Một thời để nhớ
Lưu Khôn
(Nguồn: Đặc san Petrus Ký 2017 “Tình Thầy Cô Nghĩa Bạn Bè” – Hội Ái Hữu Petrus Ký Nam Bắc California)
Tôi vào học Petrus ký năm 1943. Nhờ đậu cao trong kỳ thi nhập học, tôi được chọn vào ban Cổ Điển. Bấy giờ, trường có 2 ban: can Cao Tiểu bắt đầu với lớp 1ère année, 2e année, học đến 4e année thì thi Diplôme hoặc Brevet …; ban Cổ Điển bắt đầu với lớp 6e, rồi 5e …
Riêng ban Cổ Điển lại phân ra: Cổ Điển Tây Phương (Classique Métropolitain) học Latin, Grec với giáo sư Champion; Cổ Điển Viễn Đông (Classique d’Extrême Orient) học chữ Hán với giáo sư Phạm Thiều. Tôi học lớp 6EO. Ngoài các môn Hán Văn và Việt Văn, thầy Phạm Thiều còn dạy chúng tôi môn Action Morale. Thầy thường nói đùa thầy là giáo sư “dagenan” (tên một loại thuốc ngày xưa coi là trị được bá bệnh). Cho đến nay, tôi vẫn còn giữ một kỷ niệm với thầy Phạm Thiều. Thầy là vị giáo sư đầu tiên và duy nhất đã để ý đến đôi mắt kém của tôi. Ngay trong Bulletin Mensuel tháng đầu tiên trường gởi về gia đình, thầy đã khuyên ba má tôi nên sớm lo chạy chữa mắt cho tôi.
Thuở ấy, học sinh Petrus Ký, gồm học sinh ngoại trú và học sinh nội trú, đều học và ăn ở tại trường Normale trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên hông Sở Thú. Buổi tối, ngồi étude, chúng tôi thỉnh thoảng được sinh hoạt với các anh trong đoàn SET (Section Excursion Tourisme). Trong số các anh, tôi còn nhớ có anh Trịnh Kim Ảnh, sau 75 về làm giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy. Các anh dạy chúng tôi hát những bài như Lên Đàng, Gieo Ánh Sáng, Bạch Đằng Giang, Trưng Nữ Vương, Người Xưa Đâu Tá, Hội Nghị Diên Hồng … rất vui và rất có ý nghĩa.
Cũng có đêm, nằm trằn trọc dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn xanh trong dortoir, lại nghe tiếng sư tử rống bên Sở Thú, nhất là tiếng gõ lốc cốc của chiếc xe mì bán dạo trên đường vắng, tôi bỗng thấy nhớ nhà, rồi bất giác bùi ngùi liên tưởng đến thân phận hẩm hiu của những em bé lủi thủi đi rao hàng trong đêm khuya. Lại cũng có đêm, đang ngủ ngon giấc, bỗng có tiếng còi hụ, chúng tôi hốt hoảng chạy xuống sân, bang qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhảy xuống các hầm núp lộ thiên đào theo hàng rào Sở Thú.
Trường Normale cách sở Ba Son và kho đạn không xa, nên vào những đêm có trăng, chúng tôi thấy rõ máy bay Đồng Minh vần vũ trên bầu trời và những làn đạn sáng lòe từ dưới đất bắn lên.
Người Nhật đã có mặt tại Saigon. Thỉnh thoảng có mấy ông sĩ quan đeo gươm dài vào thăm trường. Họ thường đem theo bút máy Pilot để tặng thưởng học trò giỏi. Qua năm 44-45, học sinh Petrus Ký vẫn tiếp tục học tại Normale. Riêng học sinh nội trú chúng tôi thì được chuyển về ở tại trường Gia Long. Thế là, mỗi sáng chúng tôi sắp hàng đi bộ qua học bên Normale, trưa lại, chúng tôi sắp hàng đi bộ trở về Gia Long. Đi bộ, tôi không ngại, chỉ ngại và ngượng nữa, vì để che nắng, ba tôi buộc tôi phải đội cái mũ đan bằng tre có vành thật rộng theo kiểu người Tàu. Không ngượng sao được, vì khi chúng tôi ra cổng, có biết bao nhiêu nữ sinh đang xúm xít đứng chờ vào trường.
Ở nội trú bên Gia Long cũng vui lắm. Chúng tôi ở dãy ngoài, các cô ở dãy trong, giữa 2 dãy có bức tường cao chắn ngang. Tuy nhiên, vì phòng ăn và phòng tắm đều ở dãy trong, cho nên ngày nào chúng tôi cũng có dịp qua bên ấy. Tội nghiệp, thấy bóng chúng tôi là các cô chạy nhốn nháo, quên cả sách vở và đồ thêu vất bừa bãi trong préau.
Niềm vui qua mau.
