Chương 27

Phát Huy Tinh Thần Petrus Ký: Một Quốc Sách Giáo Dục

Phạm Hồng Đảnh

(Bài viết được trích từ Đặc San Petrus Ký 2000 do Hội Ái Hữu Petrus Ký Nam Cali thực hiện).

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

Hien tuong TVK 09

1. Một Niềm Tin Tưởng và Hãnh Diện Vô Biên.

Nhìn lại cuộc đời của ông Petrus Ký chúng ta thấy rõ các quy định của Khổng Giáo được áp dụng chặt chẽ từng bước một vào đời sống của ông.

1.1. Tin Tưởng và Hãnh Diện về đời sống, sở học, tư tưởng và sự nghiệp của danh nhân Petrus Ký.

1.1.1. Tu thân – Ấu nhi học. Trách nhiệm với bản thân.

Mồ côi cha ăn cơm với cá (Lại thêm được đi học!)

Mồ côi mẹ lót lá mà nằm.

Là người gốc Cái Mơn, Tổng Mỹ Lệ, Huyện Tân Minh, Tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre) Miền Tây Nam Việt.

Bà Nguyễn Thị Châu, góa phụ của lãnh binh Trương Chánh Thi, sứ thần Việt Nam ở Cao Miên, đã gởi cậu bé Trương Vĩnh Ký theo anh đi học với ông giáo Học trong làng để bà có thì giờ làm việc kiếm tiền nuôi con. (Lãnh Binh liêm chính nên nhà nghèo!).

Lúc nhỏ đã ham học, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Ký đã thuộc lòng Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Lên 11 tưổi đã thuộc lòng Tứ thư, Ngũ Kinh, học chữ quốc ngữ. Từ 13 tuổi đến 21 tuổi, trong không khí thánh thiện của chủng viện Thiên Chúa Giáo ở Poulo Pénang (Mã Lai), Petrus Ký chỉ biết học là học.

Ông dùng hết thì giờ để học “gạo”: học đạo, học chữ La tinh, học nhiều sinh ngữ với các bạn trong viện. Đặc biệt nhất, ông học tiếng Pháp qua chữ La tinh. Là học sinh xuất sắc nhất của viện, trong một kỳ thi luận văn bằng tiếng La Tinh Petrus Ký được giải thưởng hạng nhất 100 bảng Anh của viên Thống Đốc người Anh. Sự thâm hiểu tiếng Pháp và căn bản Nho Học đã có một ảnh hưởng thật sâu đậm vào đời ông.

1.1.2. Tráng nhi hành, Tam thập nhi lập, Tứ thập bất cập, Ngũ thập tri thiên mạng.

(Lớn lên con phải hành động, 30 tuổi con phải lập gia đình sự nghiệp, công danh, 40 tuổi trễ rồi, không còn kịp nữa, 50 tuổi biết số trời đã định không còn thay đổi được nữa.)

Năm 21 tuổi, mang nặng chữ Hiếu ông về nước thọ tang mẹ (1858), lúc hải quân Pháp, Tây Ban Nha đánh phá Cửa Hàn.

Qua hai giai đoạn Tu thân và Tề gia rất đúng thời gian và đầy đủ. Trong các giai đoạn Tu Thân (học tập, rèn luyện tài đức, ý chí, sức khỏe để chuẩn bị cho một cuộc sống thành công), và Tề gia ông phát triển tới mức tối đa tài đức để bước qua giai đoạn Trị quốc (nghĩ tới việc nước, làm việc hữu ích cho quốc gia dân tộc, làm việc xã hội, giúp đời) một cách thành công mỹ mãn. Lãnh việc nước, ông gia nhập phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp để chuộc ba tỉnh Miền Đông và viếng các nước Âu Châu (1863). Sự kiện ông quá giỏi tiếng Pháp đã làm cho Hoàng Đế Napoléon III và cả triều đình Pháp ngạc nhiên. Trong các cuộc tiếp xúc, tài năng của ông đã khiến cho giới đại trí thức Pháp nể phục (Victor Hugo, Littré, Duruy, Paul Bert, Ernest Renan…). Ông được liệt vào danh sách “Dix-huit Sommités Culturelles et Scientifiques du Monde” (1873-1874). (18 Nhà Văn Hóa và Khoa Học Gia đứng đầu trên thế giới).

Là người Việt Nam đầu tiên được may mắn viếng thăm nhiều quốc gia Đông Nam Á và Âu Châu. Có được cái nhìn bình thiên hạ”, am hiểu tình hình thế giới (các nước Âu Châu đua nhau tìm thuộc địa ở Á Châu) ông biết rõ ý đồ thôn tính Việt Nam của Pháp. Có tài được sung vào Cơ Mật Viện, ông thông suốt tình hình quốc gia, hoàn cảnh đất nước. Từng chứng kiến các tiến bộ kỹ thuật, văn minh, khoa học Âu Tây, ông sáng suốt “tri thiên mạng”. Biết rõ số phận dân tộc Việt Nam còn quá chậm tiến, ông thận trọng vạch ra đường lối cho hành động của mình để không bị nguy hiễm, đường lối thuận lợi cho quốc gia dân tộc, giáo dục giới trẻ Việt Nam, ông đặt tin tưởng mãnh liệt vào họ.

Trong thời kỳ sơ khai của nền văn hoc chữ quốc ngữ, công trình văn hóa của ông thật là vĩ đại với hơn 118 tác phẩm: Bảo tồn văn hóa, dịch thuật và chú thích sách chữ Nho, Chữ Nôm, sách Pháp, làm chủ bút Gia Định Báo (1869-1972), viết sách để truyền bá quốc ngữ, dạy học trò, hy sinh tài sản in sách để phổ biến trong khắp dân gian đến mắc nợ, đam mê làm việc đến quên chăm sóc sức khỏe thường hay đau yếu.

Với lòng nhân và tình thương dân tộc bao la như trời biển, ông Petrus Ký dường như muốn ôm tất cả người Việt chúng ta vào lòng! Tất cả cho dân tộc, cho các thế hệ tương lai! Ông Petrus Ký đã thấu triệt tôn chỉ nhà giáo: “Hết lòng dạy cho tuổi trẻ tài giỏi hơn thế hệ hiện tại. Là tương lai đất nước, tuổi trẻ sẽ làm được những gì mà các thế hệ đã qua không làm được. Hậu sanh khả úy! Toàn dân đặt tất cả tin tưởng vào thanh niên Việt Nam.” Trong lời nói đầu của quyển “Bài giảng về Lịch sử An Nam”, Ông Petrus Ký đã viết:

Cho học trò các trường đất Nam Kỳ,

Ớ các trò trai, ta xin hiến sách nầy cho các trò… vì làm ra nó là làm cho các trò coi… Đến sau khi anh em đã thành tài, biết bắt biết hạch được thì hãy dung thứ cho các lớp trước anh em vì những kẻ ấy chẳng có được các phương tiện mà học hành như anh em bây giờ.”

Tại Chợ Quán, ngày 25 tháng 02, 1875

P.J.B. Trương Vĩnh Ký

Petrus Ký sáng suốt thấy rõ hố sâu chia rẽ các thế hệ, vấn đề chuyển tiếp thế hệ rất nhiêu khê nên ông cố gắng dạy lớp trẻ thông cảm với thế hệ già để đoàn kết kiên nhẫn hợp sức lo cho dân tộc, đất nước.

Tất cả cho giới trẻ. Mọi hành động cử chỉ, cách ăn mặc của ông đều ngụ ý dạy tuổi trẻ tinh thần hiên ngang bất khuất “sic vos non vobis” ở với họ mà không theo họ= ở với Tây (làm việc với Tây) mà không theo Tây.

Tượng bán thân nghiêm trang đặt ở giữa sân trường Petrus Ký chúng ta, tượng toàn thân bằng đồng hiên ngang uy nghi trước dinh Độc Lập đều do thân hào nhân sĩ Miền Nam quyên tiền thực hiện như có một giá trị huyền thoại. Chỉ nhìn kỹ bức tượng của Người, tuổi trẻ và đồng bào Miền Nam lấy ra được nhiều bài học quí giá. Y phục thuần túy Việt Nam, áo dài, khăn đống, như muôn đời nhăc nhỡ người Việt phải luôn luôn giữ quốc hồn quốc túy, phải cố gắng tự học để vương lên mạnh.

