Kép Bảy Đợi

Vưu Văn Tâm

Mái tranh xiêu vẹo nằm trơ trọi bên con lạch nhỏ đón nhận những tia nắng chiều vàng vọt, yếu ớt. Buổi chiều xuống mênh mang. Đi thêm dăm bước nữa và nhìn vào bên trong, người ta thấy được cái giường tre cũ kỹ dựng sát vách trong cái chòi nhỏ xíu, trống hoang. Ngoài ra không thể tìm thấy một món đồ nào có giá trị hơn nữa giữa cái không gian bốn bề phên che không kín gió đó. Phía sau nhà, gốc mận cằn cỗi cũng trơ mấy nhánh cây khẳng khiu, trụi lá. Chủ nhân là ông Bảy Đợi gầy còm với đôi mắt khi tỏ, khi mờ như ánh đèn leo lét giữa đêm hôm mưa gió. Ngày còn mạnh giỏi, ông lên rừng lấy củi về bán lại cho bà con để đổi lấy chén cơm, manh áo. Cơn bệnh ngặt nghèo cướp đi nguồn ánh sáng và sức lực ông cũng tiêu hao theo tháng năm mòn mỏi. Chòm xóm thương tình đã góp công dựng tạm cho ông cái chòi lá này để đục nắng, che mưa. Kẻ xa, người gần thường tạt qua cho một ít lương thực để ông có thể sống lây lất qua ngày, đoạn tháng.

Nghe cô bác lớn tuổi kể lại ngày xưa ông Bảy cũng có một thời lừng lẫy. Mấy chục năm trước, ông là kép chánh cho một gánh hát cải lương đại ban ở đất Sài-Gòn. Với gương mặt điển trai, sáng rực dưới ánh đèn sân khấu và giọng ca mỗi khi cất lên “như chuông vàng ngân trên điện thánh” đã làm mê say biết bao con tim phụ nữ cũng như khán giả ái mộ. Lúc được thời, ông còn làm bầu một gánh hát lớn nhất nhì thủ đô. Tiếc thay, ông có tài nhưng lại kém đức. Ông thích nghe những lời phỉnh nịnh và tỏ vẻ khó chịu khi khán giả hay báo chí góp ý hoặc phê bình. Ông chìu theo thị hiếu dễ dãi của khán giả để nhận được những tràng pháo tay giòn giã như pháo tết hay bỗng lộc kết sù đến từ một số khán giả lắm tiền, nhiều của, thích lấn quyền để thao túng sân khấu. Cải lương thoái trào vì nghệ thuật dần bị mai một bởi những vở tuồng có nội dung vô vị và thiếu thẩm mỹ.

Chẳng những ông quên đi những người từng đỡ nâng mình thuở mới chập chững vào nghề mà còn quay lại mạt sát, ức hiếp khi họ bị sa cơ, thất thế. Ông bỏ bê gia đình và lao vào những cuộc truy hoan như con thiêu thân quên ngày, quên tháng. Hiếm khi ông vắng mặt ở những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng hay bên bàn đèn bấc lụn dầu hao.

Vì muốn sớm nổi danh, mấy cô đào trẻ đã tranh thủ lấy lòng ông để mong hưởng được chút ơn mưa móc. Tánh tình háo sắc, mê thói trăng hoa nên ông đã hết sức “rộng lượng” và mở lòng đón nhận những bông hoa xinh tươi như mộng. Quá chán chê, vợ con ông lặng lẽ bồng bế ra đi và không hẹn ngày về.

Ngày nọ, một trận hỏa hoạn thiêu rụi gánh hát. Đào kép vội vã gom góp tư trang, rương tráp và ai nấy đều lo chạy thoát thân. Ông thiếp đi trong hơi men chếnh choáng mặc tình cho ngọn lửa tiếp tục lan rộng. Mấy cậu em hậu đài không ngại hiểm nguy đã cứu ông thoát khỏi cơn lửa hồng. Một nửa gương mặt ông bị cháy xém. Gánh hát rã tan, bao nhiêu của tiền bỗng chốc hóa tro than. Năm tháng đã dạt trôi ông về tận đất này với thân hình tàn phế và độ nhật với sức tàn hơi kiệt.

Tuổi già với bao bệnh tật đeo mang, cái chết đang đến thật gần và dường như cái sống ông cũng không màng đến nữa. Đôi lúc, ông bùi ngùi nghĩ đến cái dĩ vãng ngày xưa khi còn được tung tăng dưới ánh ảo đăng trăm sắc. Nghề hát đã cho ông quá nhiều những vinh quang như ông hoàng, bà chúa vậy mà ông đã sống bạc bẽo, không tròn được chữ nghĩa, chữ tình. “Nếu mùa xuân đã vay huyết mạch của sông dài, biển rộng thì khi sang thu trời đất cũng trả lại mưa dầm” (*) .. Câu ca ngày nào được ông hát vang vọng nơi hí trường sang trọng cũng như trên bước đường lưu diễn thì cũng chính ông không hề hiểu biết được sự tuần hoàn vũ trụ hay định luật của đất trời. Tuồng đã vãng, màn nhung đã khép, gần hết một kiếp người ông mới ngộ ra, thì ra sau ánh hào quang của sân khấu là hào chôn nhân nghĩa và chôn luôn cả tuổi tên của một đời gạo chợ, nước sông.

01.11.2020

(*) “Giữa chốn bụi hồng”, soạn giả Hoa Phượng