Nhân ngày giỗ QUỐC TỔ, bàn về ý nghĩa tục thờ cúng Tổ tiên

Giáo sư Khiếu Đức Long

A/ Nguyên ủy.-

            1) Xác định thời điểm –

            Cần xác định ngay là dân tộc Việt nam đã thờ cúng Tổ tiên trước khi người Tàu sang đô hộ. Truyện ‘Bánh chưng bánh giầy’ trong Lĩnh Nam Chích Quái cho biết vua Hùng thứ III sau khi phá xong giặc Ân, muốn chọn người truyền ngôi, bèn hội 22 người con trai lại, hẹn ai đem đuợc thức ăn ngon để cuối năm dâng cúng Tổ tiên thì sẽ được truyền ngôi. Tiết Liêu (âm nôm là ‘tết sêu’), người con thứ  9, nhờ được thần báo mộng chỉ cho cách làm bánh chưng tượng đất, bánh giầy tượng trời, vừa ngon, vừa có ý nghĩa nhất, nên được truyền ngôi. Từ đó dân ta làm bánh chưng, bánh giầy vào dịp tết để cúng Tổ tiên. Bánh tét (từ đọc chệch của tết) của đồng bào miền Trung và miền Nam cũng là một hình thức khác của bánh chưng. Cho đến thời Pháp thuộc, ở nhiều nơi, dân ta còn dùng bánh chưng bánh giầy trong lễ vật tế thần thành hoàng, và cùng với trầu cau trong lễ vật cưới hỏi.

            Sau này đạo Nho được độc tôn, các nhà nho Việt Nam chịu ảnh hưởng Tống Nho trọng lễ nghi hình thức mới qui định những nghi thức rườm rà trong việc tang ma cúng giỗ, hiểu câu nệ câu “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” trong sách Trung Dung chính có nghĩa là lúc cha mẹ còn sống ta thương yêu kính trọng thế nào thì sau khi các Người mất, lúc thờ cúng ta vẫn phải giữ  lòng thương nhớ kính trọng như thế.

            2) Xuất phát điểm của tục thờ cúng Tổ tiên –

            a/ Lí do tình cảm:  Đầu tiên người ta thương nhớ người thân chết đi, quàn thi hài lâu trong  nhà (như tục của sắc tộc Mường xưa kia mà ta nói là họ thờ ma xó), đem đồ ăn thức uống lên cúng vái, coi như còn sống. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chôn thì trước đó người ta đã mặc cho người chết bộ quần áo đẹp nhất, đeo đồ trang sức và chôn theo những món đồ thiết dụng của người ấy lúc sống, nhất là những nhà giàu có, thế lực. Những ngôi mộ cổ do các nhà khảo cổ đào lên cho thấy điều này.

            b/ Lí do tín ngưỡng:  Trong khi làm như thế đối với người chết, người ta nẩy sinh niềm tin là con người chết đi thì chỉ thể xác tan rã, phần hồn vẫn tồn tại như câu trong truyện Kiều “thác là thể phách, còn là tinh anh”, và đi về một cõi khác với dương gian này, tạm gọi là cõi âm. Do thương nhớ người thân còn sống ở cõi trần, vong hồn vẫn có thể liên lạc một chiều với người sống như phò hộ cho tai qua nạn khỏi, làm ăn thịnh vượng … Từ đó phát sinh tục thờ cúng Tổ tiên, làm giỗ (kỉ niệm ngày chết).

B) Ý nghĩa tục thờ cúng Tổ tiên.-

            1/ Ý nghĩa về tình cảm luân lí –

            Thờ cúng Tổ tiên trước hết là đẻ tỏ lòng THƯƠNG NHỚ và BIẾT ƠN tiền nhân, như nhớ ơn cha mẹ đã có công khó nhọc sinh thành dưỡng dục ta nên người, gây dựng nên cơ nghiệp để lại cho ta: di sản vật chất là của cải, nhưng quan trọng hơn là di sản tinh thần, đối với cả một dân tộc là nền văn hoá với những thuần phong mĩ tục, đối với một cá nhân là nền giáo dục gia đình mà cá nhân đó được hưởng để có nhân cách như ngày nay. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn” là vậy.

