Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại nhìn bao quát có thể nói là một thời kì biến đổi mạnh mẽ không ngừng. Song lớp nguời cầm quyền truớc kia cũng như hiện nay, hoặc không chịu ý thức lẽ biến dịch là tất yếu, hoặc tham quyền cố vị, cứ khư khư bảo thủ, khiến một là nội loạn bùng lên, hai là để nhân dân lạc hậu yếu hèn; cả hai tình trạng đều biến dất nước thành mồi ngon cho các thế lực thống trị ngoại lai, dù sự thống trị có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.

            Nếu những lớp người lãnh đạo kể trên sáng suốt, thấy sự thay đổi là cần thiết mà đáp ứng đúng lúc ─ hay hơn nữa có thể tiên liệu mà đi trước ─ nhu cầu cải cách của đất nước thì mọi sự đã diễn ra tốt đẹp, dân tộc ta đã tránh được một giai đoạn làm kẻ vong nô, đã khỏi trải qua một cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt.

            Nhưng thay đổi như thế nào? Nói chung là thay cái cũ lỗi thời bằng cái mới tiến bộ để theo kịp đà văn minh của nhân loại. Nhưng có phải như thế có nghĩa là bỏ hẳn cái cũ để hoàn toàn theo mới không? Lấy gì làm chuẩn cho sự thay cũ đổi mới?

            Lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng, đã cho thấy chẳng bao giờ con người có thể hoàn toàn đoạn tuyệt với cái cũ để nhẩy vọt và đứng vững trên cái mới mà không chao đảo rồi vấp ngã đau đớn. Lịch sử là sự tiếp nối, thay đổi từ từ, dầu có thể có đột biến, nhưng dù ẩn dù hiện, bao giờ cũng có sự chuẩn bị theo luật nhân quả: trong nhân (tượng trưng cho cái cũ) đã có sẵn mầm quả, còn quả (tượng trưng cho cái mới) phải từ nhân mà ra. Một thành ngữ Hán Việt hay được ông bà ta nhắc đến là ” phi cổ bất thành kim”, còn nói theo kiểu triết nho thì trời đất không bao giờ đi thẳng từ hạ sang đông hoặc ngược lại, mà phải qua giai đoạn chuyển tiếp bằng mùa thu và mùa xuân.

            Trong sự thay cũ đổi mới, tiền nhân ta đã để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm chính yếu sau đây:

  • Một: con đường TRUNG ĐẠO là tốt hơn cả. Mọi chủ trương cực đoan, quá khích nhất định đưa đến những đổ vỡ tai hại khôn lường. Lịch sử cũng cho thấy cách thay đổi thường xẩy diễn trên đất nước này là theo chân bắt chước người ngoài, những người tiến trước ta.
  • Hai: là bắt chước người nhưng không nhắm mắt bắt chước để biến thành người, mà phải sáng suốt và có tinh thần tự chủ. Học người để tiến bằng người chứ không nô lệ người. Nói khác đi, ta phải thu nhận có chọn lọc những giá trị ngoại lai: cái gì hợp với mình thì lấy, cái gì không hợp mà có hại thì bỏ, những điều mâu thuẫn song cùng giúp ích thì tìm cách dung hoà, những điều thiếu sót thì bổ khuyết.

            Từ đó ta thấy dân tộc Việt Nam ta có một khả năng dung hoà tổng hợp rất hay. Một kết quả cụ thể và to lớn là ngôn ngữ văn tự của ta bây giờ là cả một công cụ sắc bén có thể giúp ta đại chúng hoá nền giáo dục một mặt, và mặt khác giúp ta đi vào bất cứ lãnh vực kiến thức nào của nhân loại; còn văn học của ta là cả một kho tàng phong phú đáng trân trọng và giữ gìn. Nhưng bên cạnh đó, ta cũng phải thừa nhận nhược điểm của ta là ít có óc sáng tạo: nếu học chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là bắt chước thì người Việt ta học thật giỏi, song nghĩ ra điều mới lạ chưa ai nghĩ tới thì quả thật ta chưa bằng người.

            Trước khi đi vào nội dung sách này, chúng tôi muốn nhắc đến một niên đại: đó là năm 1802, năm vua Gia Long lên ngôi lập ra triều Nguyễn. Đây là dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại, không phải vì nó mở đầu một triều đại mới, mà vì nó đánh dấu những sự kiện quan trọng cho cả dân tộc Việt Nam.

