Hai Ngôi Sao Sớm Tắt: Thầy Nguyễn Minh Đức, Vị Hiệu Trưởng Cuối Cùng Của Petrus Ký & Thầy Huỳnh Hữu Thọ, Phụ Tá Giám Học Petrus Ký
Viết theo lời của Dương Tử
Nguồn: Đặc san “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô” – Học trò Petrus Ký
Thầy Nguyễn Minh Đức trong Kỷ Yếu Petrus Ký 1972 – 1973.
Hình dưới: Thầy Nguyễn Minh Đức và học sinh Petrus Ký lớp 12A1, niên khóa 70 – 71 [Nguồn: petrusky.org]
Sau khi thầy Hiệu Trưởng Bùi Vĩnh Lập đi tu nghiệp tại Úc Đại Lợi vào năm 1973, thầy Nguyễn Minh Đức lên thay thế và giữ chức vụ Hiệu Trưởng cho đến ngày chính biến 30 tháng 4, 1975.
Tôi không biết nhiều về thầy Đức (cũng như thầy Thọ) ngoại trừ những gì tôi viết ở trên vì không học với cả hai thầy và khi hai thầy lên làm Hiệu Trưởng và Phụ Tá Giám Học, bọn tôi đã ra trường. Tuy nhiên tất cả thầy cô và cựu học sinh Petrus Ký luôn ghi nhớ về hai thầy vì nhiều lý do. Lý do thứ nhất, các thầy đã tổ chức ngày Truyền Thống 1972. Lý do thứ nhì, các thầy đã thực hiện quyển Kỷ Yếu Petrus Ký vào niên khóa 72-73. Đây là một tài liệu rất có giá trị ghi lại hình ảnh thầy cô, học sinh các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Nhất năm 72 – 73, và những hình ảnh rất đặc thù của Petrus Ký. Và thầy Đức là vị hiệu trưởng cuối cùng của Trung Học Petrus Ký.
Nguyễn Thế Vinh (cựu học sinh Petrus Ký 71 -78) đã nhớ thầy Đức trong bài viết đăng trên http://lehongphong.net:
Thầy Tôi
(Kính dâng hương hồn Thầy Nguyễn Minh Đức, Hiệu Trưởng cuối cùng của trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký)
Khi tôi đặt chân vào trường Petrus Ký thì thầy đã là Hiệu Trưởng rồi. Thầy thật hiền từ, oai phong, đường bệ và cũng rất nhân hậu. Thầy ít nói, hay mặc bộ đồ vest chững chạc. Thỉnh thoảng có đi lên văn phòng lấy sổ sách cho thầy cô, gặp thầy băng ngang qua hành lang danh dự, tôi luôn sợ hãi, khoanh tay cúi đầu chào thầy rồi nhanh nhanh mà quẹo qua đường khác mà đi.
Trong suốt những năm học ở Petrus Ký, tôi chưa hề là một học sinh giỏi để được nhận phần thưởng cuối năm, để được cái sung sướng được thầy xoa đầu rồi bắt tay và ban cho những lời khích lệ. Thế nhưng, hình ảnh thầy luôn là một bậc Thầy kính yêu trong lòng tôi. Tôi kính nể Thầy tuyệt đối.
Trường trải qua cơn dâu bể… Thầy hết làm Hiệu Trưởng. Thầy dạy Pháp Văn. Tôi học Anh Văn nên chẳng có cơ hội được Thầy giảng dạy. Có hôm tôi nhìn thấy Thầy đau xót nhìn người ta bứng đi hai bụi trúc vĩ đại trước công trường, niềm tự hào của Thầy trong bao năm, để trồng sâm đại hành. Tôi thương thầy quá, đi ngang vòng tay chào Thầy. Thầy hỏi tôi: “Em học lớp nào của Thầy mà sao Thầy không biết?” Tôi nghẹn ngào thưa Thầy: “Thưa Thầy, con học Anh Văn nên không được thầy dạy, nhưng Thầy là thầy Hiệu trưởng của con, từ khi con mới vào trường này”. Thầy cười dịu dàng: “Thôi, ráng học đi em” rồi lặng lẽ cúi đầu bước đi…
Gần năm sau, Ba tôi đột ngột qua đời. Khi đó anh tôi đang học lớp của Thầy. Đêm đó, tôi đang quỳ bên quan tài ba tôi lẩm nhẩm tụng kinh thì Thầy tới thăm. Tôi xúc động lắm. Có bao giờ tôi dám nghĩ là Thầy Hiệu Trưởng lại quá bước đến căn nhà nghèo nàn trong hẻm sâu này để thăm gia đình tôi trong lúc hoạn nạn?
