Hang en tuyet – Ngo Nguyen Dung

Trích đoạn tiểu thuyết nầy của tôi được chính tôi phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ, không sử dụng bất cứ trợ sức nào của công cụ trí tuệ nhân tạo AI theo nguyên tắc sáng tác của tôi:

“Nói không với AI, không ẩn giấu tông tích, không dùng bút danh khác giới tính, không sử dụng ảnh chân dung giả.”

Trân trọng.

*

Không một ai biết anh Hạo, người được dân làng gọi là họa sĩ, xuất thân từ đâu. Nghe giọng nói, đoán rằng anh là dân miền Trung trôi giạt tới đây. Anh được nhà sư trú trì ngôi Phật tự nơi đây cho tá túc và lãnh nhiệm vụ chăm sóc miếng đất trồng rau củ. Biệt tài vẽ tranh của anh được biết tới, khi bọn trẻ chăn trâu tìm thấy những hình vẽ bằng ngói đỏ trên vách đá dưới chân núi cấm. Nơi đó nứt ra một rãnh hẹp dẫn vô hang én, bên trong ngoằn ngoèo một dòng nước trong veo. Tới mùa khô, anh Hạo vào ra nơi đó mỗi ngày nhiều bận để lấy nước. Những đêm oi bức, anh ngủ lại.

Những hình vẽ được tìm thấy phác họa cảnh đàn bà vú vê núng nính, trần truồng nhảy múa quanh đức Phật trong lúc liên hoa thiền tọa. Đúng là báng bổ thần thánh, dân làng hô hoán, sau khi nghe chuyện và lũ lượt kéo tới xem tranh. Nhà sư trú trì được thông báo ngay tức thì. Trái với dự đoán, nhà sư không một lời quở trách anh Hạo, mà chỉ ôn tồn khuyên anh vẽ lại hình ảnh mấy người đàn bà, khoác thêm cho họ mảnh vải che thân và điều chỉnh vòng ngực họ theo kích cỡ trung bình. Kể từ đó, anh Hạo được giao cho nhiệm vụ vẽ lên tường những mốc điểm quan trọng của cuộc đời đức Phật, cũng như chăm lo việc trang hoàng chánh điện.

Vóc người anh Hạo cao lớn hơn một người An-nam bình thường và có dáng đi lom khom như muốn thu người nhỏ lại. Dạo ấy tóc anh cạo trọc, nhưng không bao giờ nhẵn nhụi, như thể được cạo bằng một lưỡi dao lụt. Khuôn mặt anh rỗ chằng rỗ chịt, vuông vức như một bàn cờ tướng. Bộ râu quai hàm lơ thơ lún phún, ngó giống như một người tiền sử, tương phản với ánh mắt mềm mại và nụ cười ngại ngùng. Theo lời lũ trẻ, anh có những hành động vô cùng kỳ quặc, nhất là khi anh vẽ, tựa như người say rượu đang hoang tưởng và đang biểu diễn vũ khúc mê hoan bằng màu ngói đỏ. Lúc đó, trong chiếc quần xà lỏn vá miếng manh mún và với hai cánh tay dài quá khổ, anh huơ tay múa chân, như thể muốn chụp bắt những mảnh vụn ý tưởng phất phơ trong không khí và ráp chúng lại từng mảnh lên tranh. Mỗi khi hoàn tất một nét vẽ tuyệt hảo, anh bật tiếng rú rống dã thú, nghe đến rợn người. Dẫu vậy, lũ trẻ con kháo nhau, lần nào gặp anh cũng hào hứng, vì anh thường kể cho chúng nghe nhiều mẩu chuyện thú vị. Một trong số đó là câu chuyện về nguồn gốc hang én.

