“Đồng môn” là những trò học cùng một thầy,

“Đồng đội” là những người lính cùng một đơn vị.

 Xin mở rộng tấm lòng và vòng tay để người lính già ở tuổi 83 được gọi những người học cùng một trường, dù khác lớp, là “đồng môn”, xin được coi những anh em cùng mặc áo lính, dù khác binh chủng, là đồng đội, để nhắc nhớ đến những đồng đội cũng là đồng môn Petrus Trương Vĩnh Ký trân quý, những vị mà trò tôi đã hân hạnh được tiếp xúc, hoặc sống chung với nhiều kỷ niệm khó quên. Nay thì một số những vị ấy đã an nghỉ chốn bình yên, những ai may mắn còn được thở thì cũng đang bước vào thời kỳ nhớ-nhớ, quên-quên, đang xếp hàng chờ ngày bay về dự ngày đại hội “trăm năm” dưới mái trường xưa, Petrus Trương Vĩnh Ký tại Saigon.

Suốt 7 năm trời ngồi dưới mái trường, rồi tị nạn ở hải ngoại, sinh hoạt cùng hội LPKý Nam CA, trò tôi có nhiều kỷ niệm vui buồn qua các bài viết:

Thày Cũ Trường Xưa.
Sư Huynh Đệ LPK.
Bán Chữ Làm Thày.
Mi Sinh Tiền.
LP Ký, Huynh Đệ Cùng Ký
LPK Họp Mặt Kỷ Niệm 90 Năm.
-LKP Họp Mặt 2022.
LPK Trường Tôi, Khung Trời kỷ Niệm (Đại Hội 2023).
Tình Đồng Đội, Nghĩa Đồng Môn

Tưởng thế đã đủ, nhưng Thày Dương Ngọc Sum bảo: “Tôn Sư Trọng Đạo”, tình đồng môn mãi mãi vẫn còn thì trò còn phải viết. Ban biên tập và Chủ Bút đặc san LPKý ra chủ đề “Truyền Thừa” cho Đại Hội 2024 và bảo tôi viết.

-Dạ (vâng) viết thì viết, tôi mang những bài trước “xào nấu” lại, thêm chút gia vị để có bài mới với tựa đề: “Đồng Đội, Đồng Môn”. Nếu phải nhắc lại những điều đã viết thì xin quí Thày Cô tha lỗi, đồng môn, đồng đội miễn chấp.

“Tôn Sư Trọng Đạo” là kim chỉ nam của học trò, trước khi kể chuyện về đồng môn, tôi xin được nhắc lại quí danh những Thày Cô đã dạy tôi trong suốt 7 năm trời. Khi trò đã 83 tuổi đời thì quí thầy cô đã cao niên. Trò xin được viết quí danh thày cô như một lời thăm hỏi, nếu thày cô nào đã qui tiên thì xem đây như nén nhang lòng, kính dâng lên thày cô để nhớ công ơn dạy dỗ.

Thày Phạm Văn Ba dạy Pháp Văn, Thày Thái, Thày Đồ dạy Anh Văn, Thày Binh dạy hình học, Thày Đảnh, Thày Đính dạy vật lý, Thày Tạ Ký, Thày Thái Chí dạy Việt Văn, Thầy Trọng Phỏng, Cô Sâm, Cô Dung dạy sử địa, Thày Trần Thượng Thủ, Cô Ngà, Cô Thiên Kim, Thày Bích, Thày Giỏi, Thày Sum v.v…

Kể từ ngày rời trường (1962) tới nay (2024), tôi chưa có dịp được gặp lại quí thày cô kể trên, trừ Thày Dương Ngọc Sum. Tôi gặp Thày Sum trong hội LPK Nam CA, Thày là cố vấn, là chỗ dựa vững chắc của hội, Thày và phu nhơn-Cô Hiệp, luôn có mặt trong tất cả sinh hoạt của hội nên Thày Cô được mọi người thương mến kính trọng.