Thầy thắp nhang cho ba tôi, tôi quỳ lạy Thầy trả lễ. Thầy ra ngồi nói chuyện với Mẹ tôi, chia buồn và ngỏ lời khen anh tôi, vốn là một học sinh xuất sắc của Thầy. Tôi mặc đồ tang, ra ngoài sân đứng tiễn Thầy. Khoanh tay chào Thầy: “Con cám ơn Thầy”, Thầy xoa đầu tôi: “Em học lớp mấy? Em là em của Hiệp hả?”. Tôi thưa thầy: “Dạ, con học 10 C5, con là em kế anh Hiệp con”. Thầy thương cảm: “Tội nghiệp em, thôi thì ráng mà an ủi Mẹ em”, rồi Thầy móc túi cho tôi ít tiền: “Em cất đi mà phụ giúp Mẹ”. Tôi run run ứa nước mắt cúi đầu tạ ơn Thầy….. Thầy đã cho tôi số tiền lớn hơn cả thu nhập trong một tháng của gia đình tôi lúc ấy… Tôi đưa Mẹ… Mẹ tôi cũng khóc….
Rồi sau đó, Thầy nghỉ dạy rồi Thầy xuất cảnh. Sau đó vài năm bặt tin Thầy, khi gia đình tôi chuẩn bị ra đi thì bàng hoàng đau xót hay tin Thầy đã mất vì bạo bệnh….
Trong suốt cuộc đời, cho dù tôi đã không thành đạt được gì để có thể dâng lên Thầy như một lời tri ân, tôi luôn khắc ghi trong lòng hình ảnh kính yêu và tấm lòng độ lượng nhân hậu của Thầy Tôi, một vị Thầy mà đức hạnh, tài năng và tấm lòng đã toả sáng cho cả một thế hệ học trò chúng tôi.
Thầy Dương Ngọc Sum đã nhớ về thầy Đức như sau:
Thầy Đức có dáng người hơi phốp pháp, không cao lắm, khuôn mặt tròn, tướng đi chậm rãi, giọng nói hơi nhừa nhựa, khi cười khóe miệng hơi xếch, và thầy thích hút thuốc cigare nhỏ hiệu Tipalleros. Khi thầy Đức học xong bậc Tiểu Học, thầy Đức thi đậu vào 6e Moderne tại trường Chasseloup Laubat (sau đổi lại là Jean Jacques Rousseau và cuối cùng là Lê Quý Đôn) vào niên khóa 52- 53, và là bạn cùng lớp của thầy Nguyễn Lộc Thọ tại Chasseloup Laubat (thầy Thọ có dạy lớp đêm tại Petrus Ký và hiện định cư tại Nam California).
Sau khi lấy bằng Tú tài Pháp, thầy Đức thi vào Đại Học Sư Phạm ban Pháp văn. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Đức được bổ nhiệm về dạy tại trường Sư Phạm Vĩnh Long và sau đó được chuyển về dạy Pháp văn tại Petrus Ký. Năm 1972, thầy Đức được cử lên làm Hiệu Trưởng tại Petrus Ký khi thầy Bùi Vĩnh Lập đi tu nghiệp.
Thầy Nguyễn Minh Đức mặc dầu sinh năm 1938, tuổi Mậu Dần, nhỏ hơn thầy Sum 3, 4 tuổi nhưng thầy Sum thân với thầy Đức vì ngoài tình đồng nghiệp tại Petrus Ký, thầy Sum còn quen với người anh cột chèo của thầy Đức (thầy Trần Hữu Danh, một trong những Thanh Tra làm việc chung với thầy Sum ở khối Nghiên Cứu và Phát Triển Giáo Dục. Hiện thầy Danh định cư bên Pháp) và em của thầy Đức (thầy Nguyễn Minh Thắng).
Năm 1972 thầy Sum lên làm cho bộ Giáo Dục và năm sau, 1973, thầy Bùi Vĩnh Lập đi Úc, ban Giám Hiệu mới của trường gồm có: thầy Đức, thầy Trần Thành Minh (Giám Học, thay thầy Sum) và thầy Huỳnh Hữu Thọ (giáo sư Anh Văn, Phụ Tá Giám Học) (xem phụ chú ở cuối bài).
