Chiều về trên cù lao Năm Thôn. Mùa  nước lớn, ánh  tà dương còn nhả xuống những vạt nắng đã bớt gay gắt trên dòng sông nước đụt ngầu. Một vài ghe tam bản chèo vội về nhà, chạy đua với những nhánh lục bình cô đơn, trôi nổi lững lờ theo con nước. Bên kia cù lao  lớn hơn, chung quanh chưn cồn là rặng dừa nước bao bọc bởi những cây bần, khoe rễ khẳng khiu cong quẹo như những con rắn nước đang bò. Tất cả chỉ một màu xanh chan hòa cùng với nước phù sa vàng sậm của sông Tiền.

Nền trời trong. Xa thật xa hút tầm mắt, vài cụm mây trắng thật mỏng không đủ để che nắng vàng về chiều. Những con cò trắng, bìm bịp, cò bông duỗi chân thẳng cánh bay về, không biết từ nơi đâu, đáp xuống ngọn cây ô môi đang ra bông hường lợt thật đẹp, trên cành lơ lửng treo đầy trái đen xì, mốc thếch trong khu vườn ngoài bìa cù lao.

Con “Út Đen” đội cái thau đi bán bánh cam, bánh còng  ghé nhà bà nội của nó do thói quen trên đường về. Cái khăn rằn đen trắng còn quấn trên đầu. Nó quẹt tay thật nhanh, lau mồ hôi chảy bám trên khuôn mặt có đôi mắt sáng tinh anh của đứa con gái nhà quê chưa quá 10 tuổi. Con nhà có điều kiện kinh tế khiêm nhường, phải chen chân bươn chải vào đời thật sớm. Lội bùn, vét mương bắt cua cá, hay trèo cây hái mận, dừa, xoài, nhãn, đu đủ, lê ki ma, sa- bô -chê trong vườn để ra chợ bán, khi không có giờ học ở trường làng gần đó. Nắng quét trên da sậm màu bánh mật, nên bà con lối xóm đặt cho nó cái tên dễ nhớ là “con Út Đen”. Cái tên bám nó riết , như  da không nhả nắng, chắc nịch như dây cóc kèn leo thân bần nước không biết tự bao giờ trên cù lao Năm Thôn, mặc cho đất phù sa trôi dạt bồi đắp theo năm tháng.

Út Đen đi một vòng quanh vườn, nhìn quanh để tìm trái hái đem ra chợ bán ngày mai. Cây vú sữa gốc Lò Rèn đang ra trái căng cứng, da màu trứng gà bóng loáng. Cây mận da người bao phủ một góc mái thiếc. Trái thon dài, màu xanh nâu, ngọt dịu, nhiều nước đang nằm hứng gió, phơi mình dưới giọt nắng chiều. Út tính rợ trong đầu, tệ gì cũng hơn trăm ký, đủ rủng rỉnh cho má thêm vốn ngày mai.

Gần đó là bến xuồng nhỏ trong vườn, nước xăm xắp gần bờ. Lục bình đang ra bông, che mất rễ cây dừa nước in bóng bầy cá bống bơi lội kiếm những con tép rong chen chúc trong rễ  ô rô, cóc kèn, ngó bần lia chia lúp xúp trên mặt nước. Cây dành dành ra bông trắng thật lớn, tỏa hương thơm nhẹ nhàng trong gió nhẹ, len lỏi qua bụi điên điển cũng đang khoe bông vàng rực, rớt xuống hầm hến của nội làm, cùng những trái mận nâu xanh.

Út Đen xắn vội ống quần lội xuống nước, không quên đem theo rỗ và thau nhôm của nội để phơi trên kệ tre gần đó.

Không đầy nửa tiếng đồng hồ trôi qua, cái thau đã đủ tép  cá cho bữa cơm chiều.

Bỗng Út Đen la lên thật lớn,  rút tay ra khỏi hang nhỏ mà nó nghi là nơi trú ẩn của cá bống dừa. Con rắn còn đang cắn chặc ngón tay máu chan hòa. Nó rũ tay thật mạnh, con rắn bị bật tung rơi trên bờ, bò đi thật nhanh, mất hút trong đống tàu dừa của nội đang phơi.

