Diễn văn thường lệ của Cô Bonnargent – Giáo sư Sử Địa
Phỏng dịch: Lâm Thụy Phong (PK 1964-71)
Lớp bà Bonnargent giáo sư môn Histoire & Geographie (Sử Địa) cho các lớp đệ nhị cấp, không rõ năm (có thể là những năm đầu cho đến giữa thập niên 1950) và lớp, theo Niên trưởng Huỳnh Hạnh (PK 1948-1954) – lớp anh chỉ có 5 nữ sinh. Đây là bức ảnh với nhiều nữ sinh nhứt.
Kính thưa Ông Bộ trưởng,
Kính thưa Ông Chủ Tịch Hội Đồng,
Kính thưa quý ngài,
Các em học sinh thân mến,
Từ vài tháng nay, tôi được chỉ định giảng dạy cho các em môn địa lý. Tôi mong muốn “giảng dạy” đồng nghĩa với ” tạo thích thú”.
Những bài học quá dài với các em, quá ngắn với tôi, hiển nhiên đã không cho phép tôi đạt được mong muốn đó. Hôm nay, mùa tan trường, dịp nghỉ dưỡng cho một số các em, mà trong suốt năm học dài, đã chứng tỏ là những người làm việc miệt mài, kiên trì, tôi muốn hướng dẫn các em đến với những mảnh đời lao động khác, tuyệt đối hơn.
Tôi sẽ lấy tự do để kết nối trước các em, với cùng một tôn kính, hai thế giới canh tác, chia cách nhau bởi không gian, tôn giáo, nền văn minh, nhưng với kiên trì của cố gắng, hai bộ mặt nhơn loại chuyên tâm lao động, bằng cố gắng cố định, bảo đảm nguồn cung cấp thực phẩm thường nhựt. “Bánh mì hằng ngày”, là chén cơm cuả người nông dân Viễn Đông, tôi xin mạn phép nói đến, hầu như tôi không thấu đáo nhiều, vì mới nhập cư tại Việt Nam; là chùm chà là của người cư dân sa mạc Sahara ít di động, mà tôi am tường hơn nhiều.
Hôm nay, bỏ qua tất cả tình trạng kinh tế, xã hội trong nếp sống của họ, tôi chỉ nhấn mạnh, để chỉ các em rõ hơn, tính kiên trì của lao động cực khổ, và tinh thần kiên định của nhà nông hay cư dân tại các ốc đảo. Như là một khích lệ cho các em, ai biết được?, trong năm sau.
Tôi thử đề cập đến dân cư đông đúc như tổ kiến vùng đồng bằng Viễn Đông, và vài ngàn người Sahara sống rải rác trong sa mạc rộng nhứt thế giới.
Để đến El Golea, ốc đảo đẹp thu hút nhứt ở phía Nam, cách Alger một ngày đường, tới Laghouat, các em bỏ con đường, theo lối mòn, qua cao nguyên sỏi đá, và đoạn thứ hai đưa các em đến Shardaia, thánh địa của Mzab; một chặng đường khác đi qua hơn 300km cồn cát, xe nhiều lần bị lún, và từ đó, rời thế giới khoáng sản, gặp một nhóm cây chà là xanh tươi, bắt đầu từ tháng tư, tỏa mùi hương bông hồng đón chờ các em. Vườn chà là trải dài tới chưn của làng pháo đài cổ xưa Ksar, đã bị bỏ hoang từ khi người Pháp đến thiết lập hòa bình, để từ đó, không còn cần phòng thủ chống lại dân du mục tấn công – Thành cổ thiết kế gồm một “gara” đơn độc, với “casbah” bao bọc bởi ba bức tường tròn đồng tâm. Sự đồ sộ làm tương phản với sa mạc và khi nhìn thấy, sẽ làm các em ngạc nhiên.
Cùng một cảm giác kinh ngạc đó, khi các em rời khu rừng thưa ở Lào, chỉ thấy chân trời duy nhứt qua cả ngàn cây số, đi trong vài ngày – vì đoàn công-voa chậm chạp – các em tiến sâu vào ruộng lúa Cam-Bốt.
