Tới chưn cầu Rạch Miễu,  tôi ngồi phía sau “nương bóng quần hồng”, Tuyết Vân “tham gia giao thông” chở tôi trên chiếc xe tay ga không số. Trời còn thật sớm, nhìn “cái đổng” không có cửa sổ, hai mái chèo, tôi đọc: chưa tới bảy giờ ở Cai Lậy.

Xa xa,  mặt trời lên ửng hồng, pha lẫn màu vàng bắt mắt của sầu riêng “Ri 6” và màu đỏ của bông dâm bụt nở rộ trước hàng rào. Tiền Giang nước chảy lửng lờ, dưới sông cá lội, trên bờ Tây đui, tui đây.

Phù sa dầy đặc, đục ngầu,  bao đời vun trồng cây trái, nuôi sống chim cá cùng dân tứ phương trong cuộc Nam Tiến Tầm Thực vĩ đại của tiền nhân.

Tuyết Vân rồ máy leo lên cầu. Một cơn gió thổi thật nhẹ chợt đến, mang theo mùi dầu thơm thoang thoảng từ phía trước, quyện vào cùng hương thơm của bông sứ ngọc lan, dành dành (lài) vị ngọt trong không khí. 

Mùa nầy là mùa nước nổi, lục bình từng mảng nhảy nhót theo gió chướng. Những bông màu tím lợt khi ẩn khi hiện trên mặt nước bồng bềnh.

Bên kia,  những con chim sẻ,  chào mào,  húp mật, cu đất vụt bay lên từ những cành cây bần, dừa nước, mận, ô rô,  cóc kèn, bình bát. Bức tranh thật đẹp trên quê hương đang dần thay da đổi thịt.

Ta về tìm lại dấu yêu
Dòng sông, bến cũ, nắng chiều buồn tênh
Con đò nhẹ lướt lênh đênh
Lục bình tím nở mông mênh đôi bờ
Em là cô gái tôi mơ
Một ngày chung bước dệt thơ tình nồng
Mơ ngày trên một dòng sông
Nguyện câu chung thủy tím bông lục bình

                                 Mây Trắng 7/8/2021

Dạ cầu xây cao, độ dốc lớn, chỉ hai làn giao thông,  không có “con lươn an toàn”, nên khá nguy hiểm cho người đi xe gắn máy, có thể mất thăng bằng khi gió chợt thổi mạnh.

Đi thẳng là Mõ Cày,  quẹo trái về Bình Đại,  Giồng Trôm. Xứ dừa Bến Tre gợi tôi nhớ nhiều bạn bè. Vài đứa đã nằm xuống trong chiến tranh   cũng có đứa ra đi sau hòa bình vì bạo bệnh.

Tất cả đều đẹp trai hay ít nhứt cũng dễ coi, thuộc diện yêu màu tím như con ểnh ương vẫn réo goị tên anh ở tuốt luốt chân trời, và  khoái nhạc Trịnh Công Sơn một thời “Diễm Xưa” làm thơ khóc “Lệ Đá”. Duyên dáng tuyệt vời với “hàm răng Đồng Khởi”, trớt qướt, bờ kè trên làm ô dù che bờ kè dưới. Nhưng  được cái là chạy xe Honda dưới mưa không sợ ướt càm ! 

Ngày xưa các cụ có câu,  xin đừng nói láy các cậu có con chi gác cu cầm chầu: hễ có duyên là gặp nhau. Trong chuyện vợ chồng cũng vậy, dù chàng ở miệt dưới, thiếp ở tận đèo Ngang, câu thơ như vầy:

Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm thủy Tương giang.

Bèn dịch ra như sau:
Chàng ở đầu đường mương
Thiếp hộ khẩu cuối đường mương
Yêu nhau mà không được “mí” gì nhau
Thôi thì  cùng uống nước đường mương.

Vì vậy hôm nay leo cầu Rạch Miễu, nhìn hàng dừa lớp lớp ngâm cẳng dưới nước lợ mà nhớ về “chán sĩ” họ Trương,  theo vận nước trôi dạt vô tuốt xứ con cà tửng đeo bao,  bắt chước Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà lo việc nước, chung vai gánh vác Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc châu.
Trương Minh Công và tôi không có duyên gặp nhau để cùng tập né cây roi mây của Bác Tư Tâm ở trường Cần Tiến – Minh Tâm, chỉ vì Bác Tư chê tôi không đủ tầm, chưa đủ lực.