  • Một: lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta có một chính quyền thống nhất bao trùm lên một lãnh thổ trải ra rộng nhất từ trước đến nay: cực Bắc từ ải Nam quan đến cực Nam là mũi Cà Mau, phía Tây thì dãy Trường Sơn đã là biên giới thiên nhiên cố định từ lâu, còn ra đến biển Đông là quần đảo Hoàng sa và một phần quần đảo Trường Sa. Đất nước Việt Nam từ đây chính thức thành hình với lãnh thổ, địa thế như vậy.
  • Hai: nền văn hoá Việt Hán cũng được định hình xong. Nhưng chế độ quân chủ, sản phẩm chính trị của Nho giáo, dưới triều Nguyễn trở nên độc đoán, cứng nhắc; còn chính Nho học Việt Nam, sau gần 5 thế kỉ giữ địa vị độc thịnh, cũng đã cằn cỗi. Cả hai không còn đủ uyển chuyển để thích nghi khi tình thế biến đổi. Cho nên khi nền văn minh cơ khí Tây phương như cơn dông bão ào ào thổi tới thì toà lâu đài giá trị cũ đã rạn nứt ấy bị nghiêng đổ.

            Nhưng có điều đáng nhận xét là phải cả hơn nửa thế kỉ sau, tính từ năm 1862, Việt Nam phải cắt đất nhường cho Pháp, đến năm 1919 kì thi Hội cuối cùng được tổ chức ở kinh đô Huế, các giá trị mới mới đủ sức đẩy các giá trị cũ ấy vào hậu trường (chứ không tiêu diệt) để ít lâu sau một số các giá trị cũ ấy lại dần dần được phục hưng.

            Thí dụ chữ nho vẫn còn được trẻ con lẻ tẻ theo học ở các làng quê, kinh sách Phật giáo vẫn còn được tụng đọc bằng chữ hán, các sách Đông y dược, tướng số, gia phả của tư gia vẫn còn được viết bằng chữ hán. Thậm chí ở nhà quê, giấy văn tự văn khế mua bán chủ yếu là bất động sản như nhà cửa ruộng vườn vẫn còn dùng chữ hán, nhiều người vẫn kí tên mình bằng chữ hán trong các giấy tờ. Chính quyền bảo hộ Pháp thấy chữ hán vẫn còn được dân chúng nông thôn dùng khá nhiều nên vẫn phải cho dùng một số ấn bản như sổ thuế, khai sinh, giá thú v.v… bằng hai thứ chữ quốc ngữ và chữ hán (ở thành thị thì dùng ấn bản có hai thứ chữ quốc ngữ và chữ Pháp.)

            Trong đời sống của đại chúng ở nông thôn, lễ giáo tập tục cũ vẫn còn ảnh hưởng mạnh. Cuộc xung đột cũ mới chỉ xẩy ra ở thành thị từ cuối thập niên 20 đầu thập niên 30 cùa thế kỉ XX, nơi thiểu số thanh niên trí thức theo Tây học, đòi hỏi nếp sống tự do cá nhân như các xã hội Tây phương.

            Thật ra phong trào đòi đổi cũ thay mới ở Việt Nam đầu thế kỉ XX ─ lúc ấy là đòi Âu hoá ─ lại không được phát khởi từ lớp trẻ theo tây học, mà lại từ chính các nhà nho! Nhưng là các nhà nho cách mạng. Điều đó có nghĩa là các vị ấy nhằm trước hết vào mục đích chính trị. Ấy là vì sau khi các cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối cùng nhằm giành lại độc lập cho đất nước do các nhà nho lãnh đạo bị thất bại (đại biểu chót là Hoàng Hoa Thám), họ phóng tầm mắt sang các nước láng giềng như Tàu, Nhật thì hiểu ngay nguyên do sâu xa của nạn vong quốc là do tình trạng lạc hậu của dân tộc, nên chuyển hướng tranh đấu từ vũ trang cấp thời sang bất bạo động và cải cách văn hóa xã hội lâu dài. Đó là phong trào duy tân mà đại biểu hăng hái và có uy tín nhất là nhà nho cách mạng Phan Chu Trinh.

            Như vậy suy cho cùng, phong trào đòi duy tân cải cách ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, dù ở các nhà nho cựu học hay ở lớp thanh niên tân học, chỉ là hình thức, còn động cơ sâu xa bên trong chính là ngọn lửa TINH THẦN DÂN TỘC vẫn bùng cháy và nung nấu ý chí đấu tranh giành lại độc lập cho Tổ quốc.