Quốc phục khác biệt với đồ “Tây” như thầm bảo: “Nước ta đang bị nhục Tây cai trị đó, phải bất khuất vùng lên!” Một ngực huy chương các nước phong tặng, vua Đồng Khánh phong tặng như nói lên: “Dân Nam Việt không thua bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Người dân Việt phải làm rạng danh đất nước, nòi giống Việt”.

Ông Petrus Ký theo học các trường đạo, chịu ơn giáo hội Thiên Chúa Giáo nhưng không theo đường lối Giáo Hội vạch ra là “làm Linh Mục”, ông không bao giờ giảng đạo hay tuyên truyền cho Thiên Chúa Giáo, tuy nhiên, ông không bao giờ phản lại Giáo Hội. Đối với ông, Đạo và Đời là hai lãnh vực riêng biệt. Ông luôn luôn đi sát với đời, phục vụ dân tộc.

Lúc tả ngạn sông Cửu Long bị Thái Lan xâm lấn, Triều Đình Huế bó tay vì Pháp nắm hết quyền chánh trị và quân sự, ông đã yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải bảo vệ và duy trì quyền lợi của Việt Nam. Sau đây là bài dịch bức thơ ông Petrus Ký gởi cho Ông Navelle, Tổng Lý, Quyền Trợ Lý Khâm Mạng Toàn Quyền Pháp:

Saigòn, ngày 12 tháng 5 năm 1888

Kính gởi Ngài Navelle, Tổng Lý, Quyền Trợ Lý Khâm Mạng Toàn Quyền,

Tôi hân hạnh xin Ngài lưu tâm về một vấn đền quan trọng trong lúc nầy. Đó là quyền của nước An Nam trên lưu vực sông Cửu Long [tả ngạn}. Hiện nay những quyền này là quyền của nước Pháp, đại diện ngoại giao cho Việt Nam, chiếu theo Hòa Ước 1884.

Chính Phủ Xiêm La đã lợi dụng lúc chính phủ nước Nam bận rộn trong nước ở phía đông, chểnh mảng ở phía tây để bắt đầu cuộc xâm lấn ở tả ngạn sông Cửu Long.

Theo ý kiến vụng về của tôi thì nên cử ngay một ủy ban ấn định biên giới bởi vì không có một sự ấn định ranh giới rõ rệt nào đã được thực hiện. Nước Pháp chỉ cần thúc đẩy Quốc Vương và Triều Đình Huế gởi người đòi tam niên cống phẩm nơi các thuộc xứ: Luang Prabang, Vieng Chan, Thụy Xa.v.v… và chiêm lại các đồn lũy cũ vô điều kiện. Nếu người ta cung cấp vũ khí cho người nước Nam, họ sẽ tống xuất những kẻ xâm lấn không chút khó khăn.

Trong trường hợp có thể Xiêm La yêu cầu giải thích hoặc trình bày nhận xét thì trong khi chiếm nước, người ta có thể chấp nhận cho họ những cuộc hội nghị, ở đó sẽ không khó để khéo léo chứng tỏ cho họ rằng nước Nam không bao giờ chối bỏ quyền của mình trên tả ngạn sông Cửu Long.

Thưa ngài Khâm Mạng Toàn Quyền, đó là những điều tin tưởng chắc chắn mà kinh nghiệm từ lâu đã cho tôi biết về các xứ nầy…

P. Trương Vĩnh Ký.

(P. Ký Tân Văn Hồng dịch)

Nhiều lần ông yêu cầu Toàn Quyền Paul Bert thi hành linh động và uyển chuyển các Hòa Ước Pháp đã ký với Việt Nam để có lợi cho Việt Nam. Điều này đã làm cho Pháp nghi ngờ ông và về sau ông bị Pháp thất sủng. Ông Petrus Ký đã thấy rõ và không muốn làm việc với Pháp nữa. Lúc từ biệt vua Đồng Khánh, ông được vua phong hiệu là Nam Trung Ẩn Sĩ. Phó Toàn Quyền Paulin Vial nghi kỵ ông, không trả lương và cho ông nghỉ việc sau khi ông Petrus Ký xin thôi việc ở Cơ Mật Viện.

Chánh quyền Pháp ở Đông Dương đã ba lần viết thư mời Ông vào quốc tịch Pháp, nhưng Ông đều từ chối. Ông khẳng định thế đứng của Ông trong thư trả lời cho Pène Siefert: “… Một khi nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất tất cả uy tín, tất cả ảnh hưởng, sẽ không còn sự tín nhiệm của Vua, của Triều Đình và của dân tộc tôi…”. Khi môn đệ hỏi thăm Ông về việc vào dân Pháp, Ông trả lời: “Nếu mình vào bộ dân Lang Sa, thời mất bộ dân An Nam còn gì? Vã bộ dân An-Nam xấu lắm sao?” và Ông nhất quyết không vô dân Tây! Điều nầy cũng làm cho Pháp nghi kỵ và bản thân Ông cũng mất nhiều quyền lợi. Ông Petrus Ký là một nhà ái quốc, biết rõ và binh vực quyền lợi đất nước, trung với Vua hết lòng lo cho dân.

Các hành động trên đây giúp ta thấy rõ một số người hoàn toàn sai lầm khi vu cáo Petrus Ký là tên Pháp vì Ông theo Pháp, vô dân Pháp nên Ông chọn cho mình một tên Pháp! (tên thánh Jean Baptiste Petrus, Petrus là tiếng La tinh trên chữ e không có dấu sắc). Họ cũng chụp mũ Ông là tay sai của thực dân Pháp nên Pháp lấy tên Ông đặt cho trường. Ngược lại, thực dân Pháp đã lợi dụng tên tuổi, sự nổi tiếng của ông Petrus Ký để tuyên truyền cho nền bảo hộ và cai trị của họ. Nhằm mục đích xoa dịu phong trào chống đối của nhân sĩ tân học Miền Nam vào đầu thế kỷ XX do Đốc Phủ Sứ Trần Chánh Chiếu lãnh đạo, Pháp đã lấy tên Petrus Ký đặt cho trung học lớn nhất Miền Nam. Sự kiện này có thể được diễn dịch như sau: “Người bản xứ có thấy rõ không? Danh nhân bản xứ có công lao làm việc tốt đẹp cho dân Miền Nam cũng được hưởng danh dự lấy tên đặt cho trường như những người Pháp có công đến khai phá mở mang vùng Nam Kỳ, giúp dân Nam Kỳ tiến lên văn minh Âu Châu:Chasseloup Laubat, Le Myre de Villers, Albert Sarraut” (sic!)

1.1.3. Đền ơn nơi chôn nhau cắt rún

Tất cả cho quê hương yêu dấu! Ông Petrus Ký mang về Cái Mơn giống các loại trái cây quí, lạ từ “Miền Dưới”(các xứ phía nam Việt Nam: Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan v.v…): bòn bon, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, “dâu miền dưới” về trồng làm cho đời sống nông thôn ở Cái Mơn trở nên trù phú.

Rồi từ Cái Mơn các loại cây nầy phát triển sang Nha Mân, lên Lái Thiêu, Bình Nhâm, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bà Rịa …

Mỗi năm, từ tháng 5 đến tháng 10, các chợ miền Nam tràn ngập các loại trái cây quí nầy. Đời sống dân Miền Nam như vui tươi rộn rịp hẳn lên. Ai nấy vui vẻ đua nhau mua các loại trái cây “Miền Dưới” nầy. Nhiều người dân Sài Gòn và các vùng lân cận lên tận các vườn trên Lái Thiêu, Bình Nhâm thưởng thức. Đến bây giờ vẫn còn một thói quen ngộ ngộ “bao bụng”: mỗi người khách chỉ cần trả cho chủ vườn một món tiền nhỏ là được ăn “thả giàn”, tới “no cành hông” thôi! Năm nào cũng vậy, Ông Petrus Ký đem lại nụ cười hạnh phúc cho dân Miền Nam. Đội ơn Ông giúp phát triển nền kinh tế nông nghiệp trong vùng, người dân Cái Mơn lập đền thờ Ông rất lớn, hương đăng trà quả, quanh năm khói hương nghi ngút.

