Triều Nhà Nguyên, người dân Kinh Thành Huế đã có truyền tung hai câu thơ lục bát như sau:

Một Nhà Sinh Đăng Ba Vua:
Vua Còn, Vua Mất, Vua Thua Chạy Dài !

Bài viết cố gắng ghi lại các tình tiết hấp dẫn của câu chuyện rối rắm cung đình đầy kịch tính này.

Ba Vua Này Là Ba Vị Vua Nào?

Đó là 3 vị vua Nhà Nguyễn đã có niên hiệu như sau:

● vua còn: Đồng Khánh, húy Nguyễn Phúc Ưng Thị, trị vì 1885-1889

● vua mất: Vua Kiến Phúc, húy Nguyễn Phúc Ưng Đăng, trị vì 1883-1884, chỉ ở ngôi được có 8 tháng

● vua thua chạy dài: Vua Hàm Nghi, húy Nguyễn Phúc Ưng Lịch, lên ngôi năm 1884, bôn đào từ năm 1885, mất này 14-1-1944 tại Alger, Bắc Phi.

Cả 3 vị vua này đều là con của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai.  Ông Hồng Cai;là con trai thứ 10 của Vua Thiệu Tri (trị vì 1841-1847) và cũng là em trai của Vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Đế hệ thi

Vua Minh Mang (trị vì 1820-1841) đã đặt ra bài thơ ngũ ngôn tứ,tuyệt, gọi là Đế hệ thi,[1] gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót trong tên của con cháu Ngài:

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

綿    洪    膺    寶   永

(Huân nghiệp lớn do tổ tiên gầy dựng)                 

Bảo Quý Định Long Trường

保    貴     定    隆    長

(Gắng giữ cho xứng ân sâu, phồn vinh thịnh đạt dài lâu)

Hiền Năng Kham Kế Thuật

賢    能     堪    繼    述

(Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn)

Thế Thoại Quốc Gia Xương

世    瑞     國    嘉     昌

(Đời đời nối nghiệp, nước nhà hưng vượng)

Hoàng Trưởng Tử của vua Minh Mạng, sau này lên kế vị là Vua Thiêu Trị, lúc mới sinh có húy là  Nguyễn Phúc Dung 阮福.  Sau khi bài Đế hệ thi ra đời, húy của Ngài đổi thành Nguyễn Phúc Miên Tông     綿  , như vậy rõ ràng là đã bắt đầu sử dụng chữ Miên là chữ đầu tiên của bài thơ.  Các đời vua kế tiếp, cho đến vị vua cuốn cùng của triều Nguyễn là vua Bảo Đạ (và kể cả các hoàng tử của Vua Bảo Đại) đã tiếp tục sử dung các chữ trong bài thơ như sau:

● Vua Tự Đức (trị vì 1847-1883), húy là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

● Vua Dục Đức (1883, chỉ ở ngôi có 3 ngày), húy là Nguyễn Phúc Ưng Chân

● Vua Hiệp Hòa (1883, chỉ ở ngôi được 4 tháng, 10 ngày), húy là Nguyễn Phúc Hồng Dật

● Vua Kiến Phúc (1884), húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng

● Vua Hàm Nghi (trị vì 1884-1885), húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch

● Vua Đồng Khánh (trị vì 1885-1889), húy là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ

● Vua Thành Thái (trị vì 1889-1907), húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân

● Vua Duy Tân (trị vì 1907-1916), húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San

● Vua Khải Định (trị vì 1916-1925), húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo

● Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945), húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy

Hoàng Trưởng Tử của Vua Bảo Đại là Thái Tử Nguyễn Phúc Bảo Long không bao giờ lên ngôi vì Vua Bảo Đại đã thoái vị, chấm đứt triêu đại Nhà Nguyễn.  Tuy nhiên hoàng tộc Nhà Nguyễn vẫn tiếp tục sử dụng các chữ kế tiếp trong bài Đế hệ thi.  Thái Tử Bảo Long không có con.  Hoàng tử Bảo Thắng, con của Thứ Phi Phi Ánh, có 1 người  con trai và đặ đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Quý Khang.   Ông Quý Khang lập gia đình và sinh được hai người con trai song sinh và đặt tên là Nguyễn Phúc Định Lai và Nguyễn Phúc Định Luân.  Như vậy, cho đến ngày hôm nay, hoàng tộc Nhà Nguyễn đã sử dụng đến chữ thứ 8 trong số 20 chữ (tức là chữ thứ ba trong câu thơ thứ nhì) của bài Đế hệ thi

Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (1845-1876)

Vua Thiệu Trị có tất cả 64 người con, 29 hoàng tử và 35 hoàng nữ.   Ông Hồng Cai [2] là hoàng tử thứ 26, mẹ là Bà Tài Nhân Trương Thị Vĩnh.  Ông sinh vào ngày 13-12-1845, từ nhỏ đã được tiếng là rất hiếu thảo và thích học hành.  Năm 1865, ông được Vua Tự Đức (1847-1883) phong làm Kiên Quốc Công.  Vua Tự Đức không có con nên đã nhận hai người con trai của ông làm con là Nguyễn Phúc Ưng Đăng và Ngyễn Phúc Ưng Thị, về sau đều được lên ngôi, và đó là hai vua Kiến Phúc Đồng Khánh.  Ông mất năm 1876.  Năm 1885, Vua Đồng Khánh truy phong ông làm Kiên Vương, sau đó được nâng lên là Kiên Thái Vương.     

Vua Kiến Phúc (1883-1884)

Vua Kiến Phúc Mặc Long Bào

Vua Kiến Phúc [3], húy Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sinh ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (dương lịch: 12-2-1869), là con thứ ba của Kiên Thái Vương Hòng Cai và Vương Phi Bùi Thị Thanh.  Sau khi Ngài được Vua Tư Đức nhận làm con nuôi thì được đổi tên thành Nguyễn Phúc Ưng Hổ.   Năm 1870, khi mới 2 tuổi, Ngài nhập cung và được Vua Tự Đưc giao cho Bà Học Phi Nguyễn Thị Hương nhận làm dưởng tử và nuôi dạy.  Sau khi Vua Hiệp Hòa bị phế, Ngài bị ép phải lên ngôi lúc mới 15 tuổi.  Thời gian trị vì của Ngài là giai đoạn rối ren trong triều đình Huế vì áp lực của người Pháp cũng như vì sự chuyên quyền của 2 quan phụ chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.  Trong dân gian lúc đó có lưu truyền 2 câu thơ như sau:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết,
Tứ nguyệt tam vương triệu bất
tường.

Dịch nghĩa:

Một sông chia hai nước, khó mà nói chuyện cho rõ,
Bốn tháng có ba vua, là điều không lành.

Xin lưu ý tác giả vô danh của 2 câu thơ trên đã rất xuất sắc lồng vào đó tên của cả 2 quan phụ chính chuyên quyền lúc đó là Tôn Thất Thuyết và Ngyễn Văn Tường.

Vua Kiến Phúc chỉ ở ngôi được có 8 tháng thì mất, vào ngày 16 tháng 6 năm Giáp Thân, dương lịch là ngày 31-7-1884, thọ 16 tuổi.

