xa diệu vợi – chả trách qua đây ai có tâm sự “Tình anh bán chiếu” (*), trách “con sáo sang sông”, xuống xề vọng cổ chắc chắn 100% buồn đứt ruột ! Tiếng ghe máy lạch xạch, tiếng người nói xé rời trong gió chiều thổi bạt. Tôi cùng thầy Lê Trùng Khánh (dạy Marie Curie) đứng trên boong ngắm trời mây nước, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ mông lung. Tàu đi trong hoàng hôn, phía hữu ngạn là huyện Kế Sách, thôn làng khuất sau rặng xanh, khói lam chiều từ chái bếp nhà ai thoát nhẹ lên không trung như dệt vào lòng người muôn nỗi nhớ nhà. Tàu lướt đi, bờ bãi dần lui, phố xá thị thành, những người thân yêu, câm bặt trong tôi – Bốn phương mây nước một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà” (Kiều).

Sông Me Kong khi vào Việt Nam,địa phận Tây Nam Bộ, tách thành hai nhánh :

mot chuyen hai hanh 021-Sông Hậu: chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), TpCần Thơ, Châu Thành (Hậu giang), Tp Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) – đổ ra biển bằng ba cửa: Định An, Ba Thắc (Bassac), Tranh Đề – riêng cửa Ba Thắc bị bồi lấp khoảng thập niên 1970.

2-Sông Tiền: lòng sông rộng với nhiều cù lao giữa dòng,chảy qua Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa:

-Sông Mỹ Tho, chảy qua Tp Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) và phía nam Gò Công,ra biển bằng cửa Đại và cửa Tiểu.

-Sông Hàm Luông, chảy qua phía nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông

-Sông Cổ Chiên, làm thành ranh giới tỉnh Bến Tre – Trà Vinh (tên cũVĩnh Bình), đổ ra biển bằng cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.

-Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh Bến Tre (tên cũ Kiến Hòa), ra cửa Ba Lai. Hiện nay cửa Ba Lai đã bị hệ thống cống đập ngăn lại – nằm trong dự án ngọt hóa vùng ven biển tỉnh Bến Tre.

Chín sông của Me Kong như 9 con rồng uốn lượn, lúc đầu được gọi tên là sông Cửu Long. Qua thời gian do bồi lấp, ngăn đập, Ba Lai và Ba Thắc biến mất – hiện chỉ còn 7 cửa đổ ra biển.

o0o

Trước mắt tôi, cửa biển Định An mở ra một vùng trời nước mênh mang, gió ơi là gió, gió tha hồ nô đùa rượt đuổi băng qua Cù Lao Dung cuốn bạt càn khôn.

Tàu rẽ sóng ra khơi, bầu trời cong hình cánh cung như cái chảo khổng lồ úp xuống. Mặt nước như tấm ngực khổng lồ phập phồng cuộn lên những múi thịt săn chắc. Trước thiên nhiên, con người nhỏ bé, mong manh yếu ớt, đơn độc vô cùng .

mot chuyen hai hanh 03Bức tranh biển hoành tráng rực rỡ đầy sức sống nhưng cũng đầy thử thách gieo vào lòng người sự thích thú pha lẫn nỗi kinh sợ. Gặp hôm thời tiết đẹp sóng lặng, tàu lướt êm, xa xa xuất hiện từng bầy cá chuồn bay bốc lên khỏi mặt nước đáp xuống thật ngoạn mục. Biển đẹp mà buồn thấu tâm can dân Việt khi nhớ đến hàng trăm ngàn thuyền nhân liều thân trên đường tìm tự do, vùi sâu đáy mộ đại dương .

Đại dương bao la, là một xã hội với biết bao thành viên tranh nhau tồn tại – kể sao cho hết một rừng tên các loài cá: voi, mập, xà, đuối, đao, cưa, thu, mực, chẻm, hường van, rô bể, bè, vồ, út, ngát, mòi, nục, đỏ dạ, chan chat,thù đù, chình, lạt, mòi, gà, cơm, chìa vôi, mú, nóc, nùi, mặt quỉ, đầu rồng…

Qui luật sinh tồn – mạnh được yếu thua – cá lớn nuốt cá bé, cuộc sống ở đây cạnh tranh không kém phần ác liệt nhưng chẳng thấy loài thủy sản, giáp xác nào băn khoăn triết luận rối rắm “sinh-lão-bệnh-tử” nên dường như mọi sự tự thân hóa thành “hư vô”!

Giữa trùng khơi xanh biếc thoáng thấy bóng dáng lão Xăngchiagô bước ra từ tác phẩm Ông già và biển cả (**) tay chèo thuyền, lão nghe thấy tiếng những con cá chuồn vút lên khỏi mặt nước làm rung động không khí, tiếng những đôi cánh rắn chắc của chúng rít lên khi chúng lao mình vào đêm tối. Lão rất yêu giống cá chuồn ấy, và có thể nói đó là những người bạn duy nhất của lão trên biển cả”. Rất khâm phục nghị lực của Xăngchiagô chiến đấu với lũ cá mập đến kiệt sức nhưng không hề bỏ cuộc đầu hàng – Lão nghĩ bụng: tuyệt vọng là một điều ngu ngốc. Chẳng những thế, mình còn cho đó là một tội lỗi” – “Lão lẩm bẩm: Thế nhưng đã làm người thì không bao giờ được bó tay chịu thua. Con người có thể bị tiêu diệt nhưng không thể bị khuất phục”.

