Đọc sách ‘Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký’

Trần Doãn Nho/Người Việt

(nguồn: https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doc-sach-ky-yeu-trien-lam-va-hoi-thao-truong-vinh-ky/)

ky yeu trien lam va hoi thao
Sách “Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký.” (Hình: Người Việt)

Tập kỷ yếu đã được Ban Tổ Chức Hội Thảo phát hành tám tháng sau cuộc “Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký” tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, vào ngày 8 Tháng Mười Hai, 2018.

Tập sách bìa cứng in nhiều màu, đẹp, dày hơn 460 trang. Ngoài phần hình ảnh ghi lại khung cảnh, tài liệu trưng bày và hoạt động trong cuộc hội thảo, Kỷ Yếu gồm có ba phần: Phần I ghi lại những bài thuyết trình đã được trình bày trong cuộc hội thảo, kể cả diễn văn khai mạc và đúc kết; phần II là bốn bài nghiên cứu khác, hai bản Việt dịch di cảo của Trương Vĩnh Ký, một bài tản mạn cùng với lời (tiếng Pháp) và nhạc bài “Chant du Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký;” và phần III là Thư Tịch.

Phần Thư Tịch khá dài, đến 60 trang, là một công trình sưu khảo có giá trị, chỉ dẫn đầy đủ về các tác phẩm và di cảo của Trương Vĩnh Ký, các bài nghiên cứu về ông và danh mục các thư viện trong và ngoài nước còn giữ Gia Định Báo và Thông Loại Khóa Trình, do bà Phạm Lệ Hương, một chuyên gia về thư viện, lập nên.

Góp mặt trong Kỷ Yếu là nhưng học giả, nhà văn, nhà báo, dịch giả, luật sư, nghệ sĩ trong và ngoài nước như Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Trung Quân, Trần Văn Chi, Bùi Vĩnh Phúc, Phan Đào Nguyên, Phạm Phú Minh, Nguyễn Văn Tố, Nguyên Ngọc, Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Bích Thu, Cam Vũ, và Phương Nghi.

Về nội dung, tất cả các bài viết đều xoay quanh con người và sự nghiệp văn hóa của ông. Trong “Lời nói đầu,” nhà văn Phạm Phú Minh, người đứng ra thực hiện tập Kỷ Yếu, nêu rõ rằng: “Trương Vĩnh Ký với tư cách là một người Việt Nam đầu tiên đã: theo nghề làm báo tiếng Việt, tự mình đứng ra thành lập một tờ tạp chí tiếng Việt đầu tiên; viết văn xuôi bằng chữ quốc ngữ; viết lại bằng chữ quốc ngữ những tác phẩm cổ điển chữ nôm rồi in ra và phổ biến; viết lại bằng chữ quốc ngữ một phần kho tàng văn chương bình dân của dân tộc Việt Nam và xuất bản; viết và giải thích bằng chữ quốc ngữ các lý thuyết của đạo Khổng Mạnh đã thấm nhuần trong văn hóa và giáo dục Việt Nam từ hàng nghìn năm…”

Từ những cái gọi là đầu tiên đó, Phạm Xuân Đài gọi sự xuất hiện của Trương Vĩnh Ký vào hậu bán thế kỷ thứ 19 là một “điểm hẹn lịch sử,” ở đó, “Một thứ chữ âm thầm hiện diện trên đất nước từ hai thế kỷ trước,” “kiên nhẫn chờ đợi thời điểm chính mình xuất hiện để đóng vai trò hệ trọng trong đời sống văn hóa của dân tộc này.” Chẳng lạ gì, Trương Vĩnh Ký “là người duy nhất vào thời điểm ấy làm cả một khối công việc nặng nề cho một quốc gia, cốt để xoay chuyển nền học thuật và văn hóa từ Hán Nôm sang chữ quốc ngữ,” mà “ngày nay dù xu hướng chính trị như thế nào,” “không một kiểu cố tình bóp méo, ngang ngược nào có thể phủ nhận nó.”

Trương Vĩnh Ký, theo Nguyễn Văn Sâm, nhà nghèo, “sống một cuộc đời cặm cụi viết và in sách trong hoàn cảnh khó khăn về tài chánh,” “không đủ tiền tiếp tục in tạp chí Thông Loại Khóa Trình cho đến nỗi phải đóng cửa tờ báo và… khi chết thì chôn trong miếng đất của bà suôi hiến cho” vào năm 1898.

Bùi Vĩnh Phúc cho biết, ông “từ chối vào quốc tịch Pháp dù được giáo dục theo đường lối, cách thức làm việc, phương pháp khoa học của Âu Tây, được trọng vọng và trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp.”

Về mặt kiến thức và tri thức, Trần Văn Chi nhận định, “Tuy được đào tạo rất hệ  thống của giáo hội Cơ Đốc giáo từ nhỏ trong nền văn hóa phương Tây, song Trương Vĩnh Ký vẫn có một căn cơ khá bền vững về văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa ở Nam Kỳ.”

Đề cập đến tư cách, Phan Đào Nguyên cho biết, nếu đọc kỹ những gì ông viết, “Từ con người này toát ra một vẻ điềm đạm, an nhiên, một sự thăng bằng và tự tin, nhưng đồng thời cũng là một sự khiêm tốn tuyệt vời. Tài cao như vậy, học rộng như vậy, nhưng suốt đời ông chỉ nhận mình là một người thầy mà thôi.”

Về sự nghiệp, theo tác giả Nguyễn Văn Tố, thì “…toàn bộ những nghiên cứu Pétrus Ký đeo đuổi từ thuở trai trẻ ban đầu cho đến những ngày cuối cùng của ông đều nhằm vào một đối tượng duy nhất, là nền văn học của nước An Nam xưa, mà một phần đã bị biến mất, nhưng mỗi một mảnh nhỏ còn lại đều đáng được nâng niu sưu tập gìn giữ. (…) Xu hướng nhân văn dồi dào toát ra từ các nghiên cứu Hán học của ông khiến ông gần gũi vời đồng bào của mình, trong khi một số nhà nho lại thích xa lánh họ để sống trong một tình trạng cô lập khinh khỉnh.”

Trần Văn Chi cho rằng Trương Vĩnh Ký đã  “tạo ra nhiều công trình học thuật và văn hóa theo tinh thần ‘tân học,’ mà rõ nhất là ‘vai trò của ông trong việc sử dụng và phổ biến chữ quốc ngữ, lúc ban đầu là công cụ của thực dân song về sau trở