Út Đen leo nhanh như chớp lên bờ, chạy vô nhà, la lớn: “Nội ơi,  con bị rắn cắn”. Bà nội hốt hoảng đang đứng bên bếp nhóm lửa sữa soạn bữa cơm chiều, nói vói ông nội: “Ông chạy qua kêu tía nó đưa đi thầy hai thuốc rắn lẹ lên, sẵn ghé xin con hai Thê một ít thuốc”.

Chú Mười Hai, tía của Út Đen hớt ha hớt hãi chạy qua. Cô hai Thê lối xóm bên kia con lộ đất cũng vừa tới. Cả nhà xúm lo mài “bài thuốc” trên cái nắp lu đất nung, đưa cho nó uống nhanh và bắt ngậm luôn bài thuốc khử nọc.

Không mất thì giờ, chú Mười Hai vội đẩy chiếc xuồng đuôi tôm, kéo máy, khói bốc đen một góc trời,  đưa con gái qua bên kia cồn để cầu cứu “thầy hai thuốc rắn”, xưa nay có tiếng trong vùng.

Mọi người đều căng thẳng tột độ như đờn lên dây tối đa, vì bác Năm của Út đen đã bỏ mạng bởi rắn hổ đất ngày xưa. 

Chiếc xuồng cập bến, cột dây vội vã trước nhà thầy Hai. Chú Mười Hai ẵm Út Đen chạy nhanh lên bờ.

Vào nhà gặp bà Hai.

-“Ổng đi Long Trung ăn giỗ, chiều mai mới dìa”.

Nghe câu đó, mặt chú Mười Hai đổi sắc tái mét, không thốt ra được thêm một lời nào nữa. Trời đất như quay cuồng chung quanh.

Động lòng thương cảm xót xa, bà Hai thuốc rắn trấn an:

-“Đợi tui chút. Tui ra sau vườn đào củ môn, đổ nước đọt lá chanh cho con nhỏ uống”

Út Đen cố gắng uống,  nước mắt lưng tròng.

-“Tía ơi, thuốc gì mà uống ngứa cái cổ họng quá”.

Chú Mười Hai nhăn mặt, nhìn con với ánh mắt lo lắng,  không nói nên lời.

Bà Hai thuốc rắn khuyên:

-“Chú đưa nó qua ông Ba Su, có thuốc trị rắn.

Từ giã bà Hai, chú Mười Hai dắt con thảm não xuống xuồng  ra về.

Chiều tắt nắng không biết từ bao giờ. Chiếc xuồng lướt trên mặt nước, mở hết máy với vận tốc tối đa, xịt khói đen xì. Chưa bao giờ chú Mười Hai cảm thấy cái máy đuôi tôm 4 ngựa nầy chạy chậm như chiều nay.

Qua ông Sáu Sú chẩn đoán, ông thầy trấn an:

-“Vết răng may quá không phải là rắn độc. Tôi bổ thuốc uống, ở đây một lát để canh chừng rồi dìa”.

Chú Mười Hai thở phào, nhẹ bớt ngàn cân.

Về tới nhà, anh ba Sáng cho hay bà con lối xóm lùng kiếm ra thủ phạm là con rắn trung, một loại rắn nước vô hại. Con Út Đen nằm nghỉ trong giừơng, mệt mõi. Không khí trong nhà nhẹ hơn. Mãi đến giờ mới thấy nụ cười trên môi mọi người.

Chú Mười Hai pha cho con ly nước đá chanh đường và đồng thời nói với Út Đen trả lại thuốc trị nọc rắn của cô Hai Thê còn ngậm trong miệng. 

Lúc đó ai cũng bật ngữa, cười không ra tiếng. Đó chỉ là miếng cẩm thạch trang sức bị bể.

Khi biết được “tưởng vậy mà không phải vậy”, cô Hai Thê e thẹn, bào chửa:

-“Lúc nảy quýnh quá, tui mới  sớn sác lấy lộn cho con nhỏ ngậm bậy cẩm thạch”.

Nào ai biết  được, hay là nhờ ngậm cẩm thạch mà khi lớn lên Út Đen mới đổi màu sương nắng, như Mây Trắng trên trời cao?

Lâm Thụy Phong
Paris,  chiều Chúa nhựt 23/6/2024