Hậu duê Bắc di cư với ngày 30/4

Khiếu Ngọc Lam

Một năm lại trôi qua, 46 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, chúng ta lại cùng nhau “ôn cố tri tân”, tri ân, tưởng niệm và cầu nguyện tại gia, hay tại các trung tâm sinh hoạt cộng đồng và tôn giáo nếu không có dịch cúm Vũ hán…

Vâng, thấm thoát đã gần nửa thế kỉ trôi qua, nhưng kí ức của những thế hệ trưc tiếp trải nghiệm về cuộc nội chiến Bắc-Nam giữa hai chiến tuyến quốc-cộng vẫn đậm nét và đôi lúc hiện về như một cuốn phim được quay lại mỗi lần tháng 4 đến …

Tôi vẫn thường nghe thân phụ mình kết luận như sau khi kể về cuộc đời của ông với hai cuộc “vượt tuyến nhỏ chín nút” (năm 54) và cuối cùng là cuộc “di cư lớn mười nút” hay “di cư bù” (năm 91): “Thật là khốn nạn cho dân Việt mình!”

Vâng, lời kết luận của ông cũng là lời kết án chính xác về thủ phạm đã gây nên sự khốn nạn đó cho dân tộc chúng ta.

Đất nước Việt nam đã xuất hiện một lũ ngu muội, dốt nát, hèn mạt, mà lại qủi quyệt, gian manh, ác độc gây bao điêu linh, chết chóc, khổ đau và bất hạnh cho dân tộc Việt nam từ nhiều thập kỉ qua! Bao con người, bao tuổi thanh xuân, bao ước mơ, bao nguyện vọng chính đáng của một dân tộc đã bị chôn vùi và hủy diệt.

Ngày nào lăng ba đình còn sừng sững, màu cờ máu còn phấp phới, và bè đảng cộng sản còn hiện diện trên quê hương này thì người dân sẽ còn khốn khổ khốn nạn lâu dài. Tệ hơn nữa, người dân đang đứng trước viễn cảnh mất chủ quyền hoàn toàn, trở thành nô lệ bị hành hạ, tù đày, giết chóc, và cuối cùng là bị diệt vong như nhóm người theo Pháp luân công, dân Tây Tạng, hay Duy Ngô Nhĩ dưới ách cai trị của trung cộng!

Mọi người và tôi đã từ lâu vẫn nghe cụm từ “hoà hợp hoà giải dân tộc” từ loa tuyên truyền của việt cộng, từ trong nước ra đến hải ngoại, dưới nhiều hình thức lừa đảo tinh vi với mong mỏi “khúc ruột ngàn dặm” (mà nhiều năm trước kia đã bị cắt lìa) đóng góp và giúp sức cho bọn chúng không phải để hoàn thành trách nhiệm của những nhà lãnh đạo trong một quốc gia với dân số xấp xỉ 98 triệu, mà để củng cố thêm địa vị với bổng lộc lấy từ xương máu của người dân, tài nguyên, đất đai và biển đảo của tổ quốc!

Cho nên mỹ từ “hòa hợp hoà giải dân tộc” để tái xây dựng sau chiến tranh và bảo vệ non sông gấm vóc của tiền nhân, đem lại tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc cho người dân có là sự thực tâm sám hối của cộng sản?

Câu trả lời đã nằm trong lòng của chúng ta, ngay cả trong lương tâm sâu thẳm của những vị đã từng bị lừa bịp và mê muội trước hai từ “giải phóng”, giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ thực dân Pháp, ra khỏi cảnh làm tay sai cho đế quốc Mỹ!!! (ấy đấy, bởi vì sau gần một thế kỉ bị lầm than trong cảnh làm thuộc địa của mẫu quốc Pháp, toàn dân ta đều một lòng ủng hộ cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp. Công lao của toàn dân trong đó có những nhà yêu nước thuộc đảng phái quốc gia đã bị cộng sản cướp sạch một cách bỉ ổi, đê tiện, và dã man như hai người chú và anh rể của thân phụ tôi trong Đại Việt Quốc Dân đảng kẻ bị tù tội người bị thủ tiêu! Còn đế quốc Mỹ ư? Họ có cắt miếng đất nào của Việt nam để lấy phần không hay cộng sản từ lâu đã coi trung quốc và Việt nam là “núi liền núi, sông liền sông” để rồi không còn biên giới giữa hai nước? (Việt nam – Trung Hoa núi liền núi sông liền sông – YouTube)