Điểm đáng trân quý là Thày Sum thương mến những người lính-đồng đội của tôi, nên Thày hết lòng yểm trợ các thương phế binh (TPB). Thày khuyến khích tôi viết, mỗi khi có bài về “lính” thì gửi cho Thày đọc. Khi tôi ra mắt sách Nửa Đường, Thày và Hội LPK cùng Uỷ Viên Giáo Dục Westminster Thế Thuỷ đến dự. Khi tôi phát hành Huynh Đệ Chi Binh Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) để gây quỹ cho TPB thì Thày mở rộng tấm lòng và kêu gọi các trò LPK ủng hộ: Quách Đại (10 cuốn), Cao Cường (5c), Thành Lân, Thái Đỗ, T.Vấn, Douglas Trần và những bằng hữu Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt như Doãn Cẩm Liên, Henny Nguyễn, Jackie Trần, Châu Hồng, Tường Vi, Ba Dung, Khôi An, Diệu Hương v.v.. nhờ vậy kết quả tài chánh được khả quan.

Lời Chúa: “Đừng cho tay trái biết khi tay phải làm việc thiện”.

Đó là chuyện của 2 ngàn năm trước, ngày nay cần biết những tấm gương sáng để người người noi theo, vả lại, “tay phải” làm việc thiện ở đây chính là Thày Sum, đồng môn LPK cùng các thân hữu nên cuốn Huynh Đệ Chi Binh đã trao được 6 ngàn đô la cho TPB và cô nhi Thuỷ Quân Lục Chiến.

Thay mặt các TPB, trò xin cám ơn Thày Sum, đồng môn LPK và quí thân hữu.

(H: Thày Sum nhắn nhủ trò Cấp ngày trò ra mắt sách Nửa Đường)

 Các Đồng Môn Cũng Là Đồng Đội.

Đồng môn lớn nhất mà tôi hân hạnh được quen biết, đó là “Anh Sáu” Bồ Đại Kỳ, biệt danh “Bydaiko”. Khi anh tốt nghiệp, rời trường LPK thì tôi mới vô lớp Đệ Thất nên tôi không biết anh. Xưa anh là Không Quân, còn tôi là TQLC, cùng là lính nhưng không biết nhau, cho đến một ngày-năm 2015, tại hải ngoại, tôi được “Exemplary Writer Award” Viết Về Nước Mỹ do Việt Báo tổ chức, người trao giải cho tôi lại là giám khảo Bồ Đại Kỳ. Khi biết tôi là lính, là đồng môn, anh dặn trước:

-Anh là Không Quân, chú là TQLC, chúng ta là đồng đội, nên khi gặp để trao và nhận giải, anh em mình đưa tay chào nhau theo lối nhà binh.

Tôi xúc động và hạnh phúc khi nghe anh nói vậy, khác với 3 lần trước bình thường thôi. Từ đó tôi gọi anh là “Anh Sáu”, anh gọi tôi là “Chú Tư”.

Anh Sáu Kỳ mang cấp bậc Đại Tá. Bình thường thì tôi gọi anh là đại tá như những đại tá khác, nhưng qua cách xử thế của một người anh, nên tôi gọi anh là “Anh Sáu”. Anh Sáu Bồ kính mến của đàn em “hậu bối”.

(H: Anh Sáu Bồ Đại Kỳ và Captovan)

Một đồng môn khác, đồng đội TQLC của tôi là “Anh Sáu” Cổ Tấn Tinh Châu.

Anh Châu là LPK 1948-1954, sau khi ra trường, anh gia nhập Quân Đội, cấp bậc và chức vụ sau cùng là Đại Tá Chỉ Huy Trưởng đặc khu Rừng Sát. Trước đó Anh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/TQLC. Anh cũng là một nghệ sĩ, sáng tác nhạc, vẽ tranh, viết văn. Tại Little Saigon anh và tôi luôn gắn bó với nhau trong sinh hoạt hội LPK và TQLC.

H: Café với anh chị Sáu ngày 7/7/2023 thì anh Sáu Châu đột ngột ra đi ngày 11/7/2023

Anh Sáu Cổ Tấn Tinh Châu có người em ruột là Cổ Tấn Tịnh (dấu nặng) Châu. Tịnh Châu cũng học LPK, tình nguyện về TĐ5/TQLC và Tịnh Châu đã hy sinh 12/1967 trong trận Rạch Ruộng, Định Tường. Trận chiến khốc liệt, khi Đại Đội Trưởng là Trung Uý Cổ Tấn Tịnh Châu hy sinh, Đại Đội Phó là Tr/Uý Trần Văn Chích lên thay thế thì Chích cũng lại tử trận ngay sau đó! Trần Văn Chích cũng là dân LPKý.