Khắp nơi, bất cứ lúc nào trong năm, những nông dân, người lớn và trẻ em, lo việc đồng áng, còng lưng trên mảnh đất ủng nước, nơi trâu trầm mình tắm bùn, làng mạc che khuất sau các tàng cây. Nhu thế, toàn cảnh dành tặng cho các em với điểm nổi bật nhứt là sự hiện diện của con người cùng công trình của họ.
Nơi đây, từ bao ngàn năm, mỗi tất đất được bươi móc, cuốc xới bởi người nông dân, mỗi cái ao được đào, mỗi cái đê được nâng lên, bởi duy nhứt bằng bàn tay nhẫn nại của họ.
Người nông dân này, trong nền văn minh xưa, được thừa nhận đứng hàng thứ hai, bên Nhựt, sau giới thượng lưu quyền quí; và sau sĩ phu trí thức bên Tàu, mỗi năm Con Trời phải làm tròn bổn phận nghi thức về điền địa.
Trong mười thế kỷ, từ Trung Hoa cho tới Cam -Bốt, ruộng đã được canh tác, không ngừng, mỗi năm từ một đến nhiều vụ mùa. Trồng trọt chủ yếu là việc nhà nông. Bên cạnh lúa gạo là ngũ cốc, rau cải, trái cây chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Đó là vì trong môi trường người nông dân sở hữu đất đai không nhiều mang giá trị dinh dưỡng cao …
Người ta ước tính ruộng chiếm 30 triệu héc -ta, sản xuất 70 triệu tấn thóc. Gạo, ngoài các lợi điểm khác, cho năng suất rất cao, trên những thửa đất tầm thường, không cần nhiều phân bón, trong thời gian canh tác tương đối ngắn, cho phép được nhân lên số vụ mùa trên cùng một thửa ruộng; hơn thế , thóc được tích trữ rất tốt.
Tính ưu việt cuả nghề trồng lúa ở Viễn Đông giống như ngành trồng chà là, cau dừa trong các ốc đảo Sahara. Nền văn minh Hồi giáo và Trung Hoa không dành cho nông nghiệp một vị thế như nhau, vì Đấng Tiên Tri biểu dương sự khinh mạn tự kiêu đối với cái cầy. Nhưng, dù cây chà mang tính thiêng liêng nào đó, theo truyền thuyết Ả-Rạp,Chúa nhào nặn ra con người, với đất còn sót lại trên các ngón tay, Ngài tạo ra thân cây chà là. Mỗi mùa trồng trọt, giao phối, gặt hái là dịp lễ lộc, nguyện cầu.
Cây cau dừa, chà là, đặc thù của dân địa phương – cùng với lúa mạch nhập từ phương bắc, dùng làm vật liệu cơ bản cho nhiều thực dụng khác nhau – như tre có thân làm gỗ, lá dùng làm giỏ, gai để chải len. Một cách gián tiếp, bóng mát của chà là giúp che nắng cho các nơi trồng trọt cây ăn trái, ngũ cốc, rau quả, và nói chung, cho một ốc đảo tươi tốt được tưới nước thật đầy đủ, với ba tầng thực vật: chà là phía trên, dưới là mơ, mận đỏ và thấp hơn hết là rau, cà tô-mát, dưa leo, đậu que …
Ở nơi trồng chà là, cũng như vùng trồng lúa, thủy lợi đóng vai trò to lớn, đòi hỏi nhiều công sức và mồ hôi.
Các công trình do con người thực hiện, không thể tồn tại khi không có nước, và nếu, nơi ruộng đồng, tưới nước làm mất nhiều thời gian, thì, tại các ốc đảo, đó thật sự là cả một vấn đề, giải quyết thường bằng một cố gắng siêu nhơn.
