Tin ông Dương Văn Ngộ, người viết thư thuê cuối cùng ở bưu điện Sài-Gòn qua đời, được loan báo khá nhiều trên mạng toàn cầu. Dù sống xa Sài-Gòn đã lâu và đang có chuyện đi xa nhà, nhưng bản tin này cũng hiện ra trên điện thoại của tôi trong dòng tin trên Facebook.

Bưu điện Sài-Gòn là nơi tôi lui tới khá nhiều trong thời thơ ấu nên tin tức về một người đã làm việc trọn đời ở đó gây cho tôi một thoáng mong manh, luyến nhớ. Bản tin tóm tắt một đời ông Ngộ gắn bó trong ngành bưu điện, khởi đầu ở bưu điện Thị-Nghè từ năm 1946 khi vừa tròn 16 tuổi. Hai năm sau, ông được chuyển về bưu điện Sài-Gòn và làm việc ở đó cho đến năm 1990 thì đến tuổi hưu trí. Sau khi về hưu và có lẽ vì luyến lưu cái không gian quen thuộc đó nên ông xin phép được ngồi trên dãy bàn dài trong sảnh chính để viết thư thuê cũng như dịch thuật giấy tờ cho khách hàng có nhu cầu. Đến năm 2016, ông được công nhận là người viết thư thuê bền bỉ nhất với biết bao lá thư bằng ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp. Năm 2021, quá tuổi 90 và gần như là mù lòa, ông mới thôi việc mặc dù vẫn còn thiết tha nơi chốn cũ. Đến ngày một tháng tám năm 2023 vừa qua thì ông qua đời.

Một mẩu tin đăng hình ông Ngộ, đeo khẩu trang và ngồi giữa bưu điện. Tấm hình được chụp từ phía trong sảnh hướng ra ngoài. Sau lưng ông, xa thêm chút nữa là ba cánh cửa lớn, cửa chính dẫn vào bưu điện. Trong một thoáng giây, tôi như ngược dòng thời gian gần nửa thế kỷ trước để trở thành cậu bé mười hai tuổi đứng nơi khung cửa đó và ngó ra ngoài. Ngày đó, phía trước bưu điện là quãng trường Alexander Rhodes, ngay trước nhà thờ Đức Bà. Ra khỏi bưu điện, rẽ bên trái là góc đường Nguyễn Du. Quẹo vào Nguyễn Du là trường Lasan Taberd ở số nhà 53. Đi thêm chút nữa là góc Nguyễn Du và Hai Bà Trưng. Nhìn xéo qua bên kia đường là tòa nhà số 86 Hai Bà Trưng, tức là Tổng Nha Điền Địa, nơi ba tôi làm việc trước kia. Mỗi ngày, sau khi tan học tôi qua đó chờ ba tan sở rồi hai ba con cùng về nhà.

Thời đó, mỗi tuần học sinh học sáu ngày từ thứ hai đến thứ bảy. Vào những buổi chiều thứ bảy, ba me tôi cùng chị và hai em gái đến đón tôi. Như đã hẹn trước, tôi chạy ra tìm ba me và mấy chị em trên chiếc xe nhỏ đậu phía bên phải trước nhà thờ. Đó là những ngày tháng vô cùng hạnh phúc. Hôm 8 tháng tư năm 1975, phi công Nguyễn Thành Trung dội bom vào Dinh Độc Lập, không xa phía sau nhà thờ Đức Bà. Sài-Gòn bị thiết quân luật và tất cả trường học ở miền Nam Việt-Nam lập tức bị bãi khóa. Rồi ngày 30 tháng tư ập đến và bữa sáng 16 tháng sáu thì ba tôi lên đường vào “trại cải tạo”. Một tháng sau đó, trường Lasan Taberd cùng những trường bị bãi khóa sớm kêu gọi học sinh trở lại học bù cho mấy tháng bị đóng cửa. Và như vậy, tôi trở lại trường cũ sau ba tháng trong một hoàn cảnh khác biệt và tâm hồn tôi cũng có ít nhiều thay đổi. Tôi lang thang quanh khu vực này như muốn ngược dòng thời gian để mong tìm lại những ngày tháng đã qua và gia đình yêu thương cũ.