Khi nhắc tới Anh Sáu Cổ Tấn Tinh Châu TĐT/TĐ.2/TQLC có em ruột là LPK Tịnh Châu đã hy sinh thì cũng phải nhắc tới Cố Anh Sáu Lê Hằng Minh.

Một gia đình có 3 anh em cùng học LPK cùng mặc quân phục, đó là Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Trung Tá TQLC Lê Hằng Minh và Đại Uý TQLC Lê Hằng Nghi.

LPK Lê Hằng Minh, là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC khi Tiểu Đoàn này mang danh “Trâu Điên”, anh là cấp chỉ huy văn võ song toàn, anh hết lòng lo cho binh sĩ, nhưng Tiểu Đoàn Trưởng Lê Hằng Minh TQLC sống hùng, sống mạnh mà không sống lâu! Anh đã tử trận cùng 41 thuộc cấp ngày 29/6/1966 tại Phò Trạch, Phong Điền Huế khi mang cấp bậc Trung Tá, nên tôi mới gọi anh là “Cố” Anh Sáu LPK Lê Hằng Minh.

Một LPK khác là Thiếu Tá Dương Hạnh Phước Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.5/TQLC đã hy sinh ngày 16/6/1966 trong trận Mộ Đức Quảng Ngãi và 2 cố vấn Mỹ, Bác Sĩ Lê Hữu Sanh cùng gần 100 sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ!

Chỉ trong vòng 10 ngày, từ 19/6/1966 đến 29/6/1966, 2 Tiểu Đoàn Trưởng TQLC xuất thân LPK là Lê Hằng Minh và Dương Hạnh Phước đã hy sinh ngoài chiến trường! Vậy thì trong suốt cuộc chiến chống cộng để bảo vệ Miền Nam Tự Do, có biết bao các cựu học sinh Petrus Ký thuộc các quân binh chủng đã hy sinh cho Tổ Quốc?

Không ai biết được, không có sử liệu nào ghi chép! Nếu có thì chỉ là những bài viết cá nhân, chuyện vụn vặt của những LPK sống sót sau cuộc chiến kể lại cho đồng môn “nghe qua rồi bỏ”! Nhiều lắm những LPK đã tử trận mà nhiều đồng môn không biết nên các anh trở thành những “Chiến Sĩ Vô Danh”!

Chiến tranh bắt đầu khốc liệt vào thời điểm 1960, thanh niên cả nước “xếp bút nghiên theo nghiệp đao binh”, hăng hái lên đường nhập ngũ để bảo vệ Tự Do. Nếu chẳng may: “Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà…” còn những chàng LPK qua ải tú tài, tuỳ theo sở thích mà chọn quân trường Thủ Đức, Võ Bị, Hải Quân, Không Quân v.v… Riêng lớp Đệ Nhất B1 (1962) chúng tôi có 45 trò, sau khi đậu “Tú Hai” xong là rủ nhau vào Khoá 19 Trường Võ Bị Đà Lạt 15 người, đó là những bạn:

Nguyễn Đức Cần (**), Tô Văn Cấp, Phạm Thượng Chí (**), Trần Văn Chích (**) Lê Văn Chiểu (*), Lê Đình Điển (**), Đinh Văn Hơn, Hoàng Hiếu, Trọng Hiều (*) Văn Kiệt, Ngô Văn Nô (**), Phan Văn Quan, Phạm Thanh Quang, Nguyễn Thái Quan (**), Lê Quan Trường.

Những dấu (**) là tử trận, (*) là từ trần.

Nếu làm phép tính lớp 1B1 tôi thì 1/3 học sinh vào lính (15/45). Vào lính thì hơn 1/3 hy sinh ngoài chiến trường (6/15). Nếu tính tồng số trò các lớp đệ nhất đi lính rồi tử trận thì con số các cựu LPK hy sinh cho Tổ Quốc không phải ít.

Sau 30/4/1975, những đồng môn, đồng đội của tôi như đàn ong bị vỡ tổ, vào tù, vượt biển, hưởng thọ v.v… khó mà biết ai còn ai mất, cho đến năm 1990 tị nạn tại Hoa Kỳ, rồi sinh hoạt với Hội LPK, tôi mới gặp lại một đồng lớp là Võ Thành Thời, vài đồng môn già đồng thời như Biệt Cách Dù Lê Thành Lân, Trịnh Thành, Nhảy Dù Phạm Gia Cổn. Còn những bạn khác, nay ở đâu cả rồi? Những ai đã về chốn bình an như ND Phạm Gia Cổn vừa mới qua đi!