Hang động và dòng nước trong vắt như pha lê nầy, theo lời anh Hạo, bắt nguồn từ một rặng núi phủ tuyết quanh năm thuộc xứ Tây Tạng cách đây hằng ngàn cây số. Tây Tạng ở đâu và tuyết là cái gì, lũ trẻ thắc mắc. Anh Hạo cũng không thể giải thích rành rẽ, bởi vì anh biết được những thông tin nầy từ một thần lực siêu phàm trong khi ngủ, anh trả lời bằng vẻ mặt bí ẩn. Tuyết là cơn mưa những nụ bông trắng bung nở từ mây rớt xuống lúc trời lạnh, anh giải thích. Nơi đó có một hồ nước nhuộm bảy sắc cầu vồng, được dân miền núi đặt tên là “Hồ Luân Hồi”. Mọi vong hồn thoát ra từ thể xác sau khi chết đều tụ tập tại đó, dưới đáy nước màu lục sẫm, chờ thời điểm thích hợp cho mỗi người, để đi đầu thai. Theo anh, vùng đất đó là nơi khởi thủy của mọi động vật. Anh tin rằng, bản thân anh không gì khác hơn là người được tích tụ từ hằng hà sa số thể phách của nhiều kiếp trước. Với hai cánh tay dài quá khổ của loài khỉ dã nhân. Với thị giác tinh xảo của loài ó biển. Với bản tính bẩm sinh của một người có thị giác ghi nhận và diễn tả được mọi hình thể cùng màu sắc. Khi được hỏi, khi nào và từ đâu anh thấy được cảnh tượng những người đàn bà phô trương lộ liễu vây quanh đức Phật, anh Hạo xẳng giọng, họ bất thần hiện ra trong giấc chiêm bao, khắc dấu không phai trong tâm khảm anh.

Khi nói về bầy chim én tuyết, anh đã từng tán dương, rằng chúng rất dễ thương và ngôn ngữ của chúng vô cùng tuyệt vời. Thật vậy, anh có thể hiểu được tiếng chim hót, anh nói với lũ trẻ đang trố mắt ngạc nhiên. Chúng là loài chim thiên di có gốc gác từ cao nguyên Tây Tạng, tới đây trốn lạnh vào mùa khô từ tháng mười một tới tháng tư. Tại đất quê hương, từ tháng năm tới tháng chín, chúng đẻ và ấp trứng, sau đó giáo huấn lũ chim con những phương án chuẩn bị cho hành trình xuôi nam chông gai sắp tới. Chúng phải hiểu rằng, chỉ những con mạnh mẽ mới có cơ hội sống sót.

Năm nào cũng như năm ấy, vừa lúc ngọn gió đông chuyển hướng và cái nóng khô khốc từ núi rừng tây bắc Lào thổi về, anh Hạo lại nôn nao ngóng chờ thời điểm bầy én tuyết Tây tạng trở lại. Chúng thường tới bất ngờ lúc hoàng hôn chạng vạng. Quả là một cảnh tượng huy hoàng. Anh cất cao giọng và ra điệu như đang đóng tuồng, nhằm diễn tả cho lũ trẻ con thấy ra hoạt cảnh thiên nhiên khi ấy. Với năng khiếu diễn xuất tài tình, anh đổi giọng khi trầm khi bổng để lột tả  nội tâm. Thoạt tiên, ta chỉ bắt được một âm thanh khe khẽ, tựa như chuỗi tiếng động của hằng ngàn con sáo diều đồng loạt vang lên nơi chân trời ráng đỏ màu trứng cá. Khoảnh khắc lặng lẽ thê thiết buổi chiều tà đột ngột ngưng ngang. Lũ chim én tuyết hiện ra, từng bầy nối nhau. Tấu khúc những cánh chim nhào lộn trên không lớn dần, vang dội rối rắm và đổi thành một đại lễ âm nhạc đột phá, để tán dương thời khắc trở lại. Ta chỉ có thể suy đoán, bằng cách nào lũ chim nầy ghi nhớ những địa điểm nằm trên bản địa đồ kiểu ấy. Trước khi bầy chim lao mình gọn bâng vô hang động như những mũi tên được bắn ra bách phát bách trúng từ hằng ngàn cây cung vô hình, chúng lượn vòng đôi lần trên mái trời mưng máu không một gợn mây, dường như chúng cất tiếng chào đón nhân gian bằng những đường bay ngoạn mục.