Thầy Huỳnh Hữu Thọ [Nguồn: cô Nguyễn thị Ngọc Băng]
Thầy Sum kể chuyện:
Mặc dầu lên bộ Giáo Dục làm việc, thầy vẫn nhớ về trường và tìm cách giúp đỡ. Việc thay thế các thầy Hiệu Trưởng, Giám Học và phụ tá Giám Học gần như đồng loạt vào năm 72 – 73 tại Petrus Ký gây nhiều lúng túng trong nội bộ và thầy Huỳnh Hữu Thọ đã vấn kế thầy vì thầy trước đây đã làm Giám Học của trường. Thầy đã đề nghị với thầy Nguyễn Thanh Liêm, lúc ấy là Phụ Tá Bộ Trưởng Giáo Dục, thăng chức thầy Huỳnh Hữu Thọ và chuyển thầy Thọ về làm Hiệu Trưởng trường Hoàng Thụy Năm để giải quyết vấn đề. Thầy Nguyễn văn Hiệp (hiện định cư tại Vancouver, Canada) được đề cử thế thầy Thọ trong chức vụ Phụ Tá Giám Học.
Vì thế cả thầy Thọ và thầy Đức, không nói ra, nhưng đều nhớ ơn thầy Sum đã dàn xếp chuyện một cách êm đẹp.
Sau 4/1975, thầy Đức bàn giao chức Hiệu Trưởng lại cho thầy Nguyễn văn Thiện (1), là cựu giáo sư Pháp văn của trường và dọn ra khỏi nhà Hiệu Trưởng của Petrus Ký ở góc đường Nguyễn Hoàng và Cộng Hoà về cư ngụ tại đường Thoại Ngọc Hầu, gần nhà thờ Ba Chuông.
Thầy Đức được bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1989. Thầy Sum cho biết thầy Đức trước sau cư xử rất tốt với anh em, đồng nghiệp, và hay giúp đỡ bạn bè nên được nhiều thầy cô và nhân viên trường thương mến.
Thầy Sum kể câu chuyện vui sau:
Thầy Đức có tính đôn hậu, chân thật của người miền Nam, nên đôi khi không khéo lời.
Năm 1990 khi thầy Sum sang Mỹ theo diện HO (Humanitarian Operation) và gặp lại thầy Đức tại Nam California. Hai anh em mừng rỡ gặp lại nhau. Nhân dịp này, thầy Đức tặng cho thầy Sum chiếc xe Peugeot cũ để có phương tiện di chuyển và chỉ bảo cho thầy Sum cách tìm việc làm. Khi tặng xe, thầy Đức thật tình nói với thầy Sum:
– “Toi hên lắm đấy. Chiếc xe này “moi” định cho thằng Thắng, em “moi” cũng vừa qua Mỹ theo chương trình HO như “toi”, nhưng nó chê nên mới đến tay “toi”. Ở nhà phải hùn tiền mua cho nó chiếc xe mới hơn. Chiếc xe này cũ, nên mai có rảnh “toi” đưa xe đi check smog đi.
Thầy Sum biết tính thầy Đức thật tình nên không tự ái và nhận xe rồi cám ơn thầy Đức qua bài thơ trào phúng sau:
Cảm ơn anh Đức đã cho xe
“Mai rảnh đem đi “xét móc” (check smog) nghe!”
Xe cũ dẫu cho rằng chẳng “pát” (passed)
Đô la đem dán cũng xong hè
Con đi học sớm thường không ngán
Vợ đến chợ chiều cũng chẳng “ke” (care)
Cũ người ta mới, năng chăm sóc
Cà rịt cà tang cũng khỏe re
Thầy Sum nói mỗi lần bạn bè nhắc về thầy Nguyễn Minh Đức và người em của thầy Đức, Nguyễn Minh Thắng, là các thầy lại buồn cười vì mặc dầu song thân của thầy Đức đặt tên cho hai thầy Đức- Thắng với ý nghĩa “Đức Năng Thắng Số” (người ăn ở có đức có thể thắng số mệnh) nhưng đám bạn của hai thầy lại gọi trêu là hai thầy là anh em “Đứt Thắng”.
Thầy Sum tưởng nhớ thầy Đức:
Nghĩ lại thấy buồn và thương thầy Đức rất nhiều vì mặc dầu thầy Đức tận tình giúp thầy Sum khi thầy Sum vừa qua Mỹ nhưng lúc ấy thầy Đức cũng lận đận đi tìm việc cho chính mình vì qua đây đã lớn tuổi và gặp lúc kinh tế Hoa Kỳ đang đi xuống vào các năm 1990 – 1993.