1.2. Tin Tưởng và Hãnh Diện về Trường ta

Nhằm xoa dịu phong trào chống đối tại Miền Nam sau Thế Giới Đại Chiến I(1914-1918) do Đốc Phủ Sứ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng các thân hào nhân sĩ và các nhà trí thức tân học đấu tranh đòi tự do dân chủ, phát triễn giáo dục cho miền Nam, Chánh Phủ cấp tiến Pháp chỉ thị cho Toàn Quyền Alexandre Varenne thực hiện việc xây cất trường. Trường được kiến trúc theo họa đồ đặc biệt cho các vùng nhiệt đới của kiến trúc sư Pháp Hébrard de Villeneuve trên “La Célèbre Plaine des Tombeaux”, “Cánh Đồng Mã” có tiếng nhất miền Nam, rộng 13 mẫu, “Mã Ngụy” nơi Thái Công Triều hành quyết và chôn tướng Lê Văn Khôi, con nuôi Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt và các nghĩa sĩ miền Nam làm phản chống lại sự bất công của Bạch Xuân Nguyên và triều đình Huế đối với Đức Tả Quân. Khu đất xây cất Trường Petrus Ký là một vùng địa linh nhân kiệt mãi mãi phảng phất hồn thiêng các anh hùng miền Nam.

Theo truyền thống các nước Tây Phương lấy tên danh nhân địa phương đặt cho trường sở tại để làm gương tốt cho học sinh và dân chúng hãnh diện, Thống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse đổi tên “Collège de Cochinchine” (Trung Học Đệ Nhứt Cấp Nam Kỳ) thành “Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký”, Trung Học Đệ Nhị Cấp đầu tiên duy nhất cho người bản xứ, khánh thành năm 1928.

Tượng toàn thân Petrus Ký bằng đồng đặt trước dinh Toàn Quyền về sau là dinh Độc Lập, tượng bán thân đặt giữa sân trường ta là do thân hào nhân sĩ Miền Nam quyên tiền thực hiện.

Như được anh linh bất khuất các nghĩa sĩ Miền Nam phò hộ, noi gương Petrus Ký ngầm chống Pháp, noi gương các thân hào nhân sĩ Miền Nam đấu tranh chống Pháp, học sinh Petrus Ký có tinh thần ái quốc rất sớm. Như tíếng sét long trời ở Miền Nam, hiện tượng lịch sử linh thiêng xuất hiện ở ngôi trường Trung học Đệ Nhị cấp thân yêu của chúng ta. Phong trào “Đoàn Hùng” đầu tiên qui tụ thanh niên học sinh Miền Nam đã xuất phát từ Trung Học Petrus Ký, rồi đến Mỹ Tho và Cần Thơ. Bài hát “Đoàn Hùng” có những câu kêu gọi thanh niên như sau:

“Khắp trong sơn hà sấm thiêng thét rền,

Nào ai son sắt đứng lên cùng tìm tương lai…”

Như hiều rõ thông điệp của ông Petrus Ký, các thế hệ đầu tiên của Trường đã thành tâm nhận lãnh trách nhiệm quan trọng người giao phó. Các “chàng tuổi trẻ Petrus Ký” đã thể hiện trách nhiệm nặng nề Ông để lại bằng hình ảnh lý tưởng yêu nước cao thượng nhất trên phù hiệu của trường, “Bó đuốc đỏ rực soi sáng cả bầu trời xanh”. Viền bên phải của bó đuốc mang hình chữ S, hình đất nước Việt Nam thân yêu. Lý tưởng của anh em Petrus Ký: “Quyết tâm làm sao cho nước Việt Nam chúng ta thành bó đuốc soi sáng thế giới.”

1.3. Tin Tưởng và Hãnh Diện về Các Thế Hệ Đàn Anh Petrus Ký

Từ những khóa đầu tiên, các đàn anh Petrus Ký xứng đáng là tinh hoa của Miền Nam, những hột gạo cội trong các hột gạo cội. Các anh đã qua được chương trình nhồi sọ của ban Tú Tài bản xứ (Bachot Local, còn gọi là chương trình Thalamas bao gồm hết các môn học ở 4 ban ABCD, có chiều rộng nhằm mục đích đào tạo một số công chức giúp việc trong bộ máy hành chánh không có chiều sâu chuẩn bị lên đại học, nặng gắp 4 lần ban Tú Tài mẫu quốc (Baccalauréat Métropolitain) dành cho con cháu thực dân Pháp và con cháu tay sai thân tính của họ.

Noi gương sáng của Ông Petrus Ký, từ khóa đầu tiên các anh đã đề ra và làm đúng phương châm của người Học sinh Petrus Ký:

a.- Luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, nêu cao danh dự và trách nhiệm lo cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Sic vos non vobis = Ở với họ mà không theo họ.(Học với Tây, các anh không theo Tây!)

b.- Đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ và giàu mạnh.

c.- Luôn luôn đi trước hướng dẫn các phong trào thanh niên học sinh.

d.- Luôn luôn đạt được những thành quả cao về học tập, văn nghệ, thể thao, thể dục.

Từ 1927 đến 1975 Trường rất hãnh diện vì đã đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất nước. Nhiều chính trị gia, khoa học gia, chuyên viên giáo dục, kinh tế, y khoa rất tự hào là đã xuất thân từ trường Petrus Ký như nhà Bác học Nguyễn Đạt Xường, Chủ Tịch Thượng Viện Việt Nam Cộng Hòa Trương Vĩnh Lễ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện Trần Minh Tiết, 7 trong 9 vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Việt Nam Cộng Hòa là cựu học sinh Petrus Ký, thẩm phán tiến sĩ Phạm Đình Hưng soạn thảo Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa. Chính trị gia giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Huy, Tổng Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Lắm, Tổng Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Giáo Sư Nguyễn Ngọc An, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Phan Văn Chức, Tổng Trưởng Công Chánh Giao Thông Dương Kích Nhưỡng, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Văn Hóa và Thanh Niên Ngô Khắc Tỉnh, Giáo Sư Tiến Sĩ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Thứ Trưởng Giáo Dục-Viện Trưởng Đại Học Bách Khoa Sài Gòn Giáo Sư Đỗ Bá Khê, Giáo Sư Bác Sĩ Đặng Văn Chiếu Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Sài Gòn, Tiến Sĩ Nguyễn Vĩnh Niên Khoa Trưởng Đại Học Dược Khoa .v.v.

Tiền Phong nảy tuấn kiệt, thử thách trong đấu tranh đã trui rèn các anh thành những lãnh tụ xứng đáng. Các anh đã thành công và tiến thêm một bước dài, các anh đã thành nhơn chi mỹ.

Các anh là những tấm gương thật trong sáng cho các thế hệ đàn em. Các anh đã cố gắng trở nên một chân giá trị thay vì làm những hành động đoản kỳ biểu diễn. Là kẻ sĩ các anh đã thân tình trao lại cho đàn em Petrus Ký và cho tuổi trẻ Việt Nam “bó đuốc ngời sáng” mang thông điệp của ông Petrus Ký và kinh nghiệm quí báu của các anh. Các anh đã phục vụ dân tộc hữu hiệu.

Học với Tây mà không theo Tây, các anh đã bất khuất dấn thân hối thúc giới trẻ và toàn dân Việt Nam dấn thân trong tin tưởng, tin tưởng sức mạnh của tuổi trẻ, sức mạnh của dân tộc và thế tất thắng của chính nghĩa. 1941 Việt Nam có 18 triệu dân, ngày nay 80 triệu dân Việt Nam có một sức mạnh vô địch.

Có dân thì không thể thua. Đó là kinh nghiệm quí báu muôn đời luôn luôn thích hợp với mọi tình thế tuổi trẻ mãi mãi sẵn sàng tiếp nhận.

Năm 1939 Thế Chiến II bùng nổ, Pháp bại trận yếu đi. Nhựt đến Đông Dương. Học sinh Petrus Ký là những thiếu niên anh hùng tạo thời thế, những vị cứu tinh của dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, anh em Petrus Ký kêu gọi thanh niên Việt Nam đứng lên làm lịch sử.