Hình tượng Xăngchiagô gần với câu nói của Ô-xtơ-rốp-xki: Chính trong sự đương đầu thường xuyên và kiên quyết với những khó khăn mà người ta rèn luyện lòng dũng cảm để vượt tất cả mọi trở ngại”.

Tàu xé nước lao tới, cụm núi Côn Đảo mờ mờ xa dần hiện rõ.

Sách sử Việt Nam trước thế kỷ XX thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn. Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi Côn Lôn có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai, là “Pulau Kundur” (tạm dịch là” hòn Bí”). Người châu Âu phiên âm thành Poulo Condor (trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp). Riêng tên trong tiếng Khmer là “Koh Tralach”

mot chuyen hai hanh 04Côn Đảo nằm cách thành phố Vũng Tàu 97 hải lý và cách cửa sông Hậu 45 hải lý, có cùng một kinh độ với thành phố Hồ Chí Minh (106°36′ Đông) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′ Bắc). Tổng diện tích đất nổi là 76 km² – gồm 16 hòn đảo (Côn Sơn, Hòn Bà, Bảy Cạnh, Bông Lan, Cau, Tài Lớn,Tài Nhỏ, Trác Lớn,Trác Nhỏ, Tre Lớn, Tre Nhỏ, Trọc, Trứng, Vung, Trứng Lớn, Trứng Nhỏ) trong đó 14 hòn quây cụm gần nhau; riêng hai hòn Trứng Lớn và Trứng Nhỏ nằm tách biệt về phía tây, mới được chính quyền Việt Nam nhập vào huyện Côn Đảo từ năm 1995.

Thị trấn Côn Đảo là nơi tập trung toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt chiều dài 8 – 10 km,chiều rộng 2 – 3 km và cao độ trung bình khoảng 3m so với mặt nước biển. Một mặt trông ra vịnh Đông Nam, ba mặt còn lại vây quanh là núi chạy từ mũi Chim Ưng (Bec d’aigle) hay còn gọi mũi Cá mập đến mũi Cỏ Ống – chia ra 3 đoạn cách bởi 2 đèo – đèo Ông Đụng ở phía Tây Nam khu trung tâm Côn Đảo và đèo Đất Dốc ở phía Tây Bắc. Ngọn cao nhất là núi Thánh Giá 577m , từ đây nhìn thẳng trước mặt là hòn Bảy Cạnh – bên phải là rặng núi cao 500m hình răng cưa lên xuống uốn khúc như con rồng khổng lồ đang quì hướng ra biển – hai nhánh kia nằm về phía trái chạy song song nhau đến bờ biển Tây Bắc của đảo.Tàu vào vũng Đông Nam phải theo luồng lạch chạy dài từ mũi Cỏ Ống qua hòn Bảy Cạnh đến mũi Chim Ưng.

Theo tư liệu lịch sử,Pháp đánh chiếm đảo ngày 28/11/1861 và năm sau (1862) xây dựng ở đây hệ thống nhà tù: chuồng bò, chuồng cọp, xà lim cấm cố, hầm đá, hầm xay lúa. Rất nhiều chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã bị giam cầm đày ải hy sinh.

Đến thăm nhà bảo tàng Côn Đảo,du khách gặp lại bài thơ  của cụ Phan Chu Trinh (1872 -1926) – Bài thơ toát lên khí phách anh hùng dân tộc, hun đúc chí khí quật cường bao thế hệ trẻ Việt Nam!

Đập đá ở Côn Lôn 

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bền dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể sự con con.
(Làm ở Côn Lôn năm Đinh Mùi – 1907).

mot chuyen hai hanh 05

Đêm cuối chia tay Côn Đảo, tan buổi văn nghệ giao lưu “cây nhà lá vườn”, theo con đường men bãi biển dưới tán lá bàng xào xạc, trở về nhà khách, tôi nghe trong bóng tối đặc quánh dường như có tiếng thì thầm của nhiều vong linh tụ tập, lởn vởn đâu đây. Gió thổi rần rần, gió bốc lên cuồng nộ, kéo nhau đâm sầm vào vách núi xoáy gào thảm thiết. Ngoài kia cây hải đăng Bảy Cạnh quét loang loáng,tiếng sóng ầm ào bất tận. Đất dưới chân tôi như động cựa, máu ứa bầm đen của một thời nô lệ.

PHAN VĂN THẠNH

(Saigon,tháng 4/2019)

Tư liệu tham khảo:

– nguồn  Internet và “Côn Lôn Quần Đảo” của GS Trần Văn Quế – Thanh Hương Tùng Thư XB (Saigon,1961).

– (*) Bản vọng cổ  của soạn giả Viễn Châu viết năm 1959 

– (**)Tác phẩm “Ông già và Biển cả”(The old man and the sea)của Ernest Hemingway(1898 -1961) – NXB Văn Học 1986 – Huy Phương dịch và giới thiệu.