Không quên nghiệp giáo nên vào năm 1992-1993, thầy Đức đã ký hợp đồng với Liên Hiệp Quốc để sang đảo Galang (Nam Dương) dạy học cho các trẻ em trong trại tị nạn. Mới đầu thầy chỉ dự định làm việc một năm tuy nhiên hợp đồng này được triển hạn thêm cho đến khi các trại tỵ nạn tại Nam Dương đóng cửa vào 1993-1994, thầy Đức mới trở lại Hoa Kỳ.
Tháng 2, 1994, thân sinh thầy Đức mất tại Orange County, thầy cô và cựu học sinh Petrus Ký tham dự khá đông đủ.
Năm 1994, trong lúc thầy Đức còn làm việc ở Galang, cô Đức (cô Bạch Yến) xin được một chân Y Tá tại Oregon, nên khi thầy Đức trở về Hoa Kỳ, thầy Đức dự định dọn lên Oregon với cô. Các bạn đồng nghiệp tại Petrus Ký của thầy cô Đức tại Nam California đã luyến tiếc đưa tiễn thầy lên Oregon bằng cách thay phiên nhau làm tiệc tiễn đưa thầy. Trước khi lên đường lên Oregon ngày 12 tháng 5 năm 1994, thầy Đức đã ăn sáng, uống cà phê với thầy Sum và thầy Nguyễn Anh Tuấn tại Lyly Bakery (trên đường Bolsa). Không ai ngờ đó là lần cuối cùng các bạn bè đồng nghiệp gặp thầy Đức.
Vị Hiệu Trưởng trẻ cuối cùng của Petrus Ký đã đột ngột qua đời vào ngày 12 tháng 6 năm 1994, đúng một tháng sau khi rời khỏi Nam California, tại tiểu bang Oregon, hưởng thọ 56 tuổi.
Thầy Sum thương tiếc bạn, nhưng vì đường xá xa xôi, không thể viếng thăm thầy Đức nên chỉ đăng báo và gởi thiệp phân ưu đến gia đình thầy. Thầy Bùi Trọng Chương, cư ngụ tại Beaverton, Oregon, đã đại diện thầy cô Petrus Ký ghé qua dự tang lễ của thầy Đức. Cô Bạch Yến sau đó, có trở lại Nam California cúng cầu siêu cho thầy Đức tại chùa Liên Hoa và các thầy cô Petrus Ký tại Nam California đã tham dự đông đủ. Sau khi thầy Đức qua đời, cô Bạch Yến sống ẩn dật, ít giao tiếp với mọi người.
Thầy Sum có nhắc về hai người con của thầy Đức. Nguyễn Minh Cương, trưởng nam thầy cô Đức, đã thành hôn và gia đình thầy Sum đã phụ cô Bạch Yến lo việc hôn lễ cho Cương. Nghe tin cô Bạch Yến hiện nay đang chuẩn bị hôn lễ cho người con trai thứ nhì của thầy cô.
Thầy Nguyễn Sỹ Thân đã chia sẻ một trong những tấm ảnh cuối cùng của thầy Nguyễn Minh Đức khi vợ chồng thầy ghé Bắc California dự lễ cưới của trưởng nam của thầy Thân.
Vợ chồng thầy Nguyễn Minh Đức (bên phải) và thầy Nguyễn Sỹ Thân (đứng giữa) vào ngày cưới con trai của thầy Thân [Nguồn: thầy Nguyễn Sỹ Thân]
Phụ chú:
1) Thầy Huỳnh Hữu Thọ:
Thầy Huỳnh Hữu Thọ, cũng như thầy Nguyễn Minh Đức, thầy Nguyễn văn Quảng, cô Nguyễn thị Liên là một trong những vị giáo sư khá trẻ của Petrus Ký đã sớm qua đời sau khi ra định cư tại hải ngoại.
Cuối niên khóa 72-73, thầy Huỳnh Hữu Thọ được bổ về làm Hiệu Trưởng trường Hoàng Thụy Năm (nếu không lầm tọa lạc tại gần Hồng Thập Tự và Cống Quỳnh). Trường Hoàng Thụy Năm là một trường được thành lập vào thập niên 1960 để chuyên dạy trẻ em khuyết tật (mù). Việc dạy học cũng như điều hành ngôi trường này đòi hỏi những nhà giáo yêu thương và tận tụy với học trò. Thầy Thọ đã có trách nhiệm trong các thành quả giáo dục của trường Hoàng Thụy Năm. Khi tôi biết tin thầy Thọ định cư tại Toronto, tôi hỏi Trần Hữu Nhứt, ông bạn chủ nhà sách Việt Nam tại Toronto, về gia đình thầy, Nhứt trả lời:
– “Thầy Thọ mất lâu rồi”. Vợ thầy Thọ, cô Ngọc Băng, và gia đình có thương nghiệp cũng gần tiệm sách của Nhứt. Lúc trước, cô thường hay ra tiệm của Nhứt mướn phim về xem. Nhưng cả năm rồi Nhứt ít thấy cô.