Nào anh em đàn trẻ nước Nam Việt Nam,

Chúng ta mau kết đoàn tiến lên đường sáng… (Thiếu Sinh Hành Khúc)

Ta, người Việt Nam….. (Lên Đàng)

Việt Nam mến yêu, nghìn ánh vinh quang (Khúc Khải Hoàn)

Rạng chiếu sơn hà ngàn xưa. (ngày đất nước độc lập, dân tộc oai hùng)

…Ta xin liều thân sống, ta xin hiến tất lòng,

Ta thề nhìn non sông báo ân (Thanh niên nhận lãnh trách nhiệm với đất nước)

Nầy Sinh Viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi, (Tiếng Gọi Sinh Viên,

Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối! (tiền thân của Quốc ca)

Vì non sông nước xưa truyền muôn năm chớ quên,

Nào anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đoàn!…

Đồng tâm cương quyết chúng ta vùng lên,

(Hiệu ca Petrus Ký)

Mong phỉ chí nam nhi, tái thiết nước nhà mến yêu! (Tái thiết Quốc Gia dưới thời Pháp thuộc!)

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng nhưng không có nhạc hùng. Hùng ca Petrus Ký, nhạc hùng dân tộc đến với nền tân nhạc Việt Nam (1938). Trong thời gian đầu tiên của nền tân nhạc, các hành khúc Petrus Ký (1941…) là tiếng nói của thanh niên Miền Nam anh hùng. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam các tiếng đoàn kết, kết đoàn, đồng lòng, đồng tâm, vùng lên, đứng lên kêu gọi thanh niên, nhân dân dũng cảm tập họp, tạo lực lượng chống đối lật đổ chế độ cầm quyền không phát xuất từ nhân dân. Anh em Petrus Ký kêu gọi thanh niên Việt Nam tự nguyện lãnh trách nhiệm quyết định vận mạng đất nước, lật đổ chế độ bảo hộ thuộc địa, đánh đuổi Tây ra khỏi xứ. Anh em Petrus Ký đi trước khai lối mở đường tranh đấu chống Pháp, Nhựt giành độc lập, xây dựng tự do dân chủ. Thanh niên tự quyết là dân tộc tự quyết.

Hùng ca “Tiếng Gọi Sinh Viên” hay “Sinh Viên Hành Khúc” (Marche des Étudiants), nhạc của Lưu Hữu Phước viết từ lúc còn học ở Petrus Ký (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III), được anh Nguyễn Tôn Hoàn, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên chọn làm tiếng nói chánh thức của Tổng Hội Sinh Viên (Association Générale des Étudiants Indochinois). Ủy ban soạn thảo lời ca Pháp và Việt gồm các học sinh Petrus Ký: các anh Đặng Ngọc Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Nguyễn Thành Nguyên, Mai Văn Bộ… xuất thân từ Trung Học Đệ Nhứt Cấp Cần Thơ lên học Trường Petrus Ký. (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III). Lời Pháp cho sinh viên Đông Dương và lời Việt riêng cho sinh viên Việt Nam.

Ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên tổ chức nhạc hội lấy tiền giúp bịnh nhân nghèo, bản “Sinh Viên Hành Khúc” được trình bày với tánh cách là tiếng nói chánh thức của Tổng Hội Sinh Viên. Vào dịp lễ mãn khóa năm 1942 của Viện Đại Học Hà Nội có Toàn Quyền Đông Dương và nhiều viên chức cao cấp Pháp đến dự, bản “ Tiếng Gọi Sinh Viên ” được dàn nhạc Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của bản nhạc đã làm cho mọi người khích động và khi bản nhạc được trổi lên, Toàn Quyền Pháp, tất cả các viên chức cao cấp Pháp, toàn thể mọi người tham dự đều nghiêm chỉnh đứng lên chào (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III).

Sau đó hành khúc “Tiếng Gọi Sinh Viên” được phổ biến khắp Miền Nam. Các thế hệ lớn làm thế nào quên được những ngày hè 1942, 1943 ở vườn Ông Thượng, các cựu Petrus Ký thay phiên nhau đứng trên bục đánh nhịp cho hàng ngàn thanh niên học sinh Miền Nam đồng thanh hát. Đáp đúng nguyện vọng dân tộc từ lâu muốn vùng lên phá tan xích xiềng nô lệ của thực dân Pháp nên toàn dân hưởng ứng. Trẻ cũng hát, già cũng hát, tất cả người Việt ba miền Bắc, Trung, Nam cùng hát bản “Tiếng Gọi Sinh Viên” và các bài hùng ca Petrus Ký.

Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Phong trào “Thanh NIên Tiền Phong” được thành lập ở Miền Nam lấy bản “Tiếng Gọi Sinh Viên” làm Đoàn Ca. Tên bản nhạc được sửa lại là “Thanh Niên Hành Khúc” hay “Tiếng Gọi Thanh Niên”.

Bản nhạc “Tiếng Gọi Thanh Niên” có mãnh lực khích động mạnh mẽ thanh thiếu niên Miền Nam. Anh em mạnh bạo cầm tầm vong vạt nhọn chống Tây, Nhựt.

Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hong Kong giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và một số thân hào nhân sĩ cùng đại diện các đoàn thể chánh trị tôn giáo Miền Nam, ông Nguyễn Tôn Hoàn đề nghị lấy bản “Tiếng Gọi Thanh Niên” làm quốc thiều cho Quốc Gia Việt Nam. Hội nghị đồng ý và tên bản nhạc được đổi lại là “Tiếng Gọi Công Dân” hay “Quốc Dân Hành Khúc”. Về lời 2 chữ Công Dân thay cho 2 chữ Thanh Niên. (Di Cảo III, Nguyễn Ngọc Huy). Có một lịch sử huy hoàng, bản “Tiếng Gọi Sinh Viên” của các đàn anh Petrus Ký được toàn dân Miền Nam suy tôn làm biểu tượng quốc gia.

Một danh dự lịch sử to lớn cho tập thể Petrus Ký chúng ta !

Các hành khúc Petrus Ký, lời nhạc hùng tráng, vui tươi, có tính cách giáo dục tuổi trẻ, kêu gọi thanh thiếu niên cùng nhau vươn lên, toàn dân Việt Nam đoàn kết, nêu cao tinh thần quật cường yêu nước, yêu đồng bào, hãnh diện là người Việt Nam, phát huy cao độ sức sống dân tộc, được Nha Thanh Niên Học Đường thuộc Bộ Giáo Dục và Thanh Niên chọn làm bài hát căn bản cho thanh thiếu niên Miền Nam cho đến 1975. Mỗi năm, vào dịp lễ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, các bài “Hội Nghị Diên Hồng”, “Bạch Đằng Giang”, cũng như vào dịp lễ Bình Định Vương Lê Lợi bản nhạc “Ải Chi Lăng” được trình bày trên truyền thanh truyền hình.

Các tài liệu văn học lịch sử của các nhân vật có thẩm quyền hùng hồn chứng minh các hùng ca Petrus Ký đã xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Cộng Sản. Các bản nhạc dấn thân yêu nước của học sinh Petrus Ký nhắc lại quá khứ oai hùng của dân Việt Nam nhiều lần đánh bại quân xâm lược Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân ta, người Việt từng tiến sang xâm lăng Trung Hoa vào đời Nhà Lý. Các Hùng ca Petrus Ký giáo dục thanh thiếu niên yêu nước, hăng hái lãnh trách nhiệm với quốc gia dân tộc, hãnh diện là người Việt Nam. Các bài hát trẻ nầy có khả năng tạo một phong trào thanh thiếu niên mới lành mạnh, hiên ngang kêu gọi nhau “kết đoàn tiến lên đường sáng” (Thiếu Sinh Hành Khúc), mạnh mẽ kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết cùng nhau lo cho đất nước tiến bộ.

