Lớp Tiếp Liên ở trường Dũng Tiến

Vưu Văn Tâm

Cuối năm lớp bốn, thầy Chương bùi ngùi nói lời chia tay với đám trò nhỏ, cho dù hai lớp chỉ cách nhau một bức tường vôi. Chúng tôi được lên lớp trên và sẽ ít còn dịp gặp thầy vì lớp năm học buổi sáng, lớp bốn của thầy bao giờ cũng vào buổi xế trưa. Mãi về sau này, thầy sẽ không còn dịp kêu đứa học trò mà thầy cưng nhứt lớp chạy ù ra tủ thuốc lá trước tiệm bánh mì Hòa-Mã để mua cho thầy hai điếu Bastos xanh “không cần mồi lửa vì thầy đã có cái Zippo rồi”. Thầy ghé sát bên, vỗ vai tôi và nói với cái giọng Hà-Nội ngọt lịm :

– Lên lớp trên cố gắng mà học cho giỏi, thi đỗ vào trường công cho bố mẹ vui lòng !

Sỉ số học sinh lớp năm quá đông, thầy hiệu trưởng phải chia ra làm hai lớp, một lớp học với cô Sơn, con gái của thầy và lớp kia với các học trò có học lực khá hơn do thầy đảm trách. Để dễ dàng phân biệt, thầy gọi là lớp Tiếp Liên.

Giờ học môn Toán với thầy thật hào hứng. Bao giờ thầy cũng “hâm nóng” không khí cả lớp bằng những mẫu chuyện thật vui thường gặp trong đời sống hằng ngày hay những tháng năm thiếu thời của thầy nơi đất Bắc. Hiệp định Genève chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, thầy cùng gia đình lánh nạn xuống phương Nam để tìm một cuộc sống mới. Thầy dạy môn Toán mà tâm hồn thầy thật ướt át và lãng mạn khi nhắc đến mùa thu ngoài ấy với những cơn mưa phùn cùng với cái lạnh tê tái lòng người. Những bài toán hóc búa là những “đề thi” mà thầy rèn dũa từng ngày cho cả lớp hầu gửi gắm một tương lai tươi sáng cho những mái đầu xanh.

Song song với môn Toán, giờ học Việt văn với thầy Liêm cũng đầy thi vị. Cô Xuân dạy lớp hai và thầy Liêm là hai người gốc miền Nam duy nhất trong mái trường tư thục mang đậm tính chất gia đình “Bắc kỳ” này. Cô Xuân thương yêu và lo lắng cho học trò từng chút một. Thầy Liêm vóc dáng cao ráo nhưng thật gầy. Từ trên bục giảng, bao giờ thầy cũng nhìn bầy trẻ với ánh mắt thật bao dung. Một điểm ở thầy mà tôi nhớ nhiều nhất là đôi mắt luôn đăm chiêu và chưa bao giờ thấy được nụ cười của thầy trong suốt năm học. Gương mặt chữ điền và khá “lạnh” của thầy làm đứa nào cũng “rét” mỗi khi bị gọi lên kiểm tra bài vở cho dù sau giờ học, các trò nhỏ muốn hỏi han gì thêm vẫn được thầy chỉ bảo tận tình.

Một đôi lần sau giờ tan học, tôi thấy thầy đi bộ từ đường Cao Thắng và rẽ ngược hướng đường Phan Đình Phùng, cái đầu óc tò mò của tuổi con nít đã ngấm ngầm nổi dậy. Tôi rủ bé Hạnh, học chung lớp và cũng là lối xóm chơi thân với nhau từ hồi còn nhỏ xíu, lén đi theo sau để biết được nhà thầy. Thầy đi phía trước, hai đứa nhỏ lấp ló đằng sau. Thầy cứ đi mãi miết và không hề ngoảnh lại. Hai đứa còn khoái chí nói với nhau:

– Chắc thầy hỏng thấy tụi mình đâu !

Qua khỏi ngã tư Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, đến Bà Huyện Thanh Quan, rồi Trương Công Định. Hai trò nhỏ mệt đừ vì đói, vì say nắng và nơm nớp lo sợ trễ giờ học buổi chiều ở trường Bàn Cờ. Vừa lấy tay quẹt mồ hôi đang chảy nhễ nhại trên mặt, bé Hạnh vừa thổn thức :

– Xa quá rồi, thôi mình đi dzề nha, trễ giờ đi học cho coi !

Nhìn gương mặt thểu não và vô cùng tội nghiệp đó, tôi cũng xiêu lòng. Hai đứa rảo bước quay ngược về nhà cho kịp giờ cơm trưa.

Giờ học Việt văn hôm sau, thầy bước vào lớp với gương mặt nghiêm nghị và lạnh lùng như băng giá. Thầy không bắt đầu giờ học với việc lật sổ điểm danh và gọi tên học trò để kiểm tra bài vở như mọi khi mà đứng thẳng trên bục gỗ và nhìn thẳng xuống đám trò nhỏ và cất giọng còn “lạnh” hơn gương mặt của thầy :

– Là học trò đến trường phải học hành cho đàng hoàng, tan học phải về nhà đỡ đần cha mẹ những công việc lặt vặt. Tôi không thích mấy em lê la, lêu lỏng ngoài đường rình rập chuyện này, chuyện kia ! Các em phải ráng học để cuối năm còn thi cử với bạn bè !

Cả lớp lo sợ và im phăng phắc vì không rõ chuyện gì đã xảy ra. Riêng chỉ có hai đứa trai, gái ở hai dãy bàn song song len lén nhìn nhau rồi cúi mặt thẹn thùng, xấu hổ.

Bao năm xa nhà, tôi có dịp gặp lại bé Hạnh vào mùa hè năm đó. Cô bạn nhỏ láng giềng ngày thơ, con bé nhà giàu nhứt xóm năm xưa vẫn còn lận đận với một cuộc tình không đoạn kết. Nhà giàu cũng khóc ! Thấy Hạnh, tôi nhớ lại rõ nét cái buổi trưa Sài-Gòn nắng đổ như thiêu đốt và những giọt mồ hôi lăn tăn trên môi, trên má trẻ thơ ngày nào. Thời gian dẫu trôi xa đến mấy nhưng cái tuổi học trò thơ dại vẫn đeo đẳng bên tôi như hình với bóng. Con đò năm xưa vẫn nhớ hoài bến cũ mặc cho nhánh sông quê nhà đã bao năm cát bồi, đá lở.

15.10.2019