            Vả lại ta có thương nhớ và biết ơn ông bà, cha mẹ ta thì sau này con cháu ta mới noi gương: “sóng trước đổ đâu, sóng sau vỗ đó”. Chúng tôi đã thấy một số gia đình sang đây sớm, chủ gia đình là con thứ, nghĩ rằng không có bổn phận thờ cúng cha mẹ; những đứa con trong khoảng 4, 5 tuổi trở lên bắt đầu nhận thức, đến tuổi trưởng thành 18-20, trong khoảng 15 năm, chúng không thấy cha mẹ thờ cúng giỗ chạp gì cả. Thế là chúng không biết ông bà tổ tiên là ai. Đến khi người con trưởng sang sau, thiết lập bàn thờ tổ tiên, tổ chức lễ giỗ tết, chúng cho việc đứng trước bàn thờ cúng vái là kì cục, đầy vẻ mê tín dị đoan. Tôi không dám chắc là sau khi cha mẹ chúng qua đời, chúng có cúng giỗ nữa không.

            2/ Ý nghĩa về tâm lí –

            Con người không những sống trong hiện tại mà còn sống với quá khứ và tương lai nữa. Nói cho cùng thì hiện tại rất ngắn, còn quá khứ mới thật là dài (đối với người già) và tương lai mới thật là xa rộng (đối với người trẻ). Thờ cúng Tổ tiên chính là quay về sống với chiều sâu của quá khứ. Để làm gì ? – Để rút ra những bài học quí giá áp dụng cho hiện tại và tương lai bằng cách noi theo những tấm gương sáng của tiền nhân, tránh những sai lầm, khuyết điểm của các Người mà thường lúc sinh thời chính các Người chỉ ra cho chúng ta thấy để tránh, nuôi dưỡng lòng tự hào, vì có lòng tự hào ta mới cố gắng sống sao cho xứng đáng với quá khứ vẻ vang, mới giữ bền gốc, mới phát huy cái di sản của tiền nhân để truyền lại cho thế hệ sau. Chính nhờ có lòng tự hào về lịch sử oai hùng, về nguồn gốc Rồng Tiên mà dân tộc Việt nam đã liên tục chiến đấu chống bao cuộc xâm lăng, bao mưu đồ đồng hoá, nô lệ hoá của ngoại bang để tồn tại cho tới ngày nay. Nếu không ta đã như một số dân tộc trên thế giới, không còn giữ được đặc tính văn hoá riêng của mình mà bị đồng hoá với kẻ đô hộ. Một hậu quả tai hại khác nữa là người không giữ được gốc của mình cũng dễ chao đảo, dễ bắt chước kiểu a-dua, xu thời, nhắm mắt chạy theo những trào lưu bồng bột, có khi sai lầm.

            3) Ý nghĩa về xã hội –

            a/ Thờ cúng Tổ tiên biểu hiện tinh thần liên đới gia tộc.

            Dân tộc Việt nam xưa lấy gia đình ─ chứ không phải lấy cá nhân ─ làm đơn vị căn bản cho xã hội. Một đơn vị gia đình đầy đủ thường gồm ba thế hệ: ông bà (tượng trưng cho quá khứ), cha mẹ (tượng trưng cho hiện tại) và đàn con, cháu nhỏ (tượng trưng cho tương lai). Mọi phần tử trong gia đình ràng buộc với nhau chặt chẽ bằng liên hệ huyết thống và tình thương yêu tự nhiên. Từ đó gia đình Việt nam có sự gắn bó keo sơn mà gia đình ở các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân không thể có được.

            Ở Bắc Mĩ ngày nay, những cuộc điều tra khoa học đã đi đến kết luận rằng chính gia đình với nền giáo dục chu đáo, với tinh thần cố kết thành một khối đã là nguyên nhân chủ yếu của những thành công ngoạn mục mà học sinh sinh viên Việt nam đã đạt được ở học đường.

