Một Ngày Trong Căn Cứ Xẻo Quýt
Lâm Thụy Phong
Petrus Ký 1964-1971


Chúng tôi quyết định viếng thăm một di tích của thời chinh chiến đã qua, căn cứ địa Xẻo Quýt, thuộc hai xã Mỹ Hiệp, Mỹ Long (Cao Lãnh, Đồng Tháp). Đây là khu sinh thái rộng hơn 50 mẫu Tây, trong đó hơn 30 mẫu là rừng tràm nguyên sinh.
Về đây với đất trời bao la, trong một không gian sông nước bao trùm, chim muông đủ loại, đã cho tôi hòa mình hoàn toàn vào một vùng đất mà chỉ hơn 60 năm trước ( 1960 -1975), đất và trời thuộc hai chiến tuyến không đội chung nón, chan hòa máu và nước mắt, ngàn giọt lệ rơi!
Ngày xưa, những chiếc trực thăng bay phành phạch trên trời cao, hăm dọa phun đạn, rocket xuống hầm hố ngụy trang hình chữ A, L, Z dưới đất. Hay những chiếc Skyraider cánh quạt, B57 Canberra, F100 Super Sabre, F105 Thunderchief, F4 Phantom bay lượn, nhả xăng đặc Napalm thiêu rụi khu rừng dừa, tràm ngâm chân trong nước.
Con đường còn xa, theo QL 1 trực chỉ Cao Lãnh /Đồng Tháp. Có những khúc đường nắng dội cháy da, nhựa đường bốc hơi lãng đãng dưới đất. Tiếp tục đi tới bến qua QL30, đến ngã ba An Hữu là đúng lộ trình vô mật khu, căn cứ địa của tỉnh ủy Kiến Phong ( tên cũ của Đồng Tháp ) ngày xưa.
Xẻo Quýt cách Kiến Phong khoảng 30 cây số. Nhìn quang cảnh chung quanh, tôi thấy được nơi nầy xưa kia là vùng oanh kích tự do với cường độ vô cùng mãnh liệt, vì cây cối chung quanh chưa cao lắm so với tuổi tác của rừng nguyên sinh tại đây.
Chúng tôi gởi xe bên ngoài. Đường đi rộng, sạch sẽ, lá cây và rác được quét dọn gọn gàn, mát mẻ dưới những hàng tre cao chen chưn bên các cây sanh gió lùa nghe thật vui tai. Cảm giác thôn dã an bình nhập vào hồn khách nhàn du, nơi vùng trời đã đi qua một thời khét nghẹt mùi súng đạn, tang thương.
Chúng tôi được đón tiếp bởi ba cô gái còn rất trẻ, tuổi đời ở độ “hậu chiến” theo định hướng XHCN ( ndlr: Xếp Hạng Con Người ), trang phục áo bà ba đen, quần lảnh đen, cổ choàng khăn rằn kẻ vuông đen trắng kiểu miền Tây sông nước mà nguồn gốc xuất phát từ chiếc khăn krama của người Khmer. Hình ảnh nầy trong suốt hai cuộc chiến Đông Dương là biểu tượng của “đội quân tóc dài”, “nữ du kích Việt Cộng” nằm bên luống cày cẩm cây Mikhail Kalachnikov AK47 chống “càn” bộ binh / thiết giáp của quân đội Quốc Gia, hay leo lên ngọn dừa bắn “máy bay lên thẳng” rụng như dứa (khóm) Tân Thới.
“Cuộc kháng chiến thần thánh” (sic), hệ quả của bài ca hòa bình lỡ nhịp dẫn tới huynh đệ tương tàn, nồi da sáo thịt đã qua thật xa. Hy vọng lịch sử đau thương không lặp lại, tránh cảnh ngàn giọt lệ lại rơi ( A Thousand Tears Falling / Yung Krall ).
Chúng tôi tiếp tục theo con đường lộ đất, một tấm bản đồ với kích thước khá lớn trên đó ghi rõ từng vị trí đóng quân, đồn bót của quân chánh phủ bao quanh, cũng như bản doanh bí mật “căn cứ của lòng dân” ( sic) Xẻo Quýt với tên của cấp lãnh đạo.
