Nhân Kỷ Niệm Sinh Nhựt Thứ 172 của Học Giả Lừng Danh Thế Giới

          HỘI THẢO VỀ SỰ NGHIỆP QUAN TRỌNG CỦA CỤ PETRUS KÝ VÀ CỤ PHAN THANH GIẢN VÀO LÚC GIAO THỜI ĐÔNG –TÂY TẠI VIỆT NAM

* Ngọc Hân

Nhân kỷ niệm sinh nhựt lần thứ 172 của nhà ngữ học Việt nam lừng danh thế giới, một cuộc hội thảo vừa được tổ chức tại Sydney ngày Chủ Nhựt 6 tháng 12 năm 2009, nhằm đánh giá trung thực và công bằng những đóng góp quí báu và sự nghiệp nổi bật của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký và Cụ Đại Học Sĩ Phan Thanh Giản trong giai đoạn giao thời Đông / Tây tại Việt nam dưới thời Triều Nguyễn.  

hoi thao van hoa 01
Hội thảo văn hóa về Học giả Petrus Trương Vĩnh Ký tại Sydney (Photo: X.P.Dương)

Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại Cái Mơn, Tỉnh Vĩnh Long mà ngày nay thuộc Tỉnh Bến Tre và mãn phần tháng 9 năm 1898. Bến Tre cũng là sinh quán của Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867).

Theo Tiến sĩ Trần Thạnh, một trong các diễn giả tại buổi hội thảo, Đại Học Sĩ Phan Thanh Giản và Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký đã ra đời cách nhau 41 năm trên cùng mảnh đất Vĩnh Long – Bến Tre và cả hai vị đều là tài năng lỗi lạc của Đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Cụ Phan Thanh Giản được hấp thụ nền học vấn cổ truyền Khổng Mạnh, trong khi Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy cũng là người uyên bác chữ Hán và chữ Nôm bên cạnh nhiều ngôn ngữ khác, đã trải qua nhiều năm ở các Trường Dòng vì Cụ theo Thiên Chúa Giáo và thông hiểu 27 ngôn ngữ trên thế giới. Cụ Petrus Ký là người Việt nam đầu tiên được liệt vào hàng 18 nhà Bác Học Danh Gia của thế giới vào năm 1874.

Cụ Petrus Ký đã từng làm việc với Đại Thần Phan Thanh Giản, trong tư cách thông ngôn, khi Cụ tháp tùng Phái Đoàn Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp trong nỗ lực chuộc lại 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ. Cụ Phan Thanh Giản đã vì nước quyên sinh, khi quân Pháp chiếm đóng 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ.

Trong bối cảnh giao thời Đông-Tây tại Việt nam hậu bán thế kỷ thứ 19, Cụ Petrus Ký là người tiên phong mở đường cho sự phát triển của chữ Quốc Ngữ để thay thế chữ Hán và chữ Nôm, cổ xúy nền học thuật mới dung hòa trào lưu tiến bộ phương Tây với truyền thống Đông Á. Cụ Petrus Ký phải được tôn vinh là vị tổ sư của ngành báo chí Viêt nam, vì Cụ làm quản đốc của Tờ Gia Định Báo từ năm 1868. Bắt đầu xuất bản tại Sài Gòn vào năm1865, Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên sử dụng chữ quốc ngữ tại Việt nam.

Trong khi Cụ Phan Thanh Giản là tấm gương sáng ngời cho tinh thần trung quân ái quốc, cho tính thanh liêm và can trường của một sĩ phu Việt nam, thì Cụ Petrus Ký đã để lại cho hậu thế một gia tài phong phú về mặt văn hóa và ngôn ngữ.

Vì vậy mà hai cơ sở giáo dục lớn của Việt nam đã được vinh dự mang tên Trường Petrus Trương Vĩnh Ký tại Sài Gòn và Trường Phanh Thanh Giản tại Cần Thơ.

Thế nhưng, một điều éo le của thời cuộc Viêt nam trong đầu thập niên 1960 là Viện Sử Học tại Miền Bắc do Ông Trần Huy Liệu chủ trì, đã kết án Cụ Phan Thanh Giản và Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký là người “phản quốc” mà hậu quả là sau tháng 4 năm 1975, hai Trường Trung Học quan trọng nầy bị mất tên cùng chung số phận với Trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn.