            Thờ cúng Tổ tiên cũng là dịp nhắc nhở đến bổn phận và quyền lợi hỗ tương, sự liên đới trách nhiệm và danh dự giữa các thành viên của gia đình trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai: ông bà, cha mẹ thì tự nhủ phải nêu gương sáng cho thế hệ sau noi theo, đừng làm điều gì xấu khiến con cháu sau này phải hổ lây; con cháu thì tự nhủ phải sống xứng đáng với danh tiếng của ông cha, đừng làm điều gì phi nghĩa bôi nhọ thanh danh tiền nhân. Cuộc sống có sự liên đới như vậy không những lành mạnh, hữu ích mà còn phong phú, đẹp đẽ vì nó trải dài trên con đường thời gian liên tục từ quá khứ đi tới hiện tại và vươn tới tương lai, con người cảm thấy mình đúng vững trước mọi biến cố bất ngờ có thể xẩy ra.

            b/ Thờ cúng Tổ tiên biểu hiện tinh thần liên đới quốc gia.

            Nếu mỗi gia đình có tổ tiên riêng để thờ cúng thì cả dân tộc cũng có một vị Tổ chung để tưởng niệm. Dân tộc Việt nam quan niệm rằng quốc gia là hình thức mở rộng nhất của gia đình, mọi người dân trong nước là cùng nòi giống, cùng có liên hệ huyết thống (từ bọc trăm trứng của bố Rồng và mẹ Tiên mà ra nên gọi là đồng bào). Mọi thành viên trong gia đình nhỏ có sự liên đới về bổn phận, quyền lợi, trách nhiệm và danh dự thế nào thì những phần tử của gia đình lớn là quốc gia Lạc Việt cũng có sự liên đới như thế.

            Tổ chức lễ giỗ Quốc Tổ Hùng vương là dịp nhắc nhở cho mọi con dân nhớ đến công ơn dựng nước đầy gian lao của Tổ tiên, nhắc nhở bổn phận chúng ta là phải đoàn kết để bảo vệ di sản của tiền nhân: di sản vật chất là dải non sông gấm vóc bên bờ Thái bình dương, di sản tinh thần là nền văn hoá 4000 năm đẹp đẽ cần phát huy dù là người trong nước hay người ở hải ngoại.

C) Những trở ngại tâm lí trong việc duy trì tục thờ cúng Tổ tiên.-

            Phân tích ý nghĩa như trên, ta thấy TỤC duy trì thờ cúng Tổ tiên là rất nên, rất cần nữa; nhưng đối với một số người thuộc giới trẻ ở hải ngoại hiện nay vẫn có những trở ngại tâm lí cần vượt qua bằng cách giải thích rõ vấn đề. Từ đầu chúng tôi dùng từ TỤC tức thói quen đã lâu đời trở thành phong tục tập quán, như vậy vấn đề là :

            1) Thờ cúng Tổ tiên mà có người gọi là “đạo thờ ông bà” có phải là một tôn giáo không?

            Những người chỉ thờ cúng Tổ tiên mà không theo một tôn giáo nào thường nhận mình là theo “đạo ông bà”. Danh từ ĐẠO trong tiếng Việt thường dùng thay cho ‘giáo’ trong ‘tôn giáo’ như ta nói Phật giáo hay đạo Phật, Thiên Chúa giáo hay đạo Thiên Chúa, Hồi giáo hay đạo Hồi v.v… Nhưng đạo ông bà không phải là một tôn giáo với ý nghĩa là do một vị giáo chủ sáng lập được tín đồ tôn thờ, có một tổ chức gọi là giáo hội với hàng giáo phẩm được tuyển chọn và đào tạo từ thấp lên cao, có một hệ thống giáo lí gồm vũ trụ quan, nhân sinh quan, luân lí quan v.v… được ghi trong kinh sách, có một số nghi thức hành lễ nhất định.