Khi tôi hỏi thêm Nhứt về sức khỏe của cô và gia đình. Nhứt viết: “Cô còn trẻ và khỏe lắm. Các người con của thầy rất thành công trên thương trường”.
Trong tâm, tôi cứ ngỡ nếu thầy Thọ còn sống, thầy chắc khoảng 65 tuổi vì khi tôi còn là học trò tại Petrus Ký, tôi nhớ thầy còn trẻ măng. Khi tôi liên lạc được với cô Ngọc Băng, hiền thê của thầy Thọ, tôi hỏi cô lúc nào thầy mất và nếu thầy còn sanh tiền, có phải thầy khoảng 65?
Cô Ngọc Băng cười và tâm sự:
– Thầy cùng tuổi với cô, hai người cùng năm sanh 1937. Sau khi thầy có Cử Nhân Anh văn tại Đại Học Sư Phạm, thầy dạy học một thời gian thì bị động viên vào khóa 16 Trừ Bị Thủ Đức. Sau khi mãn khóa 16, thầy về dạy Anh văn tại trường Sinh Ngữ Quân Đội trước khi về dạy tại Petrus Ký một thời gian, rồi sau đó lên chức Phụ Tá Giám Học.
Cô tiếp:
– Vào năm 1973, khi thầy được bổ nhiệm về làm Hiệu Trưởng của trường Hoàng Thụy Năm, lúc ấy cô cũng đang dạy tại Hoàng Thụy Năm. Thầy Thọ ngại thầy cô và nhân viên trường xầm xì “ông Hiệu Trưởng”, “bà Hiệu Trưởng” nên sau đó cô xin đổi qua dạy tại Trung Tâm Lê Quý Đôn.
Sau 4/75, gia đình thầy cô cũng bị nhiều gian khổ vì thầy là sĩ quan biệt phái. Vì thế năm 1979, thầy vượt biên đi trước với hai người con trai của thầy cô. Với khả năng sư phạm của thầy, ba cha con được nhận ngay vào Canada và định cư tại Toronto. Năm 1981, cô và cô con gái út được sang đoàn tụ cùng thầy và các con. Rất tiếc, thầy mất sớm vào năm 1992, hưởng thọ 55 tuổi. Hiện giờ, hai người con trai của thầy cô có thương vụ tại Toronto nên sống cũng gần cô.
Hai tháng trước, tôi gọi điện thoại thăm cô mà không gặp là vì cô sang thăm gia đình cô con gái của thầy cô tại Boston. Con gái của thầy cô sang du học tại Boston, rồi lập gia đình và ở luôn bên đó.
Cô Nguyễn thị Ngọc Băng [Nguồn: cô Nguyễn thị Ngọc Băng]
2) Thầy Nguyễn văn Thiện:
Thầy Dương Ngọc Sum cho biết thầy Thiện dạy Pháp văn tại Petrus Ký, cùng thời với thầy Sum. Vì hoạt động chính trị, thầy đã phải rời trường từ năm 1960. Sau 30 tháng 4, 1975, thầy Thiện được chính quyền mới chọn thay thế thầy Đức làm Hiệu Trưởng của trường LHP vì thầy Thiện quen biết các giáo sư và nhân viên cũ của Petrus Ký nên dễ làm việc. Sau 1977, thầy Thiện lại bị đổi về trường Trần Khai Nguyên, nằm trên đường Nguyễn Tri Phương, nhưng thầy Thiện vẫn tiếp tục cư ngụ trong căn nhà Hiệu Trưởng tại góc đường Nguyễn Hoàng và Cộng Hoà và mở quán cà phê tại đây. Trước khi thầy Sum qua định cư tại Hoa Kỳ, thầy có ghé qua trường Trần Khai Nguyên và quán cà phê để thăm thầy Thiện.
Thành thật cảm ơn các thầy Dương Ngọc Sum, Nguyễn Sỹ Thân, Bùi Trọng Chương, cô Nguyễn thị Ngọc Băng đã cống hiến tin tức, hình ảnh của thầy Nguyễn Minh Đức và thầy Huỳnh Hữu Thọ. Cảm ơn Nguyễn Thế Vinh (cựu học sinh Petrus Ký 71-78) đã viết “Thầy Tôi”.