Người Việt Nam không thể phủ nhận vai trò quan trọng hàng đầu của các hành khúc Petrus Ký nâng cao tinh thần bất khuất, khích lệ thanh niên hăng hái lên đường làm nghĩa vụ quốc gia trong thời gian ngắn đánh đuổi Tây ra khỏi nước giành dộc lập. Miền Nam nhanh chóng kiến thiết quốc gia, thanh thiếu niên Việt Nam chững chạc hiên ngang quắc mắt nhìn thẳng sang các nước láng giềng. Đến nay vẫn chưa có hành khúc nào thay thế được các hành khúc thanh niên của tập thể Petrus Ký. Tiếng nói của Tập Thể Petrus Ký phải được tuổi trẻ Việt Nam lặp lại mãi mãi để nhập vào xương tủy!

1.4. Tin Tưởng và Hãnh Diện về Truyền Thống Petrus Ký

Năm 1952, Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn chấp nhận phù hiệu thứ 2 của Trường: bút mực, bút chì với một bằng cấp cuộn tròn thắt “nơ” đỏ nằm chéo góc và bên trên bản đồ Việt Nam, ngụ ý học sinh Petrus Ký phải cố gắng học giỏi nhất Việt Nam để phục vụ người Việt, Tổ Quốc Việt Nam. Cũng vào năm 1952, câu đối của thầy Ưng Thiều được chọn làm tiêu biểu cho truyền thống Petrus Ký:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm

Hien tuong TVK 19

Phù hiệu năm 1941

Hien tuong TVK 20

Phù hiệu năm 1952

1.5 . Một Niềm Tin Tưởng Vô Biên

Là con người toàn diện gồm đủ Tam Cang và Ngũ Thường, Ông Petrus Ký đã áp dụng triệt để chữ Trí và chữ Tín vào mọi hành động của Ông.

TRÍ: Trí Nhớ và Trí Khôn

Trí nhớ là căn bản cho trí khôn, cho mọi lý luận suy tưởng, ôn cố tri tân. Chữ Trí là căn bản trong Ngũ Thường. Dùng Trí để hiểu và áp dụng Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín. Noi gương danh nhân Petrus Ký, các thế hệ Petrus Ký lúc nào cũng sử dụng trí thông minh trong mọi hành động, lý luận.

Sử dụng kiến thức, Tinh hoa của nền cổ học, túi khôn của người Đông Phương vào lý luận, Petrus Ký đã làm cho giới đại trí thức Pháp khâm phục. Chữ Trí giúp ông tìm ra giải pháp đúng cho trường hợp Việt Nam bị Pháp xâm chiếm làm thuộc địa, dân Việt Nam muốn ngóc đầu lên, vùng ra khỏi xiềng xích của Pháp.

TÍN: Chữ Tín là căn bản cho mọi liên lạc gia đình và xã hội, mọi sự thành công ngoài đời.

Petrus Ký được suy tôn là một danh nhân toàn mỹ, ông thầy muôn thuở, gương sáng muôn đời của tuổi trẻ Miền Nam.

Ngoài tài cao học rộng, ông Petrus Ký đề cao chữ TÍN trong mọi hành động đối với tổ quốc, đối với học trò, đối với bạn bè và ngay cả đối với giặc Pháp, kẻ thù của dân tộc. Các thế hệ Petrus Ký đặt tin tưởng tuyệt đối vào nhà bác học mà Trường đã hãnh diện mang tên.

1.6. Tin Tưởng, Hãnh Diện và Tự Hào được trui rèn trong truyền thống kỷ luật Petrus Ký

Trung Học Petrus Ký là trung tâm lý tưởng đào tạo thanh thiếu niên Miền Nam. Quốc gia có luật pháp tục lệ, gia đình có gia phong nền nếp, Trung học Petrus Ký có nội quy chặt chẽ và truyền thống kỷ luật của một quân trường. Nội quy và kỷ luật hoạch định và chế tài mọi sinh hoạt của học sinh. Việc học vấn được Ông Giám Học và quí vị giáo sư chuyên môn phụ trách.

Tổng Giám Thị và quí thầy giám thị chăm lo thi hành kỷ luật và kiểm soát chi tiết thời khóa biểu tổng quát qui định việc tổ chức đời sống lý tưởng trong khuôn viên nhà trường: giờ học, giờ ăn, giờ ngủ, giờ thể dục thể thao, ngày giờ ra phố, về trường hàng tuần, tác phong học sinh.

Từ lúc thành lập, học sinh Petrus Ký đã có nhiều đồng phục. Quần dài, áo “bà ba” trắng mặc trên “dortoir”, đồng phục xuống lớp. Thứ năm, chủ nhật ra thành phố phải mặc “đồ lớn”, áo “paletot”, quần tây thẳng nếp, giày tây, “cravate” hẳn hoi.

Ngoài đường phố Sài Gòn ai cũng trầm trồ, họ dễ dàng nhận thức sự khác biệt trong tác phong, y phục đứng đắn chỉnh tề của các học sinh trẻ Petrus Ký và riêng có nhiều cảm tình.

Mọi việc di chuyển sinh hoạt, lên phòng ngủ, xuống phòng ăn, xuống lớp học sinh phải sắp hàng đôi ngay ngắn có mấy thầy giám thị khó khăn trông coi kiểm soát trật tự.

Kể từ 1951 không còn nội trú. Đồng phục mới gồm có áo trắng quần tây dài xanh dương sậm, giày da hay giày “Ba Ta”, áo trắng tay ngắn mùa nắng và áo trắng tay dài mùa lạnh làm nổi bật tác phong khác biệt của các “chàng tuổi trẻ” Petrus Ký!

Sáng sớm, sau khi đã để xe đạp ở nhà xe có ghi số riêng cho mỗi lớp, học sinh phải sắp hàng ngay ngắn từng lớp một ở đường đá đỏ có hàng sao cao bên trái của cổng chánh. Được lịnh học sinh mới bắt đầu di chuyển vào khu học tập trong trật tự và yên lặng, dưới sự kiểm soát gắt gao của các thầy giám thị.

Mỗi ngày sự hiện diện nghiêm trang của ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn và ông Tổng Giám Thị Lê Văn Toản ở ngay tại cửa ra vào khu học tập làm cho anh em cố gắng hơn trong việc giữ gìn trật tự.

Trung học Petrus Ký có một hệ thống hình phạt chi tiết. Từ 2 số không (00) có đóng khung phân nửa 00 (zero demi encadré) (demi-consigne = 2 giờ cấm túc), 2 số không (00) có đóng khung 00 zéro encadré (consigne = 4 giờ cấm túc) phạt các học sinh không thuộc bài, không nộp bài, ghi vào báo cáo gia đình hàng tháng cha mẹ phải ký tên, phạm tội nhiều lần nhà trường mời phụ huynh vào để khuyến cáo. Các lỗi vô kỹ luật, học sinh vô lễ với giáo sư giám thị là lỗi nặng học sinh được đưa ra hội đồng kỹ luật xét xử. Học sinh có thể bị đuổi học.

Tiên học lễ, hậu học văn! Đồng phục thẳng nếp, tác phong đứng đắn, ăn nói lễ phép, học giỏi xuất sắc là thành quả của sự đào tạo trong kỷ luật khắc khe chỉ có riêng ở Trường Petrus Ký. Truyền thống kỷ luật sắt là niềm hãnh diện, mối tự hào của các thế hệ Petrus Ký. Các bậc cha mẹ chịu tốn kém tiền bạc cho con học tư hay mướn thầy dạy kèm cho trẻ có đủ sức qua kỳ thi tuyển.

Được nhận vào học ở Trường Petrus Ký là chắc chắn có tương lai bảo đảm. Trường Petrus Ký của chúng ta là niềm hãnh diện của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, của thủ đô Sài Gòn. Học sinh Petrus Ký trong đồng phục chỉnh tề, nghiêm trang đại diện cho thanh thiếu niên Miền Nam trình diện chào đón các nhân vật chánh trị, các phái đoàn ngoại giao trong những lần tiếp tân. Tập thể Petrus Ký xứng đáng với lòng tin tưởng của toàn dân Miền Nam.

1.7. Ôn Cố Tri Tân.

Chánh Đạo Petrus Ký Tiến Mạnh Trước Thử Thách của Thời Gian.