Những ngày sau đó, bầy én tuyết, anh Hạo thì thầm, thuật lại cho anh nghe những biến cố vừa qua nơi cao nguyên Tây Tạng: Những ai đã qua đời, bao nhiêu chim con chào đời, bằng lời lẽ bình thản, như thể chuyện sinh tử là hai điều hiển nhiên trong cuộc sống.

“Bằng cách nào mấy con chim tìm được đường tr lại đây và về nhà vậy anh?”, một cậu hỏi.

“Bằng mùi hương”, anh Hạo đáp gọn và ngó đăm đăm vô những cặp mắt mở lớn và những cái miệng há hốc của đám trẻ chăn trâu. Anh tiếp giọng thầm thì: “Khác với loài người, loài chim én có một khứu giác vô cùng nhạy bén, để có thể nhận ra mùi quê nhà.”

Trong khi đám con trai còn ngậm câm sửng sốt, anh Hạo vẫn say sưa đắm mình trong cảnh giới hoang tưởng và kể tiếp:

“Cũng như loài người, mỗi một nơi chốn, mỗi một vùng đất trên thế gian bao la nầy đều có một mùi riêng biệt. Nó được kết tụ từ cảnh giới thực và động vật đặc trưng, tùy thuộc ở tính chất của đất đai và thời tiết. Mũi chúng ta không thể nhận ra, nhưng mũi loài chim én thì được. Mấy đứa tin vậy đi!”, anh cất cao giọng. “Chúng nó nhận ra được hương thơm quê nhà. Biết đâu chừng, nếu như chúng ta gắng sức một chút, cũng có thể hửi được như chúng. Thử không?”

“Thử, thử”, lũ trẻ chăn trâu tở mở.

Anh Hạo ngồi bệt xuống, khép mắt. “Mấy đứa im lặng cái coi!”, anh ra lệnh.

Lũ trẻ ngừng tiếng khúc khích và hít vào thở ra theo lời anh.

“Hít sâu vô và thở ra chậm rãi! Mấy đứa tập trung vô giữa hai chân mày! Bây giờ mấy đứa đưa ý nghĩ xuống dưới, dọc theo sóng mũi. Từ từ và chú tâm. Cho hơi thở dừng lại trên cánh mũi! Nở hai cánh mũi rộng ra khi thở vô! Thở vô, nở ra. Thở ra, xẹp xuống. Vô, nở. Ra, xẹp …”

Trong động đá tĩnh lặng, giây phút nầy, chỉ nghe mỗi tiếng suối róc rách. Thảng hoặc một luồng gió rít ngang, xua tan giây lát sức nóng ngột ngạt.

“Đúng rồi, anh Hạo ơi…”, một giọng rụt rè cất lên.

“Nói đi, em hửi thấy mùi gì?”, anh Hạo mở mắt nhìn về hướng phát ra tiếng nói.

“Mùi  ruộng lúa vừa gặt.”

“Nhưng mà em…, anh ơi…”, một đứa khác góp lời, “em lại hửi thấy mùi bùn non.”

“Còn em lại hửi thấy mùi cứt trâu”, một đứa nói trong tràng cười rộ lên.

“Còn em… em…”, một đứa khác lắp bắp ngại ngùng, “không biết sao, em không… không… hửi thấy mùi gì hết vậy ta!”

“Còn anh Hạo hửi thấy mùi gì?”, một đứa hỏi.

“Anh lại hửi ra mùi thơm của xoài chín. Phưng phức tuyệt vời!”, anh Hạo khép mắt lại và hít một hơi sâu. Nụ cười bừng lên rạng rỡ trên khuôn mặt anh.

(04.2026)

. . . . . . . . .

(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.

Nguồn ảnh từ tin mạng.