Xin nhắc lại một chút kỷ niệm về Nhảy Dù Phạm Gia Cổn

Ở LPK, Phạm Gia Cổn trên tôi một lớp nên tôi gọi Cổn là “Huynh Trưởng”, nhưng khi Cổn vào Quân Y, lên Trường Võ Bị Đà Lạt học quân sự năm 1964, còn tôi học năm 1962, nên Cổn lại gọi tôi là “Niên Trưởng”. Ờ hải ngoại, mỗi Chúa Nhật, gặp nhau tại café F… Nhảy Dù Phạm Gia Cổn và TQLC Tô Văn Cấp cùng đưa tay chào nhau theo lối nhà binh.

Tuy là “ông Đốc” với 5 chữ “sĩ”, nhưng Cổn bình dân, là người của mọi người, vì mọi người, hình như những “ông đốc” gốc LPK đều bình dân, tử tế như thế cả.

Ngày Chưởng Môn Hoàng Hạc tặng CD khí công cho quí Thày Cô, Nhảy Dù Cổn bắt TQLC tôi bưng khay CD để Cổn rảnh tay múa võ. Mới đó mà chàng 5 sĩ (ca, nhạc, võ, bác, binh sĩ) bất ngờ ra đi, từ giã gia đình và LPK mà “chẳng bảo gì nhau”!

 (h: Cấp bưng khay CD cho Cổn).

“Sinh lão bệnh tử”, những đồng đội, đồng môn già dần dần bỏ ta đi… nên những buổi họp mặt LPK, nhìn quanh chẳng còn mấy ai, bâng khuâng, tự hỏi: “Họ ở đâu cả rồi?

Nhưng… nhưng cũng được an ủi, “còn một chút gì để nhớ để thương” của những bạn trẻ LPK. Gọi là trẻ, nhưng thực ra các bạn ấy cũng đã là những ông nọ, bà kia cả rồi, có thể là ông bà nội ngoại.

Viết về kỷ niệm với LPK không bao giờ cạn, nhưng bài đã dài, độc giả đã mỏi mắt nên trò tôi xin kết thúc bằng một kỷ niệm đáng quý của những LPK trẻ NK 1968-1975.

 ***

Tết Mậu Thân 1968, Tiểu Đoàn 2/TQLC (Trâu Điên) của tôi thanh toán xong “phe thắng cuộc” ở khu vực Chùa Ấn Quang, tóm được bạn ta-Bảy Lớp, trong “sắc-cốt” của Lớp có bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn ghi mục tiêu (màu đỏ) sẽ đánh chiếm, trong đó có trường LPK và khu đại học, (bao quanh bởi 4 đường: Nguyễn Hoàng, Cộng Hoà, Thành Thái, Trần Bình Trọng). Nó mà chiếm khu nhà cao tầng này, nhòm thẳng vào thành Ô-Ma Cảnh sát thì tiêu đời quan ta nên Ông Sáu Lèo điều động TQLC tôi đến phòng thủ khu này trước.

Ban Chỉ Huy đại đội tôi đóng quân ngoài thành Ô-Ma, trước của trường LPK nên hằng ngày tôi thấy các chú nhỏ quần xanh áo sơ-mi trắng tung tăng ra vào, nhiều chú nhỏ (nhất…thứ ba học trò) tò mò đòi xem các cây súng XM16, M79, thấy dễ thương quá, tôi hỏi:

-Các em học lớp mấy?

-Thưa ông…, lớp Đệ Thất.

-Có muốn lấy mấy cây súng này không?

Các chú nhe răng cười, lắc đầu, lè lưỡi.

Thời gian qua mau, 47 năm sau (1968-2015).

Thứ Bẩy, ngày 7/2/2015 tôi có 2 buổi họp mặt:

-1. Thầy-Trò L.P. Ký họp mặt kỷ niệm 40 năm tị nạn tại Little Saigon.

-2. TĐ.2/TQLC Trâu Điên họp mặt với cựu cố vấn Mỹ tại San Diego.

Suy đi tính lại, tôi chọn buổi họp mặt với L.P. Ký ý nghĩa hơn, còn họp mặt với cựu cố vấn Mỹ thì nói chuyện “mỏi tay”. Buổi họp mặt này chỉ có 3 người:

-Cựu Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 Ngô Văn Định.

-Cựu Đại Uý Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 Tô Văn Cấp.