Người nông dân Viễn Đông lấy nước từ trong những ao, vũng, dùng sức lao động nhọc nhằn tưới mùa màng. Thao tác gầu sòng nhiêu khê, nhọc sức; với gầu dây, gàu giỏ không kém khó khăn.
Tuy nhiên, tôi dám nói ở Sahara, nước là công tác lao động nhọc nhằn hơn nhiều .
Nơi đó, nước thiếu ở tầng địa chất phía trên, do đó phải tìm nước ở các tầng nước ngầm. Tại Mzab, các khu vực trồng chà là trong các khe núi, lõm vào những vùng đồi núi cao sỏi đá, là chỗ tu luyện cho các giáo phái đạo Hồi, cô lập để tìm bình yên trong đạo pháp, tóm tắt được tất cả công tác thủy lợi để dẫn nước vào các ốc đảo.
Trong các vườn tược, những cái giếng sâu từ 40 đến 70 thước đào trong đất vôi, tiếng rít của giếng nước bao bởi thành giếng có cốt lõi kim loại là những âm thanh quen thuộc. “Delou” -gầu hứng nước giếng, bọc da dê, kéo lên bởi một sợi dây do lừa kéo, phi nước kiệu, dưới sự điều khiển của người, phải chạy một đoạn đường bằng chiều sâu của giếng nước.
Một hệ thống dẫn nước khéo léo, mở ra từ thượng nguồn, nước giếng chảy vào các kênh tưới cây.
Để giảm sức lao động, đường dẫn nước được thiết kế nghiêng, và từ lúc mặt trời lên, người và vật đi lại trên những con đường lót đá không bằng nhau.
Ở Souf, vùng phía Tây Erg, các ốc đảo giữa sa mạc, chung quanh El Oued, là các vườn tược nằm dưới mặt đất. Nơi đây, không còn là dẫn nước đến các vườn chà là, mà đem chà là đến với nước. Để thực hiện, người ta đào trong cát những cái phểu sâu từ 7 đến 12 m, và trồng các nhóm 10 đến 20 cây chà là. Chỉ có ngọn cây trồi lên khỏi cồn cát.
Cát khô di động và như thế, các phểu được lấp kín nhanh chóng. Khu vườn sẽ chốc lát bị vùi lấp, nếu ngọn gió soufa không ngừng dồn cát đến bờ kè dốc đứng. Nó làm đầy giỏ nôi, đổ dưới chưn những cây chà là tạo thành một bức chắn nhỏ chống cát lấp. Người nhà giàu may mắn bnuôi lừa, chỉ một chuyến, chở được hai giỏ nô .
Trong các ốc đảo đào giếng theo nguyên lý vật lý-địa chất thông thường (artesien), công trình thủy lợi đòi hỏi ít lao công, nhưng việc đào giếng, vừa khó khăn và nguy hiểm hơn.
Từ nhiều thế kỷ qua, tập đoàn “cá mập” (Rhetassa) dành độc quyền trong lãnh vực này cho đến khi các kỹ sư người Pháp đến.
Một cái hố lớn trong thượng tầng đất mềm, những công nhân leo xuống bằng dây, đào với cuốc. Đất đào chứa trong chiếc gầu kéo lên bằng dây. Khi đạt tới lớp đất bao phủ tầng “nước giếng”, người ta thiết kế cốp-pha vuông bằng thân cây chà là, với “gion” bằng đất sét. Tiếp theo, người thợ chánh dùng cây “len” bổ vào đường nước phun ra thật mạnh cùng với cát, có nguy cơ làm người thợ chết đuối. Cốp pha có sức chịu đựng yếu, đôi khi dẫn đến đất sụp hay cát lở. Lúc đó ,là công việc của các thợ lặn sửa chữa thiệt hại. Do di truyền và luyện tập dần dần, họ xuống nước ở độ sâu từ 30, 40 m và có thể lặn trong nhiều phút.
Công việc của họ là đổ đầy cát 4 thùng, mỗi thùng 10 lít. Mỗi ngày 4 chuyến lên xuống.