Năm đó, tôi ngồi lớp nhứt Phú Thọ với Cô Hạnh buổi sáng, chiều theo lớp luyện thi đệ thất, tập tính đồng hồ cho hai động tử rượt nhau hay gặp nhau trên xa lộ Biên Hòa, trong lớp của Thầy Sáu, đường Ngọc Hân Công Chúa, số mấy thì tôi không nhớ, cũng tầm xẹt nầy xẹt lên xẹt xuống (sur) hai lần.

Trên lý thuyết, Thầy Sáu có lớp tiếp liên với hai con gà chiến mà Thầy “gò” rầt tận tình, đã bị thất bại năm trước ở Petrus Ký. Do thấy tôi tuy thuộc gà non, chưa giáp niên trọn tháng, nhưng biết đá thế ra chiêu rõ nét, nên Thầy Sáu “đặc cách” cho tôi lên lớp trên cùng hai chiến kê đàn anh.

Chỉ còn dưới hai tháng là tới ngày sĩ tử vác bút nghiên lên Tràng An so cựa,  tôi chợt thấy ngán chuyện giao thông bẻ đồng hồ tính giờ hay canh me vòi nước mở, vòi nước tắt. Tôi nghe lời bạn bè trốn học đi vô Nhị Tì Quảng Đông, đá banh ăn tiền với đám học trò trường Tàu.

Ba má tôi hay được, la rầy quá đỗi, lập tức quyết định thuyên chuyển tôi về Cần Tiến, cùng với anh tôi.

Má  đưa tôi đi gặp Bác Tư với vẻ mặt lo lắng hiện rõ. Má tôi trình bày như năn nỉ với Bác Tư. Ông im lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng nhìn tôi qua cặp mắt kiếng xệ trên sóng mũi. Rồi cuối cùng, Bác ôn tồn nói như để an ủi, chia xẻ lo âu cùng má tôi:

“Còn chưa đầy hai tháng học gì ?  Cô đưa nó về, sang năm tôi cho nó vô tiếp liên”.

Tôi hiểu ý Bác. Coi như năm nay tôi sẽ là Bùi Kiệm “trước đèn xem truyện Tây Minh”, gẫm cười né được roi đòn Bác Tư ! 

Tôi ra về trên đường Phú Lâm còn nắng chiều chạy dài, bình chân như vại, về nhà nhập bầy đá banh cùng bạn nhỏ trong xóm. Thật vô tư, dẫu ngày mai có ra sao, mà có ra sao, cũng chẳng sao. Rớt sao nào, cũng còn ngàn sao ! 

Năm 1964, tôi không có duyên ngồi cùng lớp với Trương Minh Công trong cửa Petrus, sân Vĩnh Ký. Nó thất 4, tôi thất 2. Chỉ biết mặt nhau trong sân trường, hành lang, cửa lớp. Nó cũng như tôi, sáng xách vô, trưa hay chiều đeo về, suốt 7 năm Petrus Ký từng bước chân âm thầm đi qua, chỉ thế mà thôi.
Năm 1971, chúng tôi ra trường. Sau bảy năm vui buồn chia nhau kỷ niệm với ngôi trường danh giá. Những con chim dùng hành trang Petrus Ký làm bậc thang bay cao, bay xa hơn.

Thập niên 80,  Trương Minh Công định cư tại Úc,  nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Trong hoàn cảnh tan bầy xẻ nghé, các Thầy Cô và anh em Petrus Ký tại đây đã quyết định thành lập Hội Ái Hữu Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký tại Úc châu do Thầy Hiệu Trưởng Bùi Vĩnh Lập làm Hội Trưởng.

Trang mạng của Hội do một số đồng môn đầy tâm huyết phụ trách, trong đó phải kể đến Trương Minh Công, thức nhiều hơn ngủ, là cột xương sống.

Cũng chính vì lý do đó, hôm nay để đánh dấu MỘT TRIỆU LƯỢT XEM, nhớ về chuyến thăm viếng Tiền Giang năm rồi, tôi viết đôi dòng với sự giúp đỡ vô cùng quí báu của Tuyết Vân, người con gái của miền sông nước, như một khen ngợi chân thành trước thành quả thu lượm được của người bạn mà năm xưa tôi không có duyên cùng ngồi “đón roi” trong Cần Tiến – Minh Tâm.

Lâm Thụy Phong
PK 1964-1971
Ngoại ô Paris, những ngày vào thu không quên – 28/9/2023