Mấy suy nghĩ về Thơ

Phan Văn Thạnh

suy nghi ve tho 01

1- Có thể nói từ bao đời nay, sinh hoạt đời sống của dân ta trải đến đâu thành thơ đến đó:

      -Dắt trâu làm đồng: “Trâu ơi ta bảo trâu này/Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/Cấy cày vốn việc nông gia/Ta đâu trâu đấy ai mà quản công…”.

      -Trai gái yêu nhau tìm đến nhau mãnh liệt: ‘Thương nhau tam tứ núi cũng trèo/Thất bát sông cũng lội,cửu thập đèo cũng qua”.

      –Tỏ tình thì nói lời bóng, lời gió ẩn dụ: “Đêm qua tát nước sau đình/Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen/Em được thì cho anh xin/Hay là em để làm tin trong nhà/Áo anh sứt chỉ đường tà/Vợ anh chưa có,mẹ già chưa khâu …”.

      – Thả thính thì tán tỉnh lòng vòng: “Bây giờ mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?/Mận hỏi thì đào xin thưa/Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”  v.v…

Thời thuộc Pháp, văn học phương Tây tràn sang đem theo đủ thứ chủ nghĩa: cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, hiện sinh. “Cái tôi” cảm xúc trong thơ ca từ chỗ gò bó khép kín được giải phóng tuôn trào lai láng.

Thời đại chuyển biến tất yếu mọi sự cũng phải đổi thay – cung bậc, màu sắc tình cảm không đứng ì một chỗ. Thi sĩ Lưu Trọng Lư đã đã từng đề cập đến điều này trong bài diễn thuyết ở nhà Học Hội Qui Nhơn (tháng 6.1934):

“…Các cụ ta thích những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt… các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn,ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm nghìn muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”- (Trích Thơ mới lãng mạn – những lời bình – Vũ Thanh Việt biên soạn-tr.16, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội -2000)

Đọc lại Thi Nhân Việt Nam – Hoài Thanh-Hoài Chân, xem lại Nhà Văn Hiện Đại – Vũ Ngọc Phan, tôi bỗng giật mình tự hỏi giả định lịch sử Văn học Việt Nam thiếu hẳn những bậc tiền bối như: Tản Đà, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Vũ Đình Liên, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Quách Tấn… -Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo (nhóm TLVĐ), Trần Tiêu, Mạnh Phú Tư, Chu Thiên, Vũ Trọng Phụng, Vũ Đình Chí, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Vũ Bằng …, thì vòm trời văn học dân tộc ta chắc chắn sẽ chịu một lỗ thủng toang hoác.

Nói gì thì nói, luận bàn gì thì luận bàn, cuộc sống ngoài kia vẫn không ngừng tuôn chảy vận động với tốc độ ánh sáng. Quả đất là một mặt phẳng với internet. Xã hội đậm chất thực dụng. Con người nhiều khi chưa kịp nhận diện mình ở trạng thái này thì một hình thù khác đã ập đến và cứ thế chìm nghỉm trong cõi ta bà. Nhận thức, cảm xúc thiếu độ ngấm, độ lắng. Các bạn trẻ yêu nhau chỉ muốn “ăn tươi nuốt sống” ngay lập tức, thế thì lấy đâu ra những mong chờ-ngóng-đợi-buồn-thương-tương tư…theo cái kiểu lượn lờ con bướm: “Mắt nàng đăm đắm trông lên/Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi/ Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi/Tôi buồn tự hỏi: Hay tôi yêu nàng? (Người hàng xóm – Nguyễn Bính) – Do vậy “cái tôi trữ tình” trong thơ ca đành phải  tắt ngóm!

 

suy nghi ve tho 022- Tình yêu là đề tài phổ biến trong thơ ca – gần như không nhà thơ nào là không đề cập đến chữ tình: tình non nước, tình quê hương, tình bằng hữu, đặc biệt tình đôi lứa. Cảm xúc yêu thương, mong chờ, hờn giận, đắng cay, xót xa, chỉ xảy ra ở hàng sinh vật thượng đẳng – “CON NGƯỜI”. Phải, chỉ con người mới có hoạt động văn hóa-văn nghệ. Chú ve râm ran rền rĩ gọi hè sang hoàn toàn trong vô thức… Chỉ có cánh phượng đỏ như máu con tim mới là nỗi lòng của nhạc sĩ Thanh Sơn khi xa nhớ người bạn gái thân yêu đầu đời ! – (Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…)

Hảy thử nhìn lại :

Cụ Nguyễn Trãi (1380-1442) – thi ca khẩu khí ngất trời với áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại Cáo vang dội non sông: “Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông…” – thế nhưng tình thơ của Ức Trai tiên sinh  không kém phần nồng nàn da diết: “Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/Đầy buồng lạ,màu thâu đêm/Tình thư một bức phong còn kín,/Gió nơi đâu gượng mở xem”. (Vịnh Cây Chuối)