Ở Gourara, Touat, Tidikelt, giải pháp can trường nhứt để có nước là Gourara: đường bắt và dẫn nước. Nó cho phép lấy nước từ nguồn nước ngầm Tademait hấp thụ nước mưa và thải ra các khu chung quanh bằng hệ thống cống dẫn đến các ốc đảo phía dưới.
Để vẽ đường kênh ngầm này, phải đào các giếng cách nhau từ 10 đến 15 m cho phép đào ngang những hành lang sâu đến 60, 70 m mà con người chỉ có thể cong lưng di chuyển. Công tác to lớn ở Touat tổng cộng dài 2.500 km. Ông Monod có thể tuyên bố rằng hệ thống đường hầm xe điện ngầm không bằng máy đào với ba dụng cụ thuộc của Sahara là: nô lệ , len cuốc , nôi giỏ tải đất.
Vài thí dụ này chỉ cho các em thấy lao động vất vả trong mỗi khắc, việc làm duy nhứt do con người không có bất cứ trợ giúp nào của công cụ hay vật lực, cùng phẩm chất khéo léo thật đáng đề cao.
Phẩm chất đó, người nông dân Viễn Đông không hề thua kém với dân sa mạc Sahara. Không có sắt để làm nông cụ, họ biết vận dụng tối đa đặc điểm của tre để làm đòn gánh, hàng rào, chông, giỏ vạn dạng. Không có máy móc tối tân, cây cày, cái bừa, cuốc, xẻng, liềm, phản, được xử dụng tiện việc đồng áng tỉ mỉ, căng thẳng.
Ở Bắc kỳ, vùng duyên hải phù sa mới và mịn, để tơi xới đất hoàn hảo, mùa cày tháng 11, sông đã khô, đất được xới lên, đấp thành mô thấp, sau đó, làm mịn bằng vồ, dùng để cày cấy.
Khi mùa đông không mưa, các mô đất không bị xụp bởi giông tố, phụ thu từ những mô đất đó là 40p100.
Trường hợp nầy không phải duy nhứt đất ruộng không bị “đạp” mà không cần giúp đỡ của vật. Mọi nơi, con trâu, dầu chủ yếu dành cho việc cầy bừa, không được xử dụng tối đa. Con vật làm việc cần phải nuôi dưỡng. Các cánh đồng của thôn quê Viễn Đông cung cấp một phần rất ít cỏ. Một phần lương thực cho người, gạo và các loại hột, phải dành cho trâu tại các vùng ít đồng cỏ, nông dân thích để trâu nghỉ ngơi.
Thu hoạch phân bón tỉ mỉ, rất quan trọng cho đất không bao giờ để không trồng trọt. Thông thường bùn sình tích tụ dưới đáy ao, sông, kênh được móc lên và chuyển bằng tay trải trên mặt ruộng. Người ta nhắc đến các nông dân Tche-Kiang cào đất ruộng, đổ vào các con kinh và sau đó thu lại với các thành tố phân bón màu mỡ.
Thật khổ nhọc biết chừng nào việc cấy mạ!
Mỗi ngày, 10 giờ liên tục, còng lưng dưới nước ruộng như tấm gương chói ánh mặt trời, chân bị đỉa hút, cắm từng bó mạ trong bùn. Chúng ta hãy quan sát công việc đồng áng suốt năm tháng ở đồng bằng Bắc Kì , các em sẽ bày tỏ thế nào trước sự bền bĩ can trường của người nông dân: một tháng tương đối được nghỉ ngơi, tháng hai, tháng của Tết Âm lịch!
Mùa gặt lúa quan trọng nhứt phải thực hiện gấp trong cuối tháng 11, tiếp theo là tháng Chạp, lo cấy “lúa tháng năm”, trên đất thấp. Ruộng đất khô, cày và trồng kết hợp thầu dầu, khoai và đậu. Tháng Giêng, gieo hột, đào khoai.