“Căn cứ thủy đạo”, tên gọi khác của chiến khu cộng sản có hai lối đi: luồn lách theo kinh rạch chằn chịch, cây cối um tùm, rễ mọc dày đặc; hoặc theo đường đất chém cây chặt cành mà né máy bay dọ thám rình rập đêm cũng như ngày. Do sanh hoạt trong điều kiện vô cùng khó khăn bị săn đuổi hằng ngày, căn cứ có hai “tôn chỉ sanh tồn” : “xa ĐÂM , gần CHÉM”. Nghĩa là khi thấy trực thăng từ xa, chưa muốn làm liệt sĩ “tổ quốc ghi công” thì ĐÂM đầu chạy thụt mạng. Và khi nghe tiếng máy bay thật gần bên lổ tai, đừng thắc mắc chuyện dọc ngang trên đầu có ai, cứ CHÉM vè cho nó lành như cua bò nhanh, lủi lẹ vô bùn.
Thứ đến, “tôn chỉ tự túc tự xử”, do tiếp tế khó khăn, nước (ndlr :dân chúng) bị tát cạn, cá nằm phơi , ngất ngư ná thở, nên : “trên cơm, dưới cá, lá ngoài đồng”.
Đi sâu vào rừng, dù đã có bàn tay tái tạo của con người, chúng tôi vẫn cảm nhận được nét hoang sơ qua tiếng róc rách của nước chảy nhẹ luồn khe đá; tiếng ếch, ểnh ương, chàng hiu giao mùa; tiếng gọi thánh thót hay trầm bổng của nhiều loại chim khác nhau.
Những cây tràm chỉa rễ giao thoa giữ đất, cây đưng, đước, sống trong nước phèn, lợ; dừa nước cho quầy đang ra trái nhìn cá bống an nhiên lội dưới chân.
Chúng tôi gọi món ăn cho buổi trưa. Giá nhẹ như nón tai bèo, “compo nói chung” chỉ bao gồm hoa đồng cỏ nội của thôn dã: chuột đồng nướng, canh chua cá lóc, lươn nấu chua, ếch nướng mọi, lẩu cá linh, ếch xào sen vv và vv .
Mướn võng nằm tiêu cơm bên chiếc quạt máy và nhang đuổi muỗi bay vo ve đáng sợ hơn tiếng trực thăng ngày cũ.
Phía trước mặt là một con rạch khá rộng, nước đang ròng. Bèn mướn cần câu ra quăng bậy để giết thì giờ.
Cần câu thuộc loại dã chiến, chỉ một cành tre và sợi dây gân có lưỡi câu. Mồi cũng vậy, đào trùng đất tại chỗ.
Quăng câu, ngồi đợi thật lâu vẫn chưa thấy cá bén mồi. Hóa ra khúc rạch nầy toàn cá ăn chay, kiêng thịt: cá lau kiếng (Hypostomus Plecostomus).
Trời vào chiều, nắng bớt gay. Ông mặt trời vẫn quay, đỏ chói như đã “dzô” một chăm phần chăm chai “Cọp Bạc” đầu trắng.
TV đợi bà phụ trách dịch vụ mướn võng đi hái rau choại về. Hỏi giá bao nhiêu, không nói. Nhét vô túi, cũng không lấy.”Rau rừng mà cô. Đem dìa ăn để nhớ rau không trồng của Xẻo Quýt”.
Người dân quê là vậy, nghèo tiền nghèo bạc, nhưng biết trọng nhơn ngãi, khinh tiền bạc như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim.
Cám ơn tất cả bài học mà tôi nhận được từ sông nước này, trước tiên từ người ở đất cồn Ng. H. đến những tâm tình mộc mạc, thật thà như loài rau rừng mà lần đầu tiên tôi mới biết tên.
Nắng chiều sắp tắt. Chúng tôi còn một đoạn đường khá dài phải đi.
Giã từ Xẻo Quýt, đến để không thể nào quên, cái tên đong đầy âm hưởng “Đàng Trong” thật gần.
Lâm Thụy Phong
13/5/2024 Cecilia