Mặc dù trường Gia Long có xây hầm trú ẩn kiên cố ở sân trước, nhưng ngày nào máy bay Đồng Minh cũng tới, càng lúc càng nhiều, cả ban ngày lẫn ban đêm. Sợ quá, học đến cuối năm 44, tôi bỏ về ở luôn dưới quê. Cho đến tháng 9 năm 47, nghĩ là tình hình đã tạm yên, tôi lò dò trở lên Saigon học tiếp. Lúc đầu, ba tôi xin cho tôi vào học nội trú trong Lycée Franco-Chinois. Vì không có được tiếng Quảng, tôi cảm thấy hết sức bơ vơ, lạc lõng. Học được một ngày, tôi vội vã dọn ra. Tôi xin trở lại Petrus Ký. Vì không còn ban Cổ Điển nữa, tôi phải khóc lóc năn nỉ ỉ ôi lắm, ông hiệu trưởng mới cho tôi vào học lớp 3e année. Ông cứ bảo tôi chỉ mới học có nửa năm lớp 5e, nên phải ngồi lại lớp 2e année.
Năm 3e année, tôi được học Việt Văn với thầy Nguyễn Văn Trương và học Pháp Văn với thầy Trương Văn Di. Cả hai thầy về sau đều được thăng chức hiệu trưởng. Thầy Trương thì lên làm hiệu trưởng Petrus Ký, còn thầy Di thì về làm hiệu trưởng tại Bình Dương, quê của thầy. Học với thầy Di, tôi nhớ mãi giờ dictée. Vào giờ này, thầy chỉ việc móc trong túi áo ra một trang sách, rồi đọc cho chúng tôi viết. Vậy mà năm lên 4e année thi Brevet, chúng tôi trúng tủ bài dictée thầy đã cho chúng tôi viết rồi. Có một lần, thầy tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy tôi kể thuộc lòng cho cả lớp từng figure de rhétorique (từ hoa trong mỹ từ pháp).
Với thầy Trương, chúng tôi học tiếng Việt theo quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh. Không hiểu sao, lúc bấy giờ, tôi rất thích đọc sách của Editions Sociales, loại sách này được bày bán công khai trên vỉa hè đường Bonard. Tôi còn dịch sang tiếng Việt quyển Principes Élémentaires de Philosophie (Các Nguyên Lý Cơ Bản Trong Triết Học). Khi đem bản thảo ra nhà xuất bản, thì người ta bảo tôi:
“Cậu còn trẻ quá, sao không chọn loại sách dành cho thiếu nhi mà dịch?”
Sau tháng 4/1975, có người bạn tiết lộ cho tôi biết khi các anh mới tập kết ra Bắc, các anh được dạy trong quyển sách này. Cũng xin nói thêm, năm 1948, học sinh Petrus Ký không còn học ở Normale nữa và được dời qua Marie Curie, góc Công Lý/Phan Thanh Giản. Vì không còn chế độ nội trú, nên ba tôi phải xin cho tôi ở đậu nhà một người bạn, người Hẹ, bán thịt heo tại chợ Phú Nhuận. Thế là mỗi ngày, tôi phải lội bộ, cũng như đã lội bộ lúc ở nội trú Gia Long, từ chợ Phú Nhuận đến trường Marie Curie.
Qua năm 4e année, chúng tôi vẫn tiếp tục học tại Marie Curie. Năm đó, thầy Nguyễn Văn Nho dạy chúng tôi môn Việt Văn. Tôi rất tâm đắc với cụm từ “serre familiale”, thầy đã dùng để diễn tả cảnh trẻ con được gia đình “kiều dưỡng”. Thầy thương tôi lắm. Có lẽ thấy tôi nghèo, đi học mặc xà lỏn, đi chân không, nên mỗi lần có lễ lộc, học sinh biếu quà cho thầy, thầy đều để hết lại cho tôi. Tội nghiệp, thầy có một người con theo kháng chiến, vậy mà mỗi khi thầy vào lớp, là ai đó đã để sẵn một xấp truyền đơn trên bàn. Có lần bực quá, thầy hét lớn:
“Hãy tìm đến nơi nào cửa còn đóng mà tông vào!”
Nghe nói trước 75 không lâu, thầy có đi Hà Nội và đã chết thê thảm ngoài ấy. Cuối năm 4e année, tôi thi đậu cả Brevet lẫn Diplôme. Thi Diplôme tôi đậu Mention Bien, có lời khen của hội đồng giám khảo lúc tuyên bố kết quả.