Vua Hàm Nghi (1884-1885)

Vua Hàm Nghi mặc quốc phục, không rõ năm chụp

Vua Hàm Nghi, húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (dương lich là ngày 2-8-1871), là con thứ năm của Kiên Thái Vương Hồng Cai và Bà Phạm Thị Nhân, đã được hai ông Tường và Thuyết đưa lên ngôi vì Ngài còn nhỏ, mới có 13 tuổi, để họ có thể dễ dàng tiêp tục thao túng.  Việc bang giao giữa triều đình Huế và người Pháp lúc đó rất là căng thẳng.  Thống Tướng De Courcy được cử làm Toàn Quyền Trung Bắc Kỳ quyết tâm bắt giam ông Thuyết nên ông Thuyết đành phải ra tay trước, cho quân tấn công Tòa Khâm Sứ và đồn binh của Pháp ở Mang Cá nhưng thất bại.  Ông mang Vua Hàm Nghị và Tam Cung là 3 bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, Hoàng Hậu Lê Thiên Anh và bà Học Phi ra Tân Sở, và phát hành Hịch Cần Vương kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp.  Việc đánh nhau với Pháp kéo dài hơn 3 năm.  Do sự phản bội của Trương Quang Ngoc, Vua Hàm Nghi bị Pháp bắt được và đưa Ngài đi an trí tại Algérie, Băc Phi.  Ngài sống tại đây cho đến khi mất vào ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Ngọ (dương lịch là ngày 4-1-1943), thọ 72 tuổi.

Vua Đồng Khánh (1885-1889)

Vua Đồng Khánh mặc long bào và ngự trên ngai

Vua Đồng Khánh [4] là con trưởng của Kiên Thái Vương Hồng Cai, mẹ là Vương Phi Bùi Thị Thanh, húy là Nguyễn Phúc Biện, sinh ngày 12 tháng Giêng, năm Giáp Tý (dương lịch là ngày 19-2-1864).

Lúc được 2 uổi, Ngài được Vua Tự Đức cho nhập cung và giao cho Bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm nhận làm dưởng tử.  Năm 1883, Ngài đươc Vua Tự Đức phong làm Kiên Giang Quận Công.  Tháng 6 năm Ất Dậu (1885), người Pháp, với sự cộng tác của Nguyễn Hữu Độ và với sự đồng ý của Lưỡng Cung (Hoàng Thái Hậu Từ Dũ và Hoàng Hậu Lê Thiên Anh), đã truất phế Vua Hàm Nghi và đưa Ngài lên ngôi.

Thời gian trị vì của Vua Đồng Khánh là giai đoạn đầu tiên của chế độ bảo hộ của Pháp, rất rối loạn, vì sự chống đối của dân chúng khắp nơi, theo lời kêu gọi của Hịch Cần Vương của Vua Hàm Nghi.  Lúc đó, trong dân gian đã truyền tụng hai câu thơ lục bát như sau:

Ngẫm xem thế sự mà rầu
Ở giữa Đồng Khánh hai đầu Hàm Nghi.

Tháng 11 năm Mậu Tý (1888), Vua Đồng Khánh nhuốm bệnh, không chửa được, và Ngài mất vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý (dương lịch là ngày 28-1-1889), hưởng thọ được 25 tuổi.

Thay Lời Kết:

Cả 3 vị vua kém may mắn này đã ở ngôi báu không được lâu trong một giai đoạn hết sức đen tối của lịch sử nước ta, mở đầu cho sự khống chế của người Pháp ở Trung và Bắc Kỳ (Nam Kỳ thì đã là thuộc địa của Pháp từ giữa thập niên 1860 rồi).  Trong 3 vị, chỉ có Vua Hàm Nghi được lưu danh sử sách vì chủ trương chống Pháp của Ngài    

GHI CHÚ:

1. Đế hệ thi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Intrnet sau đây: Đế hệ thi – Wikipedia tiếng Việt

2. Nguyễn Phúc Hồng Cai, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Intrnet sau đây: Nguyễn Phúc Hồng Cai – Wikipedia

3. Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc.  Nguyễn Phúc Tộc thế phả: thủy tỏ phả, vương phả, đế phả.  Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1995.  Nguyễn Phúc Hạo: Giảng Tông Nghị Hoang Đế: Vua Kiến Phúc, 381-384.

4. Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, sđd,  Nguyễn Phúc Biện: Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế: Vua Đồng Khánh, tr. 376-379.