Ông Trần Huy Liệu đã từng giữ chức vụ Bộ Trưởng Tuyên Truyền và đã tạo dựng huyền thoại nhân vật “Lê Văn Tám” để học sinh miền Bắc học tập như là một “anh hùng” đã đốt một trạm xăng tại Sài Gòn hồi năm 1945.

hoi thao van hoa 02
Cử tọa theo dõi hội thảo văn hóa về Học giả Petrus Trương Vĩnh Ký và Đại học sĩ Phan Thanh Giản (Photo: X.P.Dương)

Tại buổi hội thảo, Ông Trần Ngọc Thạch – một cựu học sinh Petrus Ký và du sinh tại Pháp về ngành hàng hải trong thập niên 1950 – sau khi lược qua tiểu sử và sự nghiệp của nhà bác học họ Trương, đã kết luận như sau:

“Nói đến Petrus Trương Vĩnh Ký thì ai cũng biết rằng tiên sinh là một nhà bác học đa năng. Nhưng chúng ta sẽ thương kính Petrus Ký nhiều hơn khi chúng ta nhìn vào cái bối cảnh lịch sử vô cùng khó khăn cho một tài năng phát triển.

“Sống trong nghịch cảnh đau thương, nhà bác học Petrus Ký vì thương dân thương nước phải nhận làm thông dịch viên, vì lẽ Triều đình Huế thì không biết tiếng Pháp và người Pháp xâm lăng thì không biết tiếng Việt.

“Trong nhiệm vụ làm gạch nối giữa Triều đình Huế và chánh phủ Pháp, hiền nhân Petrus Ký là một thông dịch viên lỗi lạc.

“Từ một thông dịch viên lỗi lạc, Petrus Ký đã trở thành một nhà ngoại giao lỗi lạc, không những chỉ trong bàn hội nghị, mà trong những dịp tiếp xúc để trở thành bạn hữu của những nhân vật ưu tú người Pháp như văn hào Victor Hugo, học giả Littré,  sử gia Ernest Renan, và nhứt là Ông Paul Bert, một chánh khách lỗi lạc, sau đó được bổ nhiệm chức vụ Toàn Quyền tại Việt nam.
”Với tinh thần nhần nhân bản, ông Paul Bert đã lắng nghe lời khuyên của thiên tài ngoại giao Petrus Ký nên đã chủ trương đối với Triều đình Huế, Pháp chỉ giữ vai trò bảo hộ và chỉ cai trị qua Hoàng Đế An Nam và các giới sĩ phu.”

Diễn giả kế tiếp là Tiến sĩ Huỳnh Long Vân, một cụu học sinh của Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ.

Sau khi nhắc lại quyết định năm1963 của Ông Trần Huy Liệu về trường hợp Cụ Phan Thanh Giản và Cụ Trương Vĩnh Ký, diễn giả đề cập đến hai diễn tiến mới vào năm1994 và năm 2003 với nhan đề “Thế Kỷ 21 nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản” tại Sài Gòn trong vấn đề duyệt xét và đánh giá sự nghiệp của vị đại học sĩ nầy:

Thế kỷ 21 nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản được tổ chức ở Sở Bảo Tàng Thành phố Sài Gòn với sự tham dự đông đảo của hơn một trăm nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà chánh trị, nhân sĩ đến từ Paris, Hà Nội, Sài Gòn, từ các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Bà Rịa-Vũng Tàu, Huế, Quảng Nam để một lần nữa làm sáng tỏ vấn đề cụ Phan Thanh Giản.

“Tổng kết buổi tọa đàm, Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử Học khẳng định:

“Cụ Phan Thanh Giản là một  nhà yêu nước, thương dân, trọng dân muốn bảo vệ quyền lợi dân tộc bằng cách gắn quyền lợi đó với ý thức thương dân, tinh thần “ dựng nước” trong điều kiện mới và với lòng mong muốn canh tân đất nước. Công lao xây dựng đất nước và đức liêm chính của cụ Phan, trong điều kiện lịch sử lúc đó thật đáng ca ngợi, phải đánh giá là xuất sắc. Những hoạt động dựng nước của cụ trước khi cụ qua đời gắn liền với những di chúc của Cụ cho con cháu và cho hậu thế sau khi qua đời đã biểu hiện rõ: Cụ là một trong những nhà yêu nước đầu tiên có xu hướng canh tân xứ sở. Sự quyên sinh của Cụ trong điều kiện và hoàn cảnh đó là đáng được ca ngợi, bởi nó biểu lộ rõ phẩm chất của một người suốt đời tận tụy với dân với nước, nhận trách nhiệm không bảo vệ được lãnh thổ, không ham danh ham lợi, không tham sống sợ chết, đã tự nguyện quyên sinh.