Cầm Chánh Đạo Để Tịch Tà Cự Bí

Hồi Cuồng Lan Nhi Chướng Bách Xuyên

(Nguyễn Công Trứ)

Kẻ sĩ có trách vụ dẹp tan các tà thuyết, các làn sóng dữ để giữ vững chánh đạo.

Là người tân trí thức đầu tiên gương mẫu của Miền Nam hồi thế kỷ thứ XIX Ông Petrus Ký có cái dũng của thánh nhân.

Càng nhìn kỹ chúng ta càng thán phục sức mạnh tinh thần kinh khủng của Nam Trung Ẩn Sĩ. Quên mình, đè nén dục vọng, hy sinh tài sản gia đình, cương quyết bỏ tất cả để dấn thân thực hiện hoài bão gầy dựng văn hóa dân tộc, nâng cao kiến thức, tinh thần người bình dân Miền Nam, giáo dục tuổi trẻ… Người đam mê làm cái việc mà ngày nay đa số cho là “ăn cơm nhà vát ngà voi. Một mình mình biết, một mình mình hay, quyết định hành động và làm hết lòng các dự án của mình, bất kể các phê bình công kích. Để hết tim óc vào công việc “thuần trí thức”, người văn nhân đa tài trói gà không chặt, làm việc quá sức, ít vận động, thiếu sức khỏe, thường bịnh hoạn, mòn mỏi và khuất sớm lúc 61 tuổi.

Công trình văn hóa, tinh thần bất khuất, hành động âm thâm vĩ đại của ông được giới trí thức tân học thán phục lấy làm tiêu biểu cho công cuộc tranh đấu đòi thực dân Pháp nâng cao giáo dục Miền Nam. Từ lúc Trường ta được thành lập, chánh nghĩa của anh em Petrus Ký được chứng minh bằng lời nói đi đôi với việc làm. Lý tưởng và hoài bão của ông Petrus Ký được các bực đàn anh nêu lên trên 2 phù hiệu và 2 câu đối khắc trên trụ cổng trường để làm khuôn vàng thước ngọc giáo dục tuổi trẻ được các thế hệ nối tiếp hãnh diện cố gắng thực hiện. Tiếng nói chánh nghĩa của anh em Petrus Ký kêu gọi thanh thiếu niên Việt Nam “kết đoàn tiến lên đường sáng”, “đáp lới sông núi” “Ta xin liều thân sống ta xin hiến tấc lòng, ta thề nhìn non sông báo ân.” được toàn thể thanh thiếu niên Miền Nam nghe theo hết lòng hăng say nhập cuộc, toàn dân Miền Nam nhiệt liệt hưởng ứng. Dấn thân rạo rực tình thương chân thành sáng suốt, đầy lòng quả cảm, tập thể Petrus Ký luôn luôn xứng đáng với lòng tin tưởng của mọi người, mọi giới.

Hành động “Chánh Nghĩa” của tập thể Petrus Ký luôn luôn được chỉ đạo bằng các mục tiêu:

NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG

    • Tà Đạo Xây Dựng trên Nghịch Lý: Vọng Ngoại – HànhĐộng Vô Nhân Đạo: Thủ Đoạn Chánh Trị – Hận Thù – Lừa Gạt- Bốc Lột – Khủng Bố – Tiêu Diệt Văn Hóa Dân Tộc – NguDân.

Từ cuối đời Hậu Lê, Vương quyền phong kiến thất bại, vua chỉ lo trác táng ăn chơi, các đại thần tranh quyền chia rẽ, triều đình bất lực, không ai lo cho dân. Từ 1527 đến 1862 khắp nơi trong nước loạn lạc không lúc nào ngưng, dân khổ. Đất nước chia đôi hết Nam Triều – Bắc Triều đến Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, rồi tam phân Tây Sơn dứt Nguyễn phạt Trịnh, phá quân Thanh xâm lăng phương bắc, đuổi quân Xiêm ở phương nam thống nhất đất nước.Gia Long diệt Tây Sơn lập nhà Nguyễn.

Giặc giã do tham vọng cá nhân bè phái, giết hại hàng triệu đồng bào, tiêu phí tài sản quốc gia tiềm năng dân tộc.

Lịch sử đen tối tiếp diễn với 80 năm Pháp trị, dân Việt Nam chia rẽ trong 20 năm chiến tranh Nam Bắc (1954 – 1975). Dân tiếp tục khổ.

1.8. Hướng Tiến của Tập Thể Petrus Ký.

    • Xây Dựng Tình Đồng Môn

Giới trẻ Petrus Ký là động cơ phát triển chính yếu, là tương lai sáng chói của tập thể, là niềm tin tưởng, niềm hoài vọng của các thế hệ đàn anh. Thế hệ đàn anh rất vui mừng hãnh diện khi thấy đàn em Petrus Ký giỏi hơn thế hệ mình. Sự chuyển tiếp thế hệ trong khối Petrus Ký luôn luôn tốt đẹp, không có sự phân biệt về tâm tư và ý chí giữa già trẻ. Các thế hệ đàn anh đã tạo ra bó đuốc ngời sáng đầy ý nghĩa: “yêu nước, tự lực, tự cường, bất khuất, nhân bản, dân tộc, khai phóng, đem lại chính nghĩa cho toàn dân Việt Nam v.v…”. Anh em Petrus Ký khai lối mở đường, thúc giục đàn em đoàn kết dấn thân đáp lời sông núi. Theo truyền thống Petrus Ký, thế hệ trẻ xung phong, thế hệ cao niên tận tình nâng đỡ, khuyến khích và tôn trọng trí xét đoán của đàn em. Toàn dân hưởng ứng và một lòng hổ trợ. Có chánh nghĩa, dân Việt đã hơn một lần vượt qua các thử thách.

Tình đồng song gắn bó các bạn học cùng lớp, cùng thầy, cùng nhóm, vui buồn có nhau, cạnh tranh trong tình thân hữu anh em để giúp nhau tiến bộ, thành thật chia xẻ kinh nghiệm, mỗi ngày cùng nhau tay bắt mặt mừng. Học sư bất như học hữu. Học bạn bổ túc kiến thức học với thầy.

Nối vòng tay lớn, tình đồng môn là gạch nối thân thương giữa bạn cùng trường từ lúc Trường được khánh thành nămThế hệ tiếp theo thế hệ, trong suốt nhiều năm, mỗi ngày cùng nhau đi ngang qua cổng chánh của trường, 2 câu đối trên cột trụ bao nhiêu lần lập lại đã thành tóc thành da! Mỗi lần gặp khó khăn nghĩ tới tình đồng môn Petrus Ký là thầy lòng như dược sưởi ấm, lòng can đảm hồi phục và sức sống hồi sinh, vươn lên mạnh.

Giữa anh em Petrus Ký chúng ta luôn luôn có mối liên hệ thân tình, tương thân tương ái, anh ngã em nâng, em ngã anh đỡ, em thành công, anh sung sướng. Một Petrus Ký đã giỏi, hai, ba Petrus Ký càng giỏi hơn. Cùng một lý tưởng, thương nhau, hiểu nhau, tin nhau, lại biết tổ chức và phân công chu đáo nhiều Petrus Ký bắt tay nhau lại càng hay hơn nữa, càng mạnh hơn nữa, người người kính phục, biến lý tưởng thành thực tế, chuyển mộng thành thực, người người mang ơn, trọng vọng. Tìm nhau để liên lạc mật thiết, thường xuyên trao đổi ý kiến và chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật, chúng ta sát cánh nhau để cùng tiến, cùng phục vụ nhiều hơn, nhất trí lãnh trách nhiệm đấu tranh cho dân tộc, cương quyết tái thiết Việt Nam. Chúng ta tiến, dân tộc Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh!

Học giỏi để phục vụ hữu hiệu. Khoa học là một tiến bộ không ngừng. Muốn tiến bộ không ngừng ta phải luôn luôn dùng TRÍ để bắt kịp thời đại, nay la “thời đại tin học, toàn cầu hóa thông tin và thương mại”. Học chiều sâu để lên đại học quí hơn học rộng biết thật nhiều mà không sử dụng được kiến thức.

Thiên tài là một sự kiên nhẫn lâu dài, kỷ luật bản thân cần thiết do các thói quen tốt tạo thành. Học để Thành Công đã khó, học để Thành Nhân lại còn khó hơn nhiều.