Năm 49-50, tôi thi vào Seconde và tiếp tục học bổng. Vào đầu năm học này, Petrus Ký chính thức trở về “nguyên quán” đường Nancy. Phần tôi cũng không còn ở ngoài Phú Nhuận nữa và đã dọn vô Chợ Lớn. Lại cũng ăn nhờ ở đậu, nhưng lần này tại một tiệm bán bánh người Tiều. Ba tôi gởi lên tôi một chiếc xe đạp cũ, và mỗi ngày tôi đạp cọc cạch đến trường. Đối với tôi, trong năm học này có mấy biến cố quan trọng như sau:
1 Vào đầu năm, tôi có tham dự một cuộc thi văn chương do Nhật Báo Ánh Sáng tổ chức và đậu hạng nhì. Người đậu đầu nghe nói là một nhà văn, hiện định cư tại Houston, Texas. Đến cuối năm, tôi thi nhảy và đậu Bac I.
2 Vào một buổi trưa, có tiếng súng nổ phát ra từ một lớp học ở tầng trệt dãy lầu nằm dọc theo con đường dành cho học sinh đi xe đạp. VM (Việt Minh) đi taxi đột nhập vào trường theo con đường này. Họ dùng súng uy hiếp vị giáo sư đang dạy lớp, giáo sư Trần Văn Hai. Họ đẩy giáo sư vào một góc bảng đen, đọc bản án tử hình, rồi hành quyết ngay một học sinh tại lớp. Tuy nhiên, vụ này không gây chấn động bằng vụ Trần Văn Ơn, cũng là một học sinh Petrus Ký. Trần Văn Ơn bị bắn chết ngay trong một cuộc biểu tình trước Dinh Gia Long. Đám tang Trần Văn Ơn thật long trọng. Thiên hạ tấp nập đi đưa tang. Đám tang xuất phát từ trường Petrus Ký. Người ta đi thành một đoàn dài, rất có trật tự và hướng về nhà xác Chợ Rẫy, nơi quàn linh cữu của Trần Văn Ơn. Có người mang theo cả banderole với nền vải trắng lỗ chỗ với những vệt “máu học sinh”. Trần Văn Ơn được an nghỉ trong một nghĩa trang nhỏ, đối diện với Sân Vận Động Cộng Hòa trong Chợ Lớn. Nghĩa trang này cách nhà xác Chợ Rẫy không xa lắm. Tôi không nhớ rõ vụ việc đã xảy ra chính xác vào năm nào, tháng nào, nhưng nếu tôi biết lầm, với tất cả sự dè dặt, ngày tử nạn của Trần Văn Ơn về sau đã trở thành ngày “truyền thống” của học sinh Petrus Ký.
Còn nhớ, bấy giờ là vào đầu năm 1964, sau vụ đảo chánh ông Ngô Đình Diệm, tôi đang ngồi thưa chuyện với anh Lý Chánh Trung, giám đốc Trung Học, trong phòng làm việc của anh, thì có tiếng chuông điện thoại reo. Anh Nguyễn Thanh Liêm, vừa từ Bình Dương được bổ về làm hiệu trưởng Petrus Ký, gọi anh Trung để hỏi ý kiến, hay đúng hơn, để xin chỉ thị của Nha, Bộ về việc học sinh Petrus Ký đang xôn xao chuẩn bị tổ chức “ngày truyền thống”.
Năm 50-51, tôi lên học lớp Sciences Expérimentales, Petrus Ký. Thời cuộc lúc bấy giờ còn lộn xộn lắm. Có một lần đi học sớm vào buổi trưa, vừa đặt chân lên hành lang của một dãy lớp, tôi chợt nhìn thấy một anh nọ, không biết từ đâu đến, xăm xăm đi về phía tôi và chìa ra một xấp truyền đơn. Tôi lắc đầu. Anh ta lặng lẽ bỏ đi. Cuối năm học, tôi thi rớt. Tôi bỏ đi dạy một trường tư trong Chợ Lớn, trường Viễn Đông. Té ra, đây là trường của Hội Cựu Học Sinh Trung Pháp. Cuối năm lại thi rớt. Tôi bèn xin vô Chasseloup để lấy cho xong Bac II. Tuy không còn học Petrus Ký nữa, nhưng tôi cũng còn nhiều dịp trở lại trường.
Năm học Cao Đẳng Sư Phạm, tôi đã qua dạy thực tập môn Hán Văn tại một lớp đệ Tứ. Sau này dạy Đại Học Sư Phạm, tôi đã nhiều lần đưa sinh viên Việt Hán của tôi qua dạy thực tập môn Việt Văn ở các lớp đệ nhất cấp. Năm 74-75, tôi có hai đứa con học tại Petrus Ký: một đứa học lớp đệ Nhất và một đứa học lớp đệ Lục. Riêng tôi, hôm nay, sống những ngày cuối đời nơi quê người, tôi rất vui mừng được cùng các bạn đồng môn, già cũng như trẻ, sinh hoạt trong Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Ký Bắc California. 73 năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi vào học Petrus Ký. Cuộc đời tuy có lắm đổi thay, nhưng câu đối ngoài cổng trường thuở nào vẫn còn in đậm nét trong tâm trí tôi,
Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâm
San Jose, tháng 10/ 2016
Lưu Khôn