Thi sĩ Tản Đà (1889-1939) tự hỏi không hiểu vì sao hai cá thể yêu nhau lại khởi đi từ trạng thái cuồng si, nhung nhớ quay quắt: “Quái lạ! làm sao cứ nhớ nhau,/Nhớ nhau đằng đẵng suốt canh thâu./Bốn phương mây nước,người đôi ngả,/Hai chữ tương tư một gánh sầu”.(Tương Tư)

Bài thơ Tình già đăng trên Phụ nữ Tân văn (10/3/1932) của Phan Khôi (1987-1956) chừng như vẫn còn sức lay động những ai trên thế gian này mang mang tâm trạng hoài cố nhân: “Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa/Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh kề nhau than thở./Ôi đôi ta tình thương thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng;/Để đến rồi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau/Hay!Nói mới bạc làm sao chớ!Buông nhau làm sao cho nỡ?/Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!/Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng, mà tính việc thủy chung?Hai mươi bốn năm sau, tình cờ nơi đất khách gặp nhau! Đôi mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được! Ôn chuyện cũ mà thôi,/Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi”.

Nguyễn Bính (1918-1966) say khướt niềm nhớ – nhà thơ chân quê đã uống cả một trời quan tái: “Chiều nay…thương nhớ nhất chiều nay/Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy/Tôi uống cả em và uống cả/Một trời quan tái,mấy cho say!” (Một Trời Quan Tái). Và thi sĩ “chân quê” của ta đâu hay mình đã thả vào thi đàn Việt Nam bài thơ tình học trò, ngan ngát hương sen: “Học trò trường huyện ngày năm ấy/Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ/Những buổi học về không có nón/Đội đầu chung một lá sen tơ.//Lá sen vương phấn hương sen ngát/Ấp ủ hai ta chút nhụy hờ/Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc/Theo về tận cửa mới tan mơ.//Em đi phố huyện tiêu điều quá/Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi/Mà đến hôm nay anh mới biết/Tình ta như chuyện bướm xưa thôi » (Trường Huyện)

Xuân Diệu – người đi đầu trong phong trào thơ mới, đã kêu gọi tuổi trẻ hãy yêu&sống hết mình trong cái hữu hạn đời người: «Tôi chỉ mách với bạn để tỏ rằng sự thiết tha thực không đáng trách, sự cuồng si là cái ta chớ vội đuổi, và ta hãy vui lòng sống vẹn toàn tuổi xuân hiếm hoi của ta. Bạn ơi!Tập thơ đầu của tôi đây bạn chớ bắt chước những người khôn ngoan, họ không biết quí phần ngon nhất của đời: tình yêu và tuổi trẻ. Chỉ một bóng thôi, một thoáng thôi, và tay ta đã buông thõng, không còn đủ hăng hái để bám vào vú thơ, vú mộng và uống lấy sữa nồng!» (Lời Đưa Duyên

Và ông đã tháo tung sự dồn nén của cái tôi trữ tình: Ta muốn ôm/Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn/Ta muốn riết mây đưa và gió lượn/Ta muốn say cánh bướm với tình yêu/Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều/Và non nước và cây và cỏ rạng/Cho chếnh choáng mùi thơm,cho đã đầy ánh sáng/Cho no nê thanh sắc của thời tươi;/ Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi ! (Vội Vàng)

Xúc cảm của thi sĩ như được vét đến tận cùng,trút vào thơ: « Bữa nay, lạnh mặt trời đi ngủ sớm,/Anh nhớ em,em hỡi!anh nhớ em…/Anh nhớ tiếng.Anh nhớ hình.Anh nhớ ảnh/Anh nhớ em,anh nhớ lắm! em ơi!/Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi/Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời/Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.”(Tương Tư Chiều)

Đến Nguyên Sa (1932-1998) sau này, chất trữ tình lãng mạn có phần tinh tế hiện đại, sang trọng hơn: “Nắng Saigon anh đi mà chợt mát/Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng//Anh vẫn nhớ em ngồi đây,tóc ngắn/Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh/Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung/Bay vội vã vào trong hồn mở cửa//Gặp một bữa anh đã mừng một bữa/Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn/Thơ học trò anh chất lại thành non/Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu”…(Áo Lụa Hà Đông)

Tình thơ của Nguyên Sa nhẹ nhàng mà thấm đẫm: “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường/Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương/Tôi thay mực cho vừa màu áo tím” …(Tuổi Mười Ba ) 