Có Học Phải Có Hạnh. Có Học Không Có Hạnh Là Bại Hoại Tâm Hồn.”

“Toàn Thiện Là Mục Tiêu, Tối Ưu Được Dung Thứ !”

“Try not to become a Man of Success but rather a Man of Value.” (Einstein)

Thanh niên Miền Nam vẫn dành chỗ cao quí nhất trong tâm hồn cho tên Trường và hình ảnh tượng đồng uy nghi của nhà bác học. Thế hệ trẻ nối tiếp nhau luôn luôn hãnh diện vì tên danh nhân Petrus Ký, danh xưng và vị trí trường cũ. Các em thuộc lòng truyền thống Trường ta, nhớ mãi hình ảnh tượng đồng bán thân danh nhân Petrus Ký đặt ở giữa sân trưiơng, hai câu đối truyền thống ở cổng trướng cùng hai phù hiệu của tập thể Petrus Ký Anh em cũng luôn luôn hát thuộc lòng và phổ biến các hành khúc “Petrus Ký” vì đó mãi mãi là lý tưởng cao đẹp nhất, là kim chỉ nam cho mọi hành động của trang thanh niên muốn tiến bộ. Anh em Petrus Ký, tuổi trẻ Miền Nam một lòng kiên trì tranh đấu để phục hồi tên trường ở đúng vị trí cũ. Toàn dân Miền Nam hưởng ứng mạnh mẽ.

Petrus Ký! Ngàn năm Petrus Ký!

Truyền thống Petrus Ký ghi trong hai câu đối, được bổ túc bởi các thuyết Chính Danh”, “Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ”, vắn tắt “Tu, Tề, Trị, Bình”… Còn gì tốt hơn cho quốc gia dân tộc khi 40 triệu người Việt Nam (1/2 dân số 80 triệu) sau khi thành công ở giai đoạn “Tề Gia” cùng lo nghĩ đến các việc ích nước lợi dân ở giai đoạn “Trị Quốc”.

Vượt qua mấy ngàn năm thử thách, kinh sách xưa không bao giờ phản bội. Sách “Tứ Thư, Ngũ Kinh” san định, hệ thống hóa biết bao kinh nghiêm thực tiễn thời cổ. Sách “Minh Tâm Bửu Giám” trích các nhận xét quan trọng của người xưa. “Cổ Học Tinh Hoa” chọn lọc và trình bày ngắn gọn các mẫu chuyện xã hội thực tế phong phú khơi động đầu óc suy nghĩ lý luận v.v…

Noi gương Ông Petrus Ký từng lấy căn bản cổ học thâu thập thời thơ ấu làm cho giới trí thức Pháp nể phục, chúng ta nên đọc kỹ sách thánh hiền, rút tỉa kinh nghiệm thực tiễn của người xưa làm khuôn vàng thước ngọc cho đời sống, hành động để thêm xứng đáng với các trách vụ nặng nề hầu thành người hữu dụng hơn. v.v…

Tây âu khoa học yếu minh tâm.

Học sinh Petrus Ký đã giỏi rồi, nhưng có tài phải rán thêm, phải nhẫn nại hơn! Muốn có được những bước vững vàng trên đại học phải chuyên cần áp dụng 4 qui tắc của phương pháp khoa học: “nhận chân, phân tích, tổng hợp, kiểm soát” (identification, analysis, synthesis, control) để luôn luôn có cái nhìn thực tế, khách quan, không bị tình cảm chi phối, để áp dụng trong kỹ thuật học giàn bài và giàn bài chi tiết, trình bày ý kiến, trong lúc lý luận, lúc giải quyết các vấn đề khó khăn, lập chương trình ngắn hạn và dài hạn, phân công và phối hợp khi tổ chức, lãnh đạo chỉ huy v.v… Bốn qui tắc trên đây được dùng triệt để trong các công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ.

    • Văn Ôn Võ Luyện.

Văn ôn Võ luyện. Ôn, Luyện, lập lại nhiều lần là linh hồn của giáo dục, “Học Qui Hồ Tinh, Bất Quí Hồ Đa”. Tinh võ bổ túc cho giỏi văn. Luyện võ sau buổi học văn mệt nhọc, công việc chân tay giải trí công việc trí óc và lao động trí thức tiếp theo để giải trí cho lao động tay chân là bí quyết làm việc không nghỉ, kiểm soát thời giờ quí báu.

Tập các thế võ một mình trước kiến, hít thở chuyển gồng, nội công vận khí, nhơn khí song luyện, hai người quần thảo, đón đòn, đỡ đòn, trành né, tiến thoái qui củ đúng phương pháp, vung quyền phạt cước đúng kỹ thuật, ngoài việc tạo cho ta sức khỏe bền bỉ dẻo dai, tuổi già cường tráng không lẫn lộn, hạnh phúc, ít bịnh hoạn sống lâu. Siêng luyện võ làm tiêu đi những lớp mỡ thừa vô ích, thân thể bài tiết hết các chất phế thải, ta được ăn ngon ngủ kỹ, lấy sức mau lẹ.

Người giỏi võ chú tâm kinh khủng! Một võ sĩ lơ đỉnh trong một giây sẽ lãnh đòn đo ván! Thiếu chú tâm, một kiếm sĩ sẽ mất mạng trong chớp mắt. Luôn luôn làm chủ tình hình, người tinh thông võ nghệ có đôi mắt sáng quắc chú ý đến nhất cử nhất động của người đứng trước mặt, đối phương chung quanh, lúc nào cũng ở trong tư thế sẵn sàng kịp thời đối phó, chế ngự mọi tấn công bất thình lình, có phản ứng thích hợp, “Tiên Phát Chế Nhân”. Nhờ chú tâm cực điểm học sinh học mau thuộc bài.

Công phu thực tập tạo cho ta đầu óc sắc bén, tay chân lanh lẹ, xoay trở nhanh chóng. Các thế võ tự vệ, tấn công, phản công, bắt dao, bắt roi, các đòn độc, tối độc tập luyện hằng ngày đến độ tinh vi đem lại cho thanh niên tinh thần tự tin cao độ, tư cách hiên ngang không biết sợ là gì, tinh thần bất khuất trước các hiểm nguy thử thách. Tinh thông võ nghệ thanh thiếu niên không còn hèn nữa, không còn sợ bị bắt nạt, không còn “chết nhát” nữa, dám đứng lên nói lớn tiếng, dám làm, dám hành động, xông pha, chịu đựng nỗi các gian lao khổ cực. Học văn để lý luận đúng cho các hành động. Học võ để thi hành cho đến lúc thành công các quyết định. Nói chung tập võ giúp ta thay đổi cái nhìn, tiếng nói, tướng đi, thay đổi hẳn con người của chúng ta, thay đổi hẳn đời ta.

Từ lúc thành lập đến 1975, chương trình trung học phổ thông vẫn đặt nặng vào phần trí dục, ít chú trọng đến thể dục. Mỗi tuần chỉ có một giờ ra sân thể thao cho học sinh đổ mồ hôi! Các môn thể thao áp dụng ở trường: bóng tròn, bóng rổ, bóng chuyền, điền kinh, quần vợt, bơi lội v.v… phát triển sức khỏe, tinh thần đồng đội. Tập thể dục cho vui! Thể dục được học sinh xem như một môn giải trí lành mạnh sau các giờ chăm chỉ trên ghế nhà trường lao động trí thức. Trước 1975, nhận chân được tầm quan trọng của võ thuật, Trung Học Petrus Ký đã bắt đầu đem các môn võ thuật vào chương trình giáo dục. Cần phải phát triển thật mạnh.

2. Phát Huy Tinh Thần Petrus Ký, Một Quốc Sách

Giáo Dục.