Một khoảng đời và những kỷ niệm vui buồn ẩn chứa sau một góc hình, ba cánh cửa ngập nắng ngoài kia bỗng trắng xóa, mênh mông. Giữa hình, ông Ngộ đang chăm chú nhìn vào một cuốn tạp chí in màu. Có lẽ vì là nhân viên kỳ cựu của bưu điện nên ông được ưu đãi và cho ngồi ngay trong sảnh. Vào năm 1975, một số người viết thư thuê thường trải chiếu ngồi trên bãi cỏ trước bưu điện, gần bên mấy người bán tem sưu tầm.

Mùa hè năm 1975 cũng là lúc tôi bắt đầu chơi tem. Gia đình tôi, từ Huế, có một bộ sưu tập tem do cậu tôi bắt đầu từ thập niên 1940 với tem Đông-Dương. Khi rời Huế đi học, cậu trao lại cho một người dì. Dì cho chị tôi và năm đó chị tôi giao lại cho tôi. Tôi tiếp tục sưu tầm và tập trung vào tem miền Nam như để tìm lại một trời đã mất, một thời đã qua.

Vì hay quanh quẩn bên mấy chiếu bán tem nên tôi có dịp quan sát khá nhiều người viết thư thuê. Vào khoảng năm 1975, những người này vào nghề tối thiểu 15 năm trước ông Ngộ. Ngày đó, thư từ là phương tiện liên lạc duy nhất. Thư viết tay mất khoảng một, hai tuần mới đến nơi, thư gửi qua bưu điện phải được dán tem. Những con tem đó, cũng là những con tem tôi sưu tầm, đã trở thành một dấu hiệu đẹp trên những phong bì chuyển tải biết bao tình cảm.

Có những cô gái trẻ cười khúc khích khi người viết thư thuê đọc lại lá thư họ nhờ viết cho người tình. Đôi khi là cha mẹ già gửi thư cho con ở xa. Cũng có khi là người vợ nhờ viết thư cho chồng trong “trại cải tạo”. Những nụ cười và những dòng nước mắt thường song hành với những lá thư này. Khách hàng không biết bày tỏ cảm xúc lai láng không đầu đuôi, khúc chiết của mình, nhưng may mắn thay, nhờ chữ nghĩa của người viết thuê mà họ thấy tấm lòng của mình được diễn đạt một cách trọn vẹn hơn trên trang giấy mỏng.

Thời đó, tôi cũng từng ước mơ được làm người viết thư thuê. Ước mơ này đến từ một cuốn truyện tựa đề là “Theo chân thần tượng”. Hình như đây là môt cuốn sách trong tủ sách Tuổi Hoa, loại Hoa Đỏ. Truyện kể về cuộc hành trình của một nhóm bạn ở Tây-Ban-Nha từ thuở ấu thơ đến khi vào đời. Nhân vật chính là một thanh niên khỏe mạnh, theo đuổi ước mơ thành một người đấu bò chuyên nghiệp. Cùng theo và ủng hộ anh đạt được giấc mơ đó là một nhóm bạn. Tôi cảm thấy gần gũi với một trong những người bạn đó, dù là một người tật nguyền nhưng thích viết văn và anh thường viết thư tình giùm những người con gái thôn quê để gửi đến các bạn trai ở xa. Truyện diễn tả cảm giác của các cô gái này khi lời văn của anh chắp cánh cho tình yêu của họ nhiệm mầu hơn và sâu đậm hơn.

Thầm nghĩ rằng nếu được viết thư thuê, tôi sẽ viết miễn phí cho vợ con người đi “cải tạo”, vì tôi muốn giúp họ nói hết ra bao niềm thương, nỗi nhớ và gửi đến người chồng hay cha ở chốn xa không biết được ngày về. Trước thềm bưu điện và nhìn qua bên kia đường, nơi mà ngày nào ba me đón tôi vào chiều thứ bảy, tôi cảm nhận niềm thương nhớ đó rất rõ.

Bài viết về ông Ngộ kể rằng khi thôi việc vào năm 2021, ông vẫn tiếc nuối công việc cũ, nhớ bưu điện, nhớ khách hàng dù người thuê viết ngày càng thưa thớt. Điều làm ông tiếc nuối nhất là sau thế hệ của ông không còn ai làm nghề viết thư thuê nữa.