Câu trả lời ấy đã ẩn hiện từ lâu khi bộ mặt thật của nhận vật “ra đi tìm đường cứu nước” và bè lũ tham tàn dần lộ sau cải cách ruộng đất để làm thành sự thúc đẩy cho cả triệu dân Bắc kì đành bỏ nơi chôn rau cắt rốn, nhà cửa, ruộng vườn, tài sản để chạy lấy thân vào miền Nam tươi đẹp năm 1954! Bộ mặt ấy càng lộ rõ sau Tết Mậu Thân 1968 với xác chết của hàng ngàn thường dân vô tội trong các mồ chôn tập thể. Xác đứng, ngồi, nằm vì bị trói rồi chôn sống, bị bắn hay đập vỡ sọ, bị nổ mìn hàng loạt với dây điện xâu dính người này với người kia! Bộ mặt ấy không ngừng phơi bày với các cuộc khủng bố của bọn đặc công cài đặt và sự giúp sức của bọn nằm vùng khắp nơi trên quê hương miền Nam, vùng đất tưởng được thanh bình khi ranh giới quốc-cộng đã được thiết lập từ sông Bến Hải. Nhà hàng Mỹ Cảnh với những người khách đang ngồi thưởng thức bữa ăn ngon năm 1965, đêm lửa trại liên trường tại Quy Nhơn tổ chức tại Sân Vận Động thị xã với học sinh đang hăng say sinh hoạt năm 1972, trường tiểu học Cai lậy với những học trò hồn nhiên đùa vui trong sân trường năm 1974, những chuyến xe đò lục tỉnh chở đầy hành khách bán buôn, những nông dân chất phác quanh năm quấn quít với ruộng vườn, và nhiều không kể xiết những lương dân đã bị việt cộng tàn sát bằng mìn, lựu đạn, súng cối, dao găm, búa rìu để bỗng chốc tan xương nát thịt và cuộc sống an bình bị đảo lộn. Bên cạnh đó là những cuộc tấn công liên tục vào mảnh đất tự do từ vĩ tuyến 17 trở về Nam. Những Bình Giã 1964, Plei me 1965, Khe Sanh 1968, Hạ Lào 1971, mùa hè đỏ lửa với Đại lộ kinh hoàng 1972, Phước Long 1974… Rồi một tháng 3 gãy súng với sự di tản hoảng loạn của quân dân miền Trung và 12 ngày ác liệt tại Xuân Lộc 1975 dẫn đến ngày đau thương nhất của người dân miền Nam và của tất cả người Việt yêu tự do: Saigon thất thủ 30/4 cùng năm!

Bao cảnh nhà tan cửa nát, bao tang tóc, đau thương, mất mát, hi sinh của hàng triệu con dân tộc Việt dưới bàn tay những kẻ lạc loài mất hết sáng suốt và lương tri đi theo tà thuyết cộng sản mà quay ra làm tay sai cho giặc phương Bắc, nhẫn tâm giết hại đồng bào, phản bội tổ quốc.

Quyển lịch mang dấu mốc 30/4/1975 sẽ mãi mãi đánh dấu thời kì đen tối nhất của lịch sử Việt nam hiện đại khi bộ mặt thật của bè lũ cộng nô lộ nguyên hình, không cần lừa mị hay che giấu!

Từ khúc quanh ấy, một nửa phần còn lại của mảnh đất hình chữ S tiếp tục oằn oại dưới bàn tay của bọn xưng danh đi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước! Hàng triệu quân dân cán chính của Việt Nam Cộng Hoà lại bị đấu tố, đầy vào trại tù tập trung, bị đánh tư sản, xua đuổi đến những vùng kinh tế mới để chết vì tra tấn, đói khát, bệnh tật, và lao động khổ sai. Hàng triệu người dân vô tội lại bị đẩy vào cảnh mất hết nhà cửa, và tài sản đã gây dựng bằng mồ hôi nước mắt của nhiều đời. Gia đình họ sẵn tan nát vì quốc cộng phân ly, chiến tranh đằng đẵng, nay thêm chia lìa vì sự thù hằn của tà quyền thắng cuộc. Trong hoàn cảnh bi thương và tương lai vô vọng, hàng triệu sinh linh đã liều chết để ra khơi trên những con thuyền mỏng manh mặc cho hiểm nguy của tù tội, trả thù nếu bị bắt, của hải tặc cướp bóc hãm hại, của sóng to gió lớn sẵn sàng nhận chìm cả thuyền để xác người nuôi cá. Họ phải dời bỏ quê hương, thậm chí phải bỏ quê hương lần thứ hai để mong tìm sự sống trong cái chết cận kề.