-Cựu cố vấn Mỹ Đại Uý John Sheehan.

Mục đích buổi họp mặt là đề Mr John Sheehan (nay là Đại Tướng 4 sao) ôn lại trận đánh liên tục 3 ngày (14-17/9/1968) tại mật khu Hố Bò, Bời Lời, chiến khu D. Trong trận này có 3 cố vấn Mỹ đi với tôi bị nạn:

Lt Charles James More tử thương (14/9), Captain Carl White đến thay thế More thì White bị trọng thương (16/9). Lt Joe Bargerstock xuống thay thế White, nhưng trực thăng bị phòng không bắn nên Bargerstock bị rơi vào tuyến VC, nhưng lính tôi đã cứu sống được Bargerstock về và tải thương, vì anh ta bị bắn vào ngực và tét vai.

Đó là lý do General John Sheehan muốn gặp lại chúng tôi để ôn chuyện cũ.

Nhưng chỉ Trung Tá Định gặp Sheehan, còn tôi thì họp mặt với LKP thú vị hơn. Vì tôi không đến nên ông John gửi email cho tôi như sau:

***

John Sheehan jjsheehan010@gmail.com

To: Trau Dien Major To Van Cap

I am deeply touched by your article. Each time I read it, I remember how proud I am to be included as a member of the Trau Đien family.

Major To Van Cap, I was very disappointed that you were not able to attend. The bravery of the Marines of your company to save First Lieutenant Joe Bagerstock was not only an act of bravery but also demonstrated the special relationship between the VNMC and the USMC.

That is a bond that was forged under fire and transcends time and distance.

I have included a copy of a picture of one of your Marines that help save Lt. Bagerstock. (Sorry the picture is not clearer but it is like us over fifty years older)

 One brief personal story. Frequently when I attend a USMC event I wear my VNMC tie (a treasured gift) The younger Marines all ask about the VNMC and they are fascinated with its history and battle exploits.

Thank you again for writing of this special reunion. I will always remember the leadership example and bravery of Col. Dinh and you. I became a better U.S. Marine because of him.

Semper Fi. Trau Dien 

Jack Sheehan.

H: John và Đồ Sơn coi bản đồ tìm toạ độ trận Bời Lời, Hố Bò.

 Trở lại buổi họp mặt với L.P.K tại Little Saigon ngày 7/2/2015:

Khi tôi vừa đến thì được một bạn trẻ nhận diện rồi dẫn tới gặp 10 chàng L.P. Ký niên khóa 1968-1975. Một em nói:

“Năm 1968, chúng em mới bắt đầu bước chân vào lớp Đệ Thất L.P. Ký thì đã thấy các anh lính “Trâu Điên” chạy tới chạy lui quanh trường Petrus Ký và đánh đuổi VC trong Chợ Lớn, khiến chúng em cảm phục, sau này đọc báo mới biết có anh trong đoàn quân đó và anh cũng là một Petrus Ký làm chúng em càng hãnh diện hơn, nên nhân dịp họp mặt kỷ niệm 40 năm tị nạn, chúng em xin tặng anh chút quà làm kỷ niệm…”.

Tôi vô cùng ngạc nhiên, quá bất ngờ rồi cảm động đến nỗi trợn mắt, nghẹn họng không nói lên được một lời!

Khi các em vừa bước chân vào Đệ Thất (1968) thì tôi đã là “Trâu Điên”, lăn lộn trên khắp chiến trường, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, lên Cao Nguyên, xuống đồng bằng, tôi chưa hề biết các em, vậy sao các em biết tên tôi rồi tặng quà?

Tôi đã được Quân Đội thưởng huy chương, nhưng mỗi huy chương là một lần đổ máu và nước mắt, 5 ngôi sao đỏ (chiến thương bội tinh) là 5 lần “đạn đi qua người tôi”. Nhưng tôi chưa hề giúp các em bất cứ điều gì mà sao các em tặng quà là điều khó tin.

Bỗng dưng các em khiến tôi nhớ lại hồi chú bé con “Bắc Kỳ di cư 1954” mà dám thi vào học lớp Đệ Thất L.P. Ký, thì giống như một con cừu non run sợ giữa “đàn sói”. Nay đứng bên các bạn trẻ, nếu ai tinh ý thì sẽ thấy một ông già 75 đang thẹn thùng, lúng túng, 10 ngón tay cứ xoắn vào nhau như con dâu mới đứng trước mặt mẹ chồng (thời xưa). Quả thật tôi thấy bé nhỏ trước tấm lòng rộng lượng của các em. Tôi gọi họ là “các em”, nhưng thật ra họ đã là những ông ở độ tuổi 58-60 với những chức tước “sĩ & sư” ngoài xã hội.