 

suy nghi ve tho 033- Tóm lại, thơ là suối nguồn được nung nấu thôi thúc từ sâu thẳm tâm hồn. Cái tôi cảm xúc của con người sẽ khơi dòng thi hứng. Thi hứng là sự xúc động mạnh mẽ khiến người ta cảm thấy có thú làm thơ. Trả lời nhà văn Nguyễn Nam Anh (Nguyễn Xuân Hoàng) – tạp chí Văn số 13,14, xuân Mậu Dần 1998),thi sĩ Nguyên Sa nói về thơ: “Làm thơ, với tôi (NS), bao giờ cũng cần có cảm hứng, có cảm hứng mới làm được thơ, không có cảm hứng thì chịu thua. Cảm hứng đưa tôi vào thơ, thời gian này, cũng như hơn bốn thập niên, luôn luôn đến – đến từ sự xúc động chân thực. Có rung động thực và rung động giả, cho nên có cảm hứng thực và cảm hứng giả. Lúc hai mươi tuổi, đam mê tình ái mang thơ lại cho tôi. Tôi nghĩ thơ tình thời học trò mà tôi nói chuyện suy tư về hữu thể và hư vô là xúc động giả, sâu xa giả, thơ làm dáng không phải thơ. Khi tuổi già đã tới, không còn đam mê tình ái, cánh cửa của mỗi đời người sắp khép lại, những xúc động của những ngày tháng đối diện với sự thật của kiếp người, một cuộc tình hồi tưởng lại, một cuộc tình mơ ước, sương mai mong manh, cơn mưa đến muộn, buổi hoàng hôn nơi quê người, người bạn thâm niên bỏ xứ vĩnh viễn… là nguồn cảm hứng hôm nay của tôi.” (theo luanhoan.net).

Nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh ghi nhận: Thi ca Việt Nam 1932-1942, một thời đại vừa chẵn mười năm. Với cái sức mạnh súc tích từ mấy ngàn năm nhất đản tung bờ vỡ đê. Trong mười năm ấy, thơ mới đã tranh đấu gắt gao với thơ cũ,một bên giành quyền sống, một bên giữ quyền sống. Cuộc tranh đấu kéo dài cho đến ngày thơ mới toàn thắng… Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thởi đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não nhu Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…”

Sau 1945 dài theo kháng chiến, trầm mình trong bao cấp, “cái ta tập thể” lên ngôi thống soái. Văn học nghệ thuật từ một nửa đất nước(1954) đến trọn đất nước (sau 1975) mang tính đồng phục “rập khuôn đơn điệu”.

Có ý kiến nhận xét: “Một thời kỳ quá dài anh nhà thơ của ta đã kiêm nhiệm nhà chính trị, nhà tuyên huấn, nhà giáo, nhà cạo giấy và, cả …nhà buôn. Kiêm ở ngoài đời đã hại, nhưng không hại bằng kiêm trong thơ”. (Thơ mới và hôm nay – Hoàng Hưng).

Do vậy một số văn nghệ sĩ – những người “đi xuyên tường” thời cuộc, không nén được sự trăn trở trước khi từ giã cõi đời, đã vung bút “tả thiên thanh” (viết lên trời xanh): Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Nguyễn Minh Châu); Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải); Riêng nhà thơ Chế Lan Viên lưu ý bạn yêu thơ hãy Trừ đi: “Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ/Có phải tôi viết đâu! Một nửa/Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi/Giết một tiếng đau – giết một tiếng cười/Giết một kỷ niệm – giết một ước mơ – tôi giết”… (nguồn internet).

Salvatore Quasimodo(1901-1968) – nhà thơ người Italia,từng quả quyết: “Thơ là sự mặc khải rằng người làm thơ tin rằng cảm xúc của họ chính là tiếng lòng của độc giả”.

Trong guồng quay, nhịp sống sấp ngửa hôm nay, rất khó có chỗ cho lãng đãng mây gió. Thơ ca dường như trở nên phù phiếm, luôn chạy lóc cóc phía sau đời sống. Tuy vậy không ai phủ nhận tác dụng của những vần điệu trữ tình đã nuôi dưỡng tâm hồn, góp phần làm nên bản sắc Việt nghìn năm qua .

Thơ tình – tiếng yêu còn vọng mãi, tôi tin chắc  như vậy bởi thi ca là hồn cốt, tinh huyết dân tộc! Dân ta có truyền thống yêu thơ,chuyện cơm áo gạo tiền tưởng chừng dập tắt nguồn thơ – nhưng không, nhiều khi chính thi ca là tay vịn để ta đứng dậy, đi tới – nói như Phùng Quán (1932-1995): “Có những phút ngã lòng/tôi vịn câu thơ và đứng dậy”!

Và, “Dù hay-dở, dù hiện ra với hình thái nào, thơ vẫn là nơi cư ngụ của tâm hồn, sự hiện hữu của con người…Thơ cứu rỗi con người trước những nguy cơ của xã hội, trong nền kinh tế thị trường đầy bất trắc, trong những hiện diện vô cảm. Thơ như thế là một cách tự chữa trị của con người trong đời sống rất dễ tổn thương hiện nay.”– TS Nguyễn Thanh Tâm – “Biên tập viên thơ: Phẩm chất và sứ mệnh” – (trích nguồn viet-studies.net).

PHAN VĂN THẠNH

(Saigon vào Hạ -10/4/2012,chỉnh sửa 2019)