Riêng thân phận của những người trai quốc gia trong thời chinh chiến…

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa kiêu hùng, luôn khắc ghi lí tưởng vì Tổ quốc, danh dự, và trách nhiệm. Trách nhiệm của người trai trong thời máu lửa thật nặng nề và nhuốm đầy hi sinh. Họ đã xếp bỏ bút nghiên, rời xa mái ấm gia đình, đặt xuống những mơ ước đẹp đẽ của tuổi xuân để lên đường theo tiếng gọi của núi sông. Họ đã chiến đấu thật dũng cảm và can trường trên khắp các mặt trận, từ đồng bằng đến rừng sâu, từ cao nguyên núi non hiểm trở, đến những vùng sông nước quanh năm bùn lầy nước đọng. Mặt trận của họ không phải chỉ là kẻ thù Bắc bộ phủ và hán cộng phương Bắc trước mặt mà còn là những chiếc dao găm đâm sau lưng họ của những kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma giặc hồ”, của phong trào phản chiến mê hoặc trong và ngoài nước, của những nhiễu loạn tôn giáo, chính trị do bọn nằm vùng giựt dây theo mệnh lệnh của cấp trên. Và họ cũng, uất hận thay, bị ngay chính phủ đồng minh vì quyền lợi riêng đã bỏ rơi và bán đứng, mặc cho hơn 55,000 binh lính của chính chính phủ này đã từng sát cánh và hi sinh bên cạnh các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa! Hàng hàng lớp lớp thanh niên ra đi, đã nằm xuống hay bỏ lại một phần xương thịt để bảo vệ từng tấc đất, vùng trời, và biển đảo của quê hương, cho sự an toàn của đồng bào miền Nam trong suốt 20 năm!

Để khi trở thành kẻ chiến bại của bên thua cuộc vì bị bức tử, còn ở lại chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của ngày 30/4, họ đã bị bên thắng cuộc trả thù một cách tàn khốc mà nhân loại tiến bộ không thể tìm thấy ngay cả trong huyền thoại!

Có ai tin rằng những người lính quốc gia bị thương đang được chữa trị trong các quân y viện lại bị lũ cộng sản mất nhân tính xua đuổi ra đường ngay trong ngày đất nước vừa dứt tiếng đạn bom?! Tất cả sĩ quan, binh lính quốc gia sau khi đã hạ khí giới, cởi áo trận làm thường dân ra trình diện đã bị gọi tập trung và được chính quyền mới hứa hẹn sẽ trở về với gia đình trong vòng 10 ngày. Có ai ngờ rằng họ đã bị lừa gạt một lần nữa trong đời! (vâng họ đã từng tin rằng, hai phe quốc cộng dù căng thẳng đến đâu đều phải ngưng bắn trong 3 ngày Tết cổ truyền như một thoả thuận bất thành văn, nhưng lịch sử đã có dấu đen Mậu Thân 1968, hay hiệp định Paris 1973 mong ngày ngưng chiến nhưng sự ngang nhiên vi phạm liên tục của cộng quân đã dẫn đến quốc hận 30/4) Họ bị những kẻ thắng cuộc cùng dòng máu giam cầm, hành hạ, tra tấn, nhục mạ và thậm chí cố tình giết chết bằng mìn hay súng AK. Ngày trở về có thể là vài năm, năm mười năm, gần hai chục năm hoặc không bao giờ có ngày trở về mà thân xác mãi chôn vùi nơi rừng thiêng nước độc! Có người trở về với thân tàn ma dại, nhà cửa tan hoang, vợ con tứ tán, gia đình tan vỡ, nhưng vẫn phải tiếp tục cuộc sống đau thương cho hết kiếp!

Vô số thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa là những thân phận tận cùng của sự “vẫn phải tiếp tục cuộc sống đau thương cho hết kiếp” bởi vì sau ngày “Bắc Nam chung một nhà” họ đã bị tước quyền “được sống như một con người” dù họ đã mang tấm thân tàn phế. Nhiều người trong số họ không còn nhà cửa, cha mẹ, vợ con, người yêu, tứ cố vô thân không nơi nương tựa. Hàng ngày họ đã phải lê lết phần thân thể còn lại (vâng, một phần thân thể khác của họ đã mất đi trong lúc chiến đấu chống giặc để đồng bào miền Nam chúng ta được vui sống!) khắp đầu đường xó chợ để xin tình thương bố thí của tha nhân, hay bươn chải chật vật để kiếm miếng cơm manh áo qua ngày. Sau bao năm không được sống như một con người đúng theo ý nghĩa của nó, một số đã gục ngã trước số phận nghiệt ngã trong chế độ “xã nghĩa”. Đến một ngày, khi phong trào tri ân và yểm trợ thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà được phát động, tình “em hậu phương, anh tiền tuyến” và nghĩa “huynh đệ chi binh” luôn trong tâm khảm của những huynh trưởng, đồng đội năm xưa và thân hữu của họ đã phần nào mang lại niềm an ủi và xoa dịu nỗi đau về thể chất lẫn tinh thần của các thương phế binh còn sống sót.