Thấy tôi cứ lí nhí bối rối về món quà thì một em khác trấn an với lời lẽ chân tình:

Mong anh chớ quá bận tâm về món quà của chúng em. Như Nguyễn Cao Cuờng đã nói, chúng em muốn làm một điều gì đó có ý nghĩa nhân ngày kỷ niệm 40 năm. Chúng em có được ngày hôm nay, một phần cũng nhờ vào sự hy sinh cao cả của các anh để chúng em được an tâm việc sách đèn. Những năm thời trung học của chúng em gắn liền với các biến động lớn và chiến tranh ở VN, nhất là năm 1968 khi các em mới vào Đệ Thất thì VC tấn công vào Saigon và các anh đã đem thanh bình trở lại cho Thủ Đô. Một lời cảm ơn gửi đến anh cũng như các chiến sĩ trong quân lực VNCH là việc phải làm dù có muộn màng.

Bản thân em và Cường đã đọc rất nhiều bài viết của anh, từ những chuyện trong thời chinh chiến, đến chuyện ngày nay, chuyện cộng đồng kể cả các bài viết về gìn giữ tiếng Việt trong sáng của anh. Em và Cường cảm nhận được tấm lòng của anh trong các bài viết đó cho nên mới có “Cảm Phục và Ngưỡng Mộ”.

Thưa anh, việc chúng em đường đột đến làm phiền anh trong buổi họp mặt này bắt nguồn từ những bài anh đã viết. Tuy chưa được hân hạnh gặp anh, nhưng qua những gì anh viết, em và bạn Nguyễn Đình Anh rất cảm phục và ngưỡng mộ sự hy sinh quá lớn lao của anh và gia đình anh cho đất nước khi ở quê nhà. Sang đến đây, nơi đất khách quê người, và cũng phải chật vật như mọi người khác để lập lại cuộc đời mới thế mà anh vẫn không quên những bạn đồng đội TPB bên quê nhà. Những hành động này làm chúng em ngữỡng mộ anh và là niềm hãnh diện cho trường cũ. 

Cuộc họp mặt có cái tên là kỷ niệm 40 năm vô tình trùng với thời gian niên khóa 68-75 chúng em tốt nghiệp trung học nên có đông các bạn cùng khóa quyết định cùng đi. Vì cái tên của cuộc họp là kỷ niệm 40 năm nên bạn Nguyễn Đình Anh và em có suy nghĩ là nên làm gì cho có ý nghĩa. Hai đứa em quyết định là không có gì hay hơn là cám ơn các đàn anh đã hy sinh xương máu bảo vệ đất nước để các em được yên lành nơi hậu phương, thụ huấn các thầy, cô ở Pétrus Ký để có được ngày nay. Hơn nữa, việc cám ơn các thầy cô thì năm nào cũng có, nhưng cám ơn đàn anh thì em chưa thấy nên cũng muốn trường mình tạo một truyền thống.

Tụi em làm cái plaque xong rồi thông báo cho tất cả các bạn cùng niên khóa xin ý kiến, mọi người lên tiếng tán thành. Tóm lại, việc này là từ lòng cảm phục một đàn anh đã và đang làm khiến hậu bối chúng em ngưỡng mộ. 

Đại diện nhóm cựu học sinh L. Petrus Ký 1968-1975
Nguyễn Cao Cường (Arizona). Nguyễn Đình Anh (Bắc California)
Tôn Tương Văn (Bắc California). Phan Tấn Bảng (Bắc California)
Nguyễn Đại Anh Minh (Bắc California). Võ Thanh Sơn (Bắc California)
Nguyễn Trung Quân (Bắc California). Ngô Quang Hiển (Nam California)
Vũ Duy Quang (Nam California).Bùi Thanh Sơn (Nam California)
Phạm Thư Đôn (Houston).Võ Bá Hải (Colorado)
Ysa Cosiem (Maryland).Vũ Hùng Đức (Germany)

H: Các đệ 68-75 và huynh 55-62

Quà của LKP 68-75 tặng

CA 30/5/24.