Tháng ba, nhổ cỏ bằng tay. Bón phân gốc mạ, kiểm soát bờ đê, bắt đầu hái đậu. Sửa soạn trồng khoai mì.
Tháng tư, nhổ cỏ lần thứ hai và tưới lúa đang trổ bông.
Tháng năm, lại cbày và bừa cho “lúa tháng mười”. Sửa soạn cây giống, gặt lúa mới, cấy gạo “ba trăng”, cuối mùa thu hoạch đậu, kê, thầu dầu. Tháng 6, tháng 7, lao động cật lực, thu hoạch ” lúa tháng 5 ” trước mùa mưa. Khoai trồng từ tháng 3, bông gòn, bắp ngô. Mè bẻ để gieo, lúa tháng 10 cấy lại và tưới nước.
Tháng 9 trở về công việc của tháng 3. Tháng 10, mùa thu hoạch mới trên vùng đất cao. Đốn mía, trồng khoai.
Tháng 11, các vụ mùa thu hoạch trong điều kiện ít cực nhọc hơn trên những thửa ruộng khô. Nóng bức bớt đi, không còn nguy cơ bảo tố, lủ lụt.
Ruộng vườn thay đổi theo mùa, người nông dân nghỉ ngơi ít, cong lưng canh tác.
Canh tác tại các ốc đảo cũng căng thẳng trong một không gian hưởng nhiều ưu đãi, được tính toán tỉ mỉ, mà người dân sa mạc, với cái bừa, xẻng đem lại năng xuất tối đa.
Ở đây cũng vậy, tưới tiêu đưa nước vào và thoát nước là một công tác lao khó đem lại hoa lại cho người khai thác chà là. Việc trồng trọt tế nhị, dùng “cây con” (djebar) để chiết trồng. Để thụ phấn, người nông dân phải leo lên cây nhiều lần, và để hái trái, cũng lại phải leo, thường là vào tháng 10.
Công việc đồng áng mà mục là bán được bằng mọi giá, mọi người đều nghèo.
Dân ở đồng bằng không cho cảm tưởng thoải mái: sở hữu những mảnh ruộng kế nhau bị cắt nhỏ, tỉ số nông dân vượt trội tạo họ thành vô sản, và nếu sản phẩm tạo ra đem lại cho họ một phần thật nhỏ trong cuộc sống, càng yếu kém hơn vì thuế khóa, bất ổn dân sự, vay mượn nặng lãi.
Còn những người da đen ở Sahara (haratins) chỉ được hưởng 1/5 số huê lợi mà chủ nhơn là dân du mục sẽ trở về hái chà là.
Họ chịu áp lực giữa chế độ chuyên chế hiếu chiến hay tầng lớp thượng lưu tôn giáo, “cheurfa”, hậu duệ của đấng tiên tri, hay “mrabins” thuộc giòng dõi các nhân vật thần thánh.
Họ không tự do trước khi có hòa bình thiết lập bởi người Pháp, bởi vì ốc đảo luôn sống trong nỗi lo sợ cướp bóc , “razzias”, giữa các phe nhóm khác nhau.
Cuộc sống của họ lập lại tất cả mọi cố gắng, là bài học và là thí dụ cho các em.
Bài học: năng khiếu lao động cùng sự khôn khéo để đạt được mục đích, đồng ruộng thu vén gọn gàng cho một thu hoạch thật sung túc, hay một vườn chà là xanh tốt dùng để xuất khẩu, “deglet nour”.
Thí dụ , cho các em thấy “cố gắng của con người” ra sao trong những điều kiện vô cùng khó khăn, tại các ốc đảo sa mạc cằn cỗi nhứt hay tại các đồng ruộng Viễn Đông trở thành trù phú.
Các em phải nằm lòng bài học đó, noi theo thí dụ đó, miệt mài đèn sách, như trong một tôn giáo cố gắng phổ quát, tạo cho mỗi chúng ta đầy sáng tạo. Các em là những nhơn vật sáng tạo, sinh lực của đất nước trẻ trung của các em.