Vậy mà bọn tà quyền cộng sản, trong sự thù hận điên cuồng đã ngăn chặn và dập tắt chút hi vọng mong manh và niềm an ủi muộn màng đến với các chàng trai đầy nhiệt huyết tòng quân năm nao nay đã là những ông già thương tật, ốm đau, nghèo khổ và cô thế. Hình ảnh chiếc nạng và hai cái chân gỗ của một thương phế binh ở vườn rau Lộc Hưng chạy không kịp mang theo khi căn phòng tưởng là nơi nương náu cuối cùng của đời họ đã bị công an giựt sập để cướp đất năm 2019 đã trở thành một biểu tượng sống động về thân phận bi thương của các thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà.

Thương sao những người lính quốc gia! Người sống bị bức bách tù tội, kẻ thương phế sống như những bóng ma lây lất, mà cả những xác thân đã bao lâu nằm yên trong lòng đất mẹ cũng không sao thoát khỏi sự trả thù đê tiện mà chỉ cộng sản mới có thể thực hiện. Nghĩa trang quân đội Biên Hoà của Việt Nam quốc gia với bức tượng “chiến sĩ thương tiếc” linh thiêng đã bị giựt sập và những nấm mồ hoang lạnh bị đập phá hay bị cây cối cố tình trồng bừa bãi san bằng không chút tiếc thương!

Thế hệ trẻ sinh sau nếu không thấy, không trải nghiệm cuộc chiến với những khổ đau mất mát hay những năm tháng đen tối nhất của thời hậu chiến mà thế hệ ông bà, cha mẹ họ đã chịu đựng thì họ cũng có thể thấy những dấu tích lịch sử làm bằng chứng, những hình ảnh, những cuốn phim tài liệu, bài viết, hồi kí, sách vở có giá trị trên các mạng xã hội không thiên tả, hay trong các thư viện của các quốc gia dân chủ ngoài Việt nam.

Nếu họ sáng suốt không bị vỏ vật chất hào nhoáng bọc ngoài che lấp để thấy rõ bên trong những tệ nạn, bất công, sự suy đồi và xuống cấp về mọi mặt của xã hội Việt nam từ sau 1975 đến nay,

Nếu họ công nhận hiểm họa mất nước và diệt vong là điều không tránh khỏi với sự ích kỉ, tham lam và yếu hèn của đảng cầm quyền cộng sản,

Nếu họ công tâm so sánh nước Việt nam với các nước tiến bộ khác trên thế giới, đặc biệt về tự do, dân chủ bao gồm nhân quyền và dân quyền căn bản,

Thì chính họ sẽ tìm thấy ý nghĩa tưởng niệm sâu xa của ngày 30/4/1975, sự tri ân sâu sắc đối với quân dân cán chính và đặc biệt là các chiến sĩ trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã từng hi sinh quên mình cho một miền Nam, một “hòn ngọc Viễn đông” thịnh vượng, tự do phi cộng sản.

Xin mượn lời mở đầu của bài hát “Giã từ vũ khí” của Trịnh Lâm Ngân “rồi có một ngày, sẽ một ngày” khi tất cả dân Việt dù ở bất cứ chân trời nào đều bừng tỉnh và cùng tìm thấy ý nghĩa tưởng niệm, cùng trỗi lên lòng tri ân đó, cùng nhìn rõ sự thụt hậu của đất nước và hiểm họa diệt vong của dân tộc thì chúng ta sẽ không cần nói đến cụm từ “hoà hợp hòa giải” vì trong mỗi chúng ta, chế độ cộng sản tàn ác chỉ là một cơn ác mộng vừa qua đi và sẽ không bao giờ trở lại!

Tác giả: hậu duệ của Bắc kì di cư chống cộng, 1954

Khiếu Ngọc Lam (Ái nữ GS Khiếu Đức Long)