            Để có vũ khí tư tưởng dùng cho công cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc ─ điều này trong trường kì rõ ràng quan trọng hơn súng đạn ─ người Việt Nam chúng ta đã dang tay đón nhận tất cả mọi ý thức hệ ngoại lai. Vị trí một bao lơn trên bờ Thái Bình dương thật cũng quan trọng về mặt chiến lược cho các thế lực quốc tế lúc ấy, mang chiêu bài chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ tranh giành chỗ đứng.

            Lịch sử Việt Nam thế kỉ XX rõ ràng chia làm hai giai đoạn:

  • Nửa đầu (cho đến năm 1945) là cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của người Pháp, trong đó mọi ý thức hệ ngoại lai được hoan nghênh thu nhận để phục vụ cho mục đích trên, và mục đích ấy tạm coi như đã đạt được.
  • Nửa sau là cuộc tranh chấp giữa các thế lực quốc tế mà một số người cầm quyền Việt Nam do mù quáng tin theo chủ nghĩa ngoại lai, không chịu học bài học của tiền nhân kể trên, đã biến dân tộc mình thành nạn nhân của các thế lực bên ngoài mà trước kia mình đã dựa vào để giải phóng dân tộc.

            Cuộc nội chiến đẫm máu diễn ra lâu lắc, rồi sự bế tắc đen tối bao trùm lên cả một đất nước đã từng có lịch sử vẻ vang, khiến ai có chút tâm huyết phải suy nghĩ đến nguyên nhân sâu xa của tình trạng bi đát kéo dài hiện nay mà tìm lối thoát.

            Vấn đề được đặt ra ngay từ sớm và vẫn còn phải được các sử gia sau này giải đáp là:

  • Cuộc chiến Việt Nam hậu bán thế kỉ XX có phải thực chất chỉ là cuộc tranh chấp giữa các thế lực kinh tế quốc tế để giành thị trường?
  • Hay cuộc chiến đó chủ yếu là cuộc đối đầu giữa càc chủ nghĩa quốc tế để tranh giành một vị trí lúc ấy được coi là quan trọng về mặt chiến lược để bành trướng ảnh hưởng ở vùng Đông Nam Á?

            Câu trả lời dễ dàng là CẢ HAI. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy khi xét tới thời gian kéo dài của cuộc chiến (30 năm!) và mức độ khốc liệt gây thiệt hại khổng lồ về người và của ở tất cả các phía liên quan. Phần thiệt hại lớn nhất tất nhiên phải ở về phía người Việt: ngoài số người chết, những tàn phá vật chất khủng khiếp, còn phải kể đến những đổ vỡ về tinh thần mà phải mất nhiều thế hệ sau mới phục hưng được; ấy là giả dụ đất nước sớm có một lớp người lãnh đạo sáng suốt, có tài, có đức, thực lòng vì dân vì nước.

            Xin nêu một tình trạng tiêu biểu: sự sa sút của tinh thần dân tộc, sự phủ nhận mọi giá trị luân lí triết lí đã đem lại tinh thần tôn trọng trật tự và hướng thiện của đại đa số người thời xưa, dù ở vào những giai đoạn xã hội rối ren điên đảo. Trong khi đó thì hệ thống giá trị chân chính mới chưa thành hình nổi, hoặc là những giá trị giả tạo áp đặt không được đại đa số chấp nhận, hoặc là những giá trị đang ở trong giai đoạn vàng thau lẫn lộn, chưa được Việt hoá đủ để thích hợp với tâm hồn Việt.

            Tập sách này được viết ra nhằm mục đích sau đây:

  • Khảo sát lại nền văn hoá Việt với tập I này là từ khởi thuỷ đến trước ảnh hưởng Tây phương, lấy giới hạn là năm 1862, năm triều đình Huế kí hoà ước Nhâm Tuất cắt ba tỉnh miền đông Nam Kì cho Pháp, chủ yếu là xét đến văn hoá tinh thần như chế độ chính trị, luân lí lễ giáo, tập tục xã hội, đời sống tín ngưỡng v.v… xem sự hình thành, tiến triển ra sao, rút ra những đặc tính, và trong chừng mực có thể nêu lên những ưu khuyết điểm kèm với lợi ích và tác hại đã xảy ra trong xã hội.
  • Như vậy đây không phải là một cuốn sử văn hoá hay sử phong tục. Công việc này đã được nhiều học giả nổi danh – Việt Nam cũng như ngoại quốc – làm từ đầu thế kỉ trước. Về phía các tác giả Việt thì hai tác phẩm tiêu biểu là “Việt Nam Phong Tục” của nhà nho Phan Kế Bính và “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương” của học giả tân cựu học Đào Duy Anh với tài liệu dồi dào kể cả sách vở lẫn kinh nghiệm sống, bởi vì các vị ấy là bậc tiền bối, ắt phải sống gần và biết rõ xã hội thời xưa hơn kẻ hậu sinh chúng ta.
  • Nói gọn lại thì mục đích của chúng tôi cũng chỉ đơn giản là “ôn cố tri tân”, nhìn lại con đường tiền nhân ta đã đi qua xem các Người để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quí báu như thế nào: điều dở cũng như điều hay, thất bại cũng như thành công, nhất nhất đều giúp ta trên bước đường tương lai, trong đó ta phải vạch ra được lối đi đúng, hướng tới đời sống an hoà hạnh phúc, kết thúc được những chia rẽ, tranh chấp, xâu xé trong giai đoạn lịch sử bi thảm này của dân tộc.
  • Như vậy thì tập I này chỉ là bước đầu “ôn cố”, bước thứ hai là tìm hiểu giai đoạn giao thời giữa cựu và tân (tập II: sau ảnh hưởng Tây phương) để mở ra dự kiến “tri tân” xem bước đường tương lai phải đi có thể sẽ như thế nào. Riêng mục đích của tập I này (ôn cố) hướng dẫn lối viết của chúng tôi: dù không liệt kê đầy đủ chi tiết như một cuốn sử văn hoá, chúng tôi cũng cố tóm tắt những nét tiêu biểu để cho thế hệ sau có được cái nhìn bao quát về nền văn hoá cũ của tiền nhân, nhất là thấy được cả ưu lẫn khuyết điểm để từ đó rút ra được những bài học bổ ích: thấy cái gì nên giữ, cái gì nên bỏ, cái gì cần phát huy, cái gì cần thay đổi và thay đổi như thế nào cho thích hợp với thời đại mình đang sống.
  • Bởi nhằm vào lớp độc giả hậu sinh nên có những chi tiết chúng tôi nói hơi kĩ ─ cộng thêm những chú thích có khi hơi dài dòng ─ mà lớp người cao tuổi thấy rằng thừa, nhưng khi thế hệ này qua đi, thế hệ sau lớn lên, nếu không được giải thích rõ ràng sẽ không hiểu hoặc hiểu sai. Đó là kinh nghiệm của bản thân chúng tôi đã trải qua khi đọc sách của các bậc tiền bối ─ các vị sống cũng không xa chúng ta nhiều lắm ─ mà đã gặp những từ ngữ, những chi tiết phải tra cứu hoặc tìm hỏi nhiều ông già bà cả ─ không phải ai cũng biết ─ mãi mới suy đoán ra được.

            Tập sách nhỏ này bàn đến một phạm vi quá rộng, tất không thể đào sâu, vừa vì giới hạn của sách, vừa vì giới hạn kiến thức của người viết. Lại thêm hoàn cảnh sống và viết quá eo hẹp khó khăn (thí dụ tài liệu tham khảo quá thiếu thốn) nên thiếu sót và khuyết điểm chắc chắn là có nhiều. Mục đích đề ra thì quá cao (vì phải có mục đích ấy mới có sức thúc đẩy đủ mạnh để cầm bút viết) mà sức người thì có hạn, trở ngại thì nhiều, cho nên chúng tôi chỉ biết lấy tấm lòng thành xin các bậc cao minh chỉ giáo cho những sai lầm, thiếu sót hầu chúng tôi có thể sửa chữa, bổ túc cho lần tái bản.

            Ngoài ra cũng do hoàn cảnh đất nước li tán, chúng tôi không thể xin phép các tác giả (hoặc người thừa kế) cho các đoạn trích dẫn trong sách này. Kính mong quí vị rộng lượng và niệm tình tha thứ cho. Chúng tôi cũng xin ghi nhớ công ơn của những người thân kẻ thuộc gần xa ─ mà vì lí do đặc biệt không thể kể tên ra đây ─ đã trực tiếp hay gián tiếp giúp đỡ chúng tôi để cuốn sách này từ chỗ tối mà ra được ánh sáng.

            Được độc giả đón nhận như một đóng góp nhỏ mọn cho sự tìm hiểu và trân trọng bảo tồn di sản tinh thần của tiền nhân, kẻ cầm bút thiển học này thật lấy làm vạn hạnh.

Dật Lê viên, ngày trăng tròn

tháng Năm chính, năm Canh Ngọ

(07-6-1990)

Soạn giả: Khiếu Đức Long