            Còn thờ cúng Tổ tiên chỉ là một tập tục có tính cách tín ngưỡng nhiều hay ít tuỳ theo thời đại và hoàn cảnh xã hội, nhưng chủ yếu xuất phát từ liên hệ huyết thống và tình cảm gia đình mà ra. Chính vì nhận thức rằng thờ cúng Tổ tiên chỉ là một tập tục cổ truyền nên Giáo hội Thiên Chúa trong Công đồng Vatican II họp tại Rôma năm 1964 đã cho phép tín đồ Á châu trong đó có Việt Nam được thờ cúng Tổ tiên, chấm dứt sự hiểu lầm kéo dài mấy trăm năm.

            2) Tại sao ngày xưa dân ta chú trọng tới ngày giỗ hơn ngày sinh?

            Ngày nay chịu ảnh hưởng phương Tây, chúng ta tổ chức mừng sinh nhật hàng năm : đó là dịp hội họp người thân trong gia đình và có thể cả bạn bè nữa để vui chơi, để tặng quà nhau. Còn thời xưa chỉ có bậc vua chúa mới tổ chức lễ mừng sinh nhật (lễ Vạn thọ : cầu cho vua và hoàng gia vạn thọ vô cương), nhưng chỉ tổ chức lễ lớn khi trong nước được thái bình thịnh trị, nhân dân được an cư lạc nghiệp, nhất là vào những dịp đánh dấu một chặng đường như tứ tuần đại khánh, ngũ tuần đại khánh v.v… trong thời gian đó có chính tích hay, nhà vua muốn chia sẻ niềm vui với thần dân bằng cách đại xá hay ân giảm cho tội nhân, miễn hay giảm thuế.

            Còn làm giỗ hay kỉ niệm ngày chết là một tập tục quan trọng đối với tất cả mọi người: ai ai cũng phải thờ cúng Tổ tiên, giỗ tết cha mẹ mình. Ngoài những ý nghĩa đã nêu trên, việc kỉ niệm ngày chết được coi là quan trọng vì ngày chết là ngày kết thúc cuộc đời một con người: “cái quan nhi hậu luận anh hùng”. Chỉ sau ngày này người ta mới có thể lượng định được phần đóng góp của người đã khuất cho gia đình, cho quốc gia, xã hội. Chỉ sau khi tiễn một người đến nơi an nghỉ cuối cùng, người ta mới có thể luận công định tội  đầy đủ, chính xác, mới đánh giá được sự nghiệp người ấy để lại cho đời để bày tỏ thái độ thích đáng đối với người ấy. X

            Nếu là một vị anh hùng có công chống giặc ngoại xâm giữ vững cõi bờ, hay đánh đuổi kẻ ngoại nhân đô hộ, giành lại độc lập cho Tổ quốc, hoặc vì nước tuẫn tiết hi sinh thì cả nước phải tôn thờ để tỏ lòng nhớ ơn. Nếu là một ông quan chiêu mộ lưu dân khai khẩn đất hoang lập thành ấp thành làng thì sau khi chết ông quan ấy sẽ được dân làng thờ làm thần thành hoàng, xuân thu hai kì cúng tế. Còn là người bình thường thì được con cháu thờ cúng giỗ tết. Có điều đáng ghi nhận là một người hôm trước còn sống bình thường, được mọi người nhìn bằng con mắt bình thường, hôm sau chết đã có bài vị trên bàn thờ khói hương nghi ngút, được mọi người nhìn bằng con mắt kính cẩn hơn.  Người Việt nam quả đã coi trọng cái phần “đời sống sau khi chết”: “sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm”: coi trọng việc thờ cúng người chết và ĐƯỢC thờ cúng sau khi chết, kể cả việc coi sóc phần mộ. Một nhân sinh quan đặc biệt có thể được rút ra từ đây:

con người có phần tinh anh có thể thăng hoa được nhiều hay ít tuỳ theo những việc làm trong đời giúp ích được nhiều hay ít cho đồng loại.