Nghề viết thư thuê đã thất truyền vì không còn ai cần viết thư. Trong 75 năm dâu biển đó, trong khi ông Ngộ tha thiết với ngành bưu điện thì khoa học kỹ thuật đã thay đổi toàn diện thế giới truyền thông. Người ta không cần viết thư vì hầu như ai cũng mang theo một điện thoại cầm tay và có thể gọi nhau bất cứ nơi nào, lúc nào. Thay vì gọi, người ta nhắn tin cho nhau. Những dòng tin ngắn gọn, không chủ từ, không túc từ, thiếu văn phạm và sai chính tả, nhưng tạm đủ cho thông tin được chuyển tải nhanh gọn. Rồi người ta dùng dấu hiệu thay vì chữ nghĩa. Tin nhắn được gửi vượt không gian và nhận trong nháy mắt.

Tôi chưa hề được gặp ông Ngộ. Khi ông bắt đầu viết thư thuê thì tôi đã rời xa Sài-Gòn từ lâu. Lần chót, tôi về Sài-Gòn và đi ngang bưu điện là vào tháng 7 năm 2023, vài tuần trước khi ông qua đời. Như bao lần, mỗi khi nhìn lề đường bên phải trước nhà thờ Đức Bà, tôi lại nhớ đến ba me, chị em tôi.

Ba tôi không còn nữa. Ba được thả ra khỏi “trại cải tạo” vào năm 1981 sau khi tôi cùng chị và cô em gái vượt biên. Đến năm 1992, tôi mới gặp lại được ba me và đứa em út tại Mỹ. Sau đó vài năm, gia đình tôi mất ba tôi dần dần theo một  căn bệnh tàn nhẫn. Dòng Lasan đã bị quốc hữu hóa, và trường Lasan Taberd trở thành Trung học Trần Đại Nghĩa. Số 86 Hai Bà Trưng biến mất trong danh bạ địa chỉ và nơi đó một khách sạn sang trọng cao tầng được thay vào. Cậu bé mười hai tuổi ngày xưa đã thành một người đàn ông 60. Những niềm đau buồn cũ đã trôi xuôi vào dĩ vãng. Đó là cuộc đời.

Tuy nhiên, hôm nay khi nghe tin một người xa lạ là ông Dương Văn Ngộ qua đời, tôi không tránh được cảm giác ngậm ngùi và thương tiếc. Tôi thì thầm nguyện cầu cho hương hồn ông, một người trọn đời sống với bưu điện và thương tiếc vô vàn một thời đã qua. Một thời mà những hạn chế của truyền thông làm người ta phải viết thư tay. Những lá thư nhiều ngày mới đến được tay người nhận, với bao háo hức đợi chờ và niềm vui khôn xiết khi thấy được nét chữ thân quen của thân nhân hay bè bạn. Đọc xong, thư được xếp lại cất trong túi áo, đọc tới, đọc lui và mỉm cười một mình mỗi khi đọc lại. Thư chứa đựng những tình cảm mà không thể nào diễn đạt bằng chữ nghĩa – nắn nót chân thành, vội vã nóng nảy, hay nhạt nhòa vì những giọt nước mắt.  

Đôi khi thư chứa nắng, chứa gió, chứa thời gian, chứa cả không gian: giấy nhạt màu vì nắng, giấy cong góc vì gió, nhiều màu mực trong từng đoạn ngắn mỗi ngày, hay nguệch ngoạc vì được viết trên lưng ba lô. Người đọc cảm thấy được cái nắng gay gắt ở Huế, cái mằn mặn của gió biển Nha-Trang, hay nghe được tiếng bom đạn từ chiến trường xa vọng về đô thị.

Có những lá thư được gửi từ những ngày đầu của một cuộc tình. Những lá thư đó được lưu giữ đâu đó và chìm vào quên lãng. Rồi có một ngày, người ta nhìn thấy hai vợ chồng tóc tai đã phai phôi, tay run run tình cờ tìm lại được những tờ thư cũ. Họ đọc và bùi ngùi nhìn nhau nhớ lại cái thuở ban đầu lưu luyến đó. Cái thời trước khi cơm áo, gạo tiền và những nhọc nhằn của cuộc sống đã khiến cho tâm tư họ khô cằn, tăm tối. Có những lá thư được viết từ những ngày cùng khổ, làm người ta hiểu được thế nào là sự may mắn. Có những lá thư được gửi từ những ngày cuối trong cuộc đời để vài chục năm sau khi đọc lại, người con có cảm giác như được ôm lại mẹ cha của mình.  

Những lá thư đó là những cánh cửa vượt thời gian để tìm lại những người thân yêu và tìm lại chính mình. Những cánh cửa mà kỹ thuật ngày nay đã đóng lại mãi mãi.

Tháng 8. 2023

Bùi Hữu Anh Huy