Trước 1975, trung học Việt Nam áp dụng với kết quả thật mỹ mãn chương trình Toán, Khoa học của Tây Đức, cao nhất thế giới. Học sinh Petrus Ký có truyền thống hiếu học và rất thông minh, biết đoàn kết học nhóm, lãnh hội nhanh, tiếp thu mạnh mà vẫn còn thừa sức và con dư nhiều thời giờ. Phải nhân đó mà nghiên cứu nới rộng và đào sâu thêm chương trình để trình độ học sinh tiến cao hơn nữa. Sự canh tân các phòng thí nghiệm, đem điện toán vào trường học là cả một vấn đề tài chánh. Ngân khoản giáo dục bị giới hạn tới mức tối đa, cần nhiều đóng góp của các bậc phụ huynh và các nhà hảo tâm.

Giáo dục thuần túy đặt trên nền tảng Nhân Bản, Dân Tộc, Khai Phóng đòi hỏi điều kiện tiên quyết là không đem chánh trị, công an mật vụ và lao động vào học đường, không cho học trò theo dõi các cô thầy giáo, cha mẹ bạn bè, không nhồi sọ, đầu độc tâm hồn non dại của các em bằng lý thuyết chánh trị ngoại lai, làm hư chất xám, làm mất thời giờ quí báu của các em, làm mất lòng tin của tuổi trẻ, của phụ huynh, của toàn dân, như thực dân Pháp đã từng làm đối với dân ta. Dân đã nghèo không nên đem vào xã hội lối sống phóng túng hưởng thụ, đồi trụy xa hoa, bài bạc, xì ke, ma túy để đánh lạc hướng và làm hư hỏng thanh thiếu niên Việt Nam. Lúc nào cũng phải triệt để xây dựng và bảo vệ tinh thần gia đình, truyền thống và tinh thần dân tộc.

Thiện chí phục hồi tên Trường Petrus Ký tại địa danh đem lại tin tưởng và phấn khởi cho học sinh, thanh thiếu niên, toàn dân Miền Nam. Áp dụng truyền thống tinh thần gương mẫu của khối Petrus Ký ở các cấp Tiểu Học, Trung Học và Đại Học là điểm cần thiết hàng đầu của nền giáo dục quốc gia.

Trong tất cả mọi gia đình các bậc phụ huynh phải thông suốt tinh thần Petrus Ký, Các bà mẹ hiền, các chị ngoan đều phải khắc cốt ghi tâm tinh thần, truyền thống Petrus Ký để giáo dục con em. Làm thế nào để khắp nơi trong nước, đi đến đâu ta cũng nghe tiếng hát các bài hùng ca Petrus Ký.Từ các nhà lãnh đạo cho tới người dân làng mạc hẻo lánh, rừng sâu núi thẩm, ai ai cũng phải lấy tinh thần Petrus Ký làm gốc.

Hiện tại người Việt quốc nội và hải ngoại cần tình thương để đoàn kết, xã hội Việt Nam cần kỹ luật để tiến bộ. Đó là tình thương chơn thật và kỷ luật gương mẫu của tập thể Petrus Ký.

  • Chỉ có tình thương chân thật của khối Petrus Ký mớihàn gắn được các vết thương còn rỉ máu từ 1975.
  • Chỉ có lòng nhân ái, tình thương dân yêu nước, tiếng nóichân thật của khối Petrus Ký mới đem lại cho đồng bào MiềnNam niềm tin vững chắc.
  • Chỉ có tiếng nói chân thật đầy tình thương của tập thểPetrus Ký mới kêu gọi được đồng bào trong và ngoài nước hysinh cho nhau, đoàn kết thành một khối mạnh mẽ xây dựng đấtnước Viêt Nam, xây dựng và phát triển Cộng Đồng Việt Namhải ngoại.
  • Chỉ có tiếng nói của khối Petrus Ký mới trả lời thỏa mãncác câu hỏi của các em thanh thiếu niên ở Mỹ (buồn thay! Mộtsố lớn các em đã mất gốc): Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi phảilàm gì? Ai có thể giúp tôi? Trông cậy vào ai đây?
  • Chỉ có tinh thần, tình cảm chân thành, tiếng gọi thânthương của tập thể Petrus Ký mới hướng dẫn được các em vuivẻ trở về nguồn, tìm chân lý dân tộc, thương mến nhau, đoànkết giúp đỡ nhau học hành tiến bộ, có một tương lai tươi sáng.
  • Chỉ có tinh thần Petrus Ký, lý tưởng Petrus Ký, tiếngnói, truyền thống của tập thể Petrus Ký mới đem lại được chocác em một sự giúp đỡ sòng phẳng và lương thiện của lớpngười đi trước.
  • Chỉ có tinh thần, lý tưởng Petrus Ký mới giúp tuổi trẻViệt Nam sáng suốt lựa chọn giữa cái hay và cái dỡ, cái tốt vàcái xấu, lựa chọn đúng đường, chọn mục tiêu, hướng đi,phương tiện, phương thức, thảo kế hoạch ngắn hạn, dài hạn íchnước lợi dân. Các em phải làm gì trước hiện tình đất nước?
  • Chỉ có tinh thần nhân bản xây dựng của khối Petrus Kýmới khỏa lấp được cái hố sâu chia rẽ các thế hệ già đầy hậnthù, mâu thuẫn, đối kháng, nối tiếp nhau ra đi, và các thế hệ trẻViệt Nam dưới 40 tuổi sẽ nắm vận mạng đất nước và cộngđồng.

Tinh thần Petrus Ký phát huy mạnh mẻ là căn bản thiết thực cho các cuộc đấu tranh dân tộc dành chủ quyền quốc gia, dân chủ đa nguyên, nhân phẩm, nhân quyền và công bằng xã hội. Chỉ có tinh thần Petrus Ký mới đủ khả năng và thẩm quyền đem lại cho toàn dân một chế độ dân chủ chắc chắn tiến bộ nhanh, hạnh phúc. Nói chung, tinh thần Petrus Ký có đủ khả năng kết hợp người Việt quốc nội và hải ngoại thành một khối 80 triệu đồng bào ruột thịt có một sức mạnh vô địch để

Vương lên mạnh và sống còn

Người Việt Phải Sống Còn

Và quan trọng hơn hết, cố gắng un đúc tinh thần bất khuất, tự lập tự cường của khối Petrus Ký dân tộc Việt Nam sẽ bỏ đi tinh thần vọng ngoại, không rơi vào bi kịch cũ: Lệ Thuộc Nước Ngoài. Chúng ta phải hết sức phát huy ngay tinh thần Petrus Ký. Phải Hành Động Ngay. Ngày Mai Trễ rồi!

 

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Ngọc Huy: Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam. Di Cảo III, 1992.

Hứa Hoành: Các trường trung học danh tiếng ở Miền Nam, Nguyệt San Y Tế tháng 5/1996.

Lê Thương: Thời Tiền Chiến trong Tân Nhạc (1938-1945).

Trương Vĩnh Ký: Minh Tâm Bửu Giám Toàn Bộ, Nhà sách Xuân Thu, 7/11/1968.

Đoàn Trung Còn: Tứ Thư.

Đoàn Trung Còn và Huyền Mặc Đạo Nhân: Hiếu Kinh.

Đoàn Trung Còn: Tam Tự Kinh.

Trần Trọng Kim: Nho Giáo.

Phan Bội Châu: Khổng Học Đăng.

Nguyễn Văn Thọ: Chân Dung Đức Khổng Tử.

Ngưyễn Thanh Liêm: Trường Petrus Ký và nền Trung Học Phổ Thông Miền Nam.

Nguyễn Tôn Nhan: Lễ Kinh.

Nhượng Tống: Thượng Thư.

Trọng Toàn: Hương Hoa Đất Nước

Trần Trọng Kim, Đổ Thận, Bùi Kỹ: Quốc Văn Giáo Khoa Thư I, II, III.

TrầnTrọng Kim: Việt Nam Sử Lược.

Phạm Văn Sơn: Việt Sử Toàn Thư.

Descartes: Discours de la Méthode.

Mouni Sadhu: Concentration.

Alan Lakein: How to Get Control of Your Time and Your Life.

Terry Orlick: In Pursuit of Excellence.

Mary Vos Savant: Brain Building.

Robert J. Ringer: Million Dollar Habits.

Robert J. Ringer: Looking out for # I.

Arbigail Trafford: My Time.

Mouni Sadhu: Ways to Self Realization.

Morton Cooper: Change Your Voice, Change Your Life.

Robert Coles: The Moral Intelligence of Children.