“Kết quả của hai cuộc hội thảo năm1994 và 2003 đánh dấu một chặn đường dài trong nhận thức và đánh giá về cụ Phan với những biến thiên của lịch sử đất nước và chân dung Phan học-sĩ trở lại trong cái nhìn kính trọng của dân tộc đặc biệt đối với người dân miền Nam.”

hoi thao van hoa 03
Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu nhiệm kỳ 2009-2011 (Photo: X.P.Dương)

Cũng trong bối cảnh giao thời Đông-Tây, Ông Liêng Khắc Văn, một cựu giáo sư tại Trường Petrus Ký, đề cập đến học giả Phạm Quỳnh với đề tài “Một Nhà Nho Mặc Âu Phục”.

Khi nhắc đến học giả Phạm Quỳnh, người ta thường nhớ đến câu nói bất hủ của ông: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, và tiếng ta còn thì nước ta còn”.

Vậy chính học giả Petrus Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên đã chuyển tả / chuyển âm Truyện Kiều của Nguyễn Du từ chữ Nôm sang chữ Quốc Ngữ – do đó đã giúp tác phẩm văn học tuyệt vời nầy được phổ cập trong dân gian.

Tiến sĩ Trần Thạnh, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu, trong bài thuyết trình nhan đề “Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bằng chữ Nôm, nghĩ về Petrus Ký với chữ Quốc Ngữ”, đã kết luận:

“Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác của văn học Việt Nam đã được dịch ra 31 thứ tiếng trên hoàn cầu, và trở thành di sản văn hóa thế giới. Các nhà nghiên cứu đã tốn nhiều công sức để truy tầm bản Truyện Kiều gần với nguyên tác nhất. Có rất nhiều dị bản, và một trong những nguyên nhân chính là vì Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm –  là thứ chữ không được chuẩn hóa. Petrus Ký là người đầu tiên đã chuyển âm Truyện Kiều sang chữ quốc ngữ. Ông cũng truyền bá chữ quốc ngữ bằng cách dịch các tác phẩm Hán văn và Pháp văn sang quốc ngữ.

“Đứng trước sự khó khăn mà các nhà nghiên cứu hiện nay đang gặp phải khi khảo cứu các bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm, chúng ta càng thấy công lao của Petrus Ký trong việc phát triển quốc ngữ. Đây là thứ chữ mà ban đầu nhiều người cho là chỉ có thể dùng trong hội thoại thông thường, nhưng ngày nay chúng ta có thể dùng nó trong tất cả các lãnh vực nghiên cứu và giáo dục ở mọi cấp.”

Diễn giả sau cùng là Ls Lưu Tường Quang trình bày về “Quyền Lực Mềm và các sinh hoạt văn hóa” để nhấn mạnh đến chánh sách “chinh phục” Đông Nam Á, kể cả Việt nam, của Trung Quốc. Trong buổi giao thời Đông-Tây của thế kỷ thứ 19 tại Việt nam, vấn đề tranh luận là người hợp tác với Pháp để canh tân đất nước là có công hay có tội, thì vào đầu thế kỷ thứ 21, nhóm người  “hợp tác” với Trung Quốc thì sẽ có tội hay có công? Ngoài thế mạnh quân sự, kinh tế và đầu tư, Bắc Kinh đang có kế hoạch “tiếp thị mới” sử dụng nhà hiền triết Khổng Tử như là võ khí cho kế hoạch ‘phát triển hoà bình’của Trung Quốc (‘Repackaging Confucius’ – từ ngữ của nữ Tiến sĩ Xiaolin Guo, Stockholm, Thụy Điển) mà việc thành lập những Viện Khổng Học (Confucius Institutes) là một thí dụ điển hình.

Buổi hội thảo nầy do Hội Ái Hữu Petrus Ký Úc Châu tổ chức và nhân dịp nầy Hội đã phát hành Đặc San mà phần lớn nội dung tập trung vào nhân vật lịch sử quan trọng nầy của thế kỷ thứ 19.

Buổi hội thảo và phát hành Đặc San Hội Ái Hữu Petrus Ký do Ông Trần Cao Mạnh và Ngọc Hân phối hợp giới thiệu chương trình. Nữ Nghệ Sĩ Đăng Lan cùng nhạc sĩ Đặng Hữu Hiếu phụ trách phần văn nghệ với các ca sĩ Minh Trang, Kim Thân, David Ngô và những giọng hát thân hữu như Tô Châu, Hồng Châu và Thanh Bình.

Ngọc Hân (Sydney, ngày 7-12-2009)