            Mối liên hệ giữa con người với con người mới thật là quan trọng, cả trong lúc sống lẫn sau khi chết; sự đánh giá của kẻ đồng loại mới đáng kể, sự phê phán của người đời sau càng quan trọng hơn vì vô tư, chính xác hơn người đồng thời. Nhiều người lúc sống rất sợ dư luận, nhưng khi dư luận sai lầm, bất công quá, người ta có thể bất chấp dư luận (của người đồng thời), nhưng vẫn mong mỏi, hi vọng người đời sau hiểu mình, đánh giá lại đúng hơn, công bằng hơn.

            Cuộc đời hiện tại chỉ có giá trị đầy đủ khi nó liên hệ với quá khứ (rút ra những bài học) và đặc biệt với hậu lai (nêu lên những tấm gương). Như vậy bảo rằng quan trọng hoá việc thờ cúng người chết là chỉ quay về sống với quá khứ một cách vô ích, e rằng phán đoán nông cạn.

            3) Thờ cúng Tổ tiên có là một tập tục mê tín dị đoan không?

            Câu hỏi này không được đặt ra để trả lời cho những con người duy vật, không tin gì khác ngoài thế giới vật chất. Bởi vì tất cả mọi nghi thức hành lễ từ phức tạp như trong tôn giáo đến đơn giản như đặt vòng hoa tưởng niệm trước mộ người chết hoặc đài liệt sĩ đều bao hàm ý nghĩa biểu lộ niềm tin có thế giới tâm linh, siêu hình.

            Vấn đề đặt ra ở đây là trong khi làm lễ trước bàn thờ Tổ tiên, ta cần có thái độ và tâm trạng như thế nào cho đúng và có tác dụng hữu ích. Dù niềm tin nào và cách biểu lộ niềm tin ấy như thế nào cũng do con người nghĩ ra, đặt ra để đáp ứng nhu cầu tâm linh của chính mình. Nhu cầu ấy có thật, nhiều khi trở nên khao khát mãnh liệt, khẩn thiết. Đó là nguyên do xuất hiện và cũng là lí do tồn tại của tôn giáo.

            Người xưa trước khi cúng tế đã phải thành tâm chuẩn bị chu đáo ngay con người của mình : “Trai minh thịnh phục dĩ thừa tế tự” (Trung Dung) : giữ mình chay tịnh, ăn mặc chỉnh tề để tế lễ. Khi đứng trước bàn thờ, phải cung kính giữ niềm tin : “Tế tư kính, tang tư ai” (Luận ngữ, Tử Trương) : khi hành lễ phải giữ lòng cung kính, khi cư tang phải giữ lòng bi ai. Nói cách khác, ta phải mở cánh cửa tâm hồn ta hướng về thế giới siêu nhiên thì mới tiếp nhận được những năng lực vô hình : “Tế như tại, tế thần như thần tại” (Luận Ngữ, Bát dật) : khi lễ bái Tổ tiên, ta coi như các Người hiện hữu trước ta, tế lễ thần thánh cũng vậy. Lúc đó ta sẽ thấy: “Dương dương hồ như tại kì thượng, như tại kì tả hữu” (Trung Dung) : năng lực vô hình như ở trên đầu trên cổ ta, như ở bên trái bên phải ta.

            Đó cũng là trạng thái “tâm động quỉ thần tri”, nói đơn giản là sự cộng thông cảm ứng giữa ngoại cảnh và nội tâm ta. Thật ra ta với vũ trụ là cùng một bản thể (thiên địa vạn vật nhất thể) nên có ảnh hưởng hỗ tương (thiên nhân tương dữ). Sự cộng thông cảm ứng này có trường hợp đem lại cho con người sức mạnh thể chất và tinh thần vượt khỏi giới hạn bình thường để đạt được kết quả cũng phi thường. Tỉ dụ như trường hợp quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy của tướng Lí Thường Kiệt phải chống giữ phòng tuyến cuối cùng bên bờ nam sông Như Nguyệt (tức sông Cầu ngày nay) để ngăn chặn quân Tống xâm lăng tràn chiếm Thăng Long. Đã có lúc quân ta núng thế, nhưng khi dấy lên được niềm tin rằng có thần linh phò trợ qua bài thơ đọc lên trong đền thờ hai anh em thần Trương Hống, Trương Hát:

            “Nam quốc sơn hà Nam đế cư,  Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư;

            Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,  Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

thì quân ta lên tinh thần chiến đấu, đánh lui được quân Tống, giữ vững được giang san.

            Điều kiện phải có là tấm lòng CHÍ THÀNH mà chắc nhiều người trong chúng ta đây đã từng có kinh nghiệm : đó là lúc thuyền ta lênh đênh giữa biển khơi vào lúc máy hư, lương thực hết, nước ngọt cạn, trên bầu trời mây đen u ám… Trong tình trạng tuyệt vọng ấy, chúng ta cầu Chúa, chúng ta niệm Phật, chúng ta khấn vái ông bà tổ tiên phò hộ để được cứu vớt… và… chợt đàng xa phía chân trời, xuất hiện một con tàu lớn!

D) KẾT LUẬN.-

            Tập tục thờ cúng Tổ tiên như vậy là một tập tục đầy ý nghĩa, một đặc trưng văn hoá đẹp đẽ của Á Đông nói chung, của Việt Nam nói riêng. Tập tục này đáng được duy trì, song trong thời đại công nghiệp, cách thức thờ cúng Tổ tiên của chúng ta cũng phải thích nghi với hoàn cảnh sống đã thay đổi. Tỉ như ta không thể như thời xưa mỗi dịp cúng giỗ là bày cỗ bàn linh đình mời cả làng cả xóm.

            Ở hải ngoại, ta có thể tổ chức giỗ vào ngày cuối tuần gần nhất (vì ít khi có sự trùng hợp), coi đó là dịp hội họp các thành viên trong gia đình. Trong lễ nghi đơn giản, nhưng thành kính , trang nghiêm, chúng ta bầy tỏ lòng nhớ ơn tiền nhân, nhắc nhở đàn con, cháu nhỏ những bài học luân lí sơ đẳng như máu chẩy ruột mềm, lá lành đùm lá rách v.v…  Chúng ta cũng có thể nhân dịp này kể lại những đức tính, những việc làm đáng nêu guơng, những bài học kinh nghiệm về sự thành công cũng như thất bại của người quá cố.

            Điều cốt yếu là ta phải thấy đuợc mối liên hệ với quá khứ là đáng trân trọng giữ gìn, bởi vì không có quá khứ thì làm gí có hiện tại và tương lai ! Ngày nay niềm tin của chúng ta mang hình thức mới của thời đại ta sống thì điều mà ta gọi là HỒN THIÊNG SÔNG NÚI, là ANH LINH CÁC VỊ ANH HÙNG LIỆT NỮ của dân tộc chính là DÒNG SINH MỆNH LỊCH SỬ cuồn cuộn chảy từ quá khứ  qua hiện tại tới tương lai, nếu các thế hệ hiện tại và tương lai biết trân trọng tiếp nhận thì nó sẽ trở nên sống động, giúp ta có đủ sức mạnh vượt qua ghềnh thác để tới đại dương bao la.

            Nhưng muốn được Hồn Thiêng sông núi tiếp sức thì tất cả chúng ta phải thắp nén hương thành kính trong lòng, hướng về tiền nhân , tri ân các Người đã đổ bao mồ hôi, xương máu và nước mắt để cho ta có được chiều sâu hun hút của lịch sử Việt Nam, dã vắt bao tim óc để cho ta có được chiều cao vòi vọi của văn hoá Việt nam, khiến cho ta có được niềm tự hào có sở cứ, có được niềm  tin tưởng vững chắc như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện tin tưởng “Sẽ có một ngày” chúng ta về:

            “Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông,  Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng!

            Tiếng sáo mục đồng êm ả,  Tình quê tha thiết ngân nga

            Thay tiếng tiến quân ca  Và quốc tế ca   Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!”

Diễn văn đọc tại lễ giỗ QUỐC TỔ năm Bính Tí (1996)

do Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại thành phố Montréal Canada tổ chức

(chủ tịch: Nguyễn Quang Bình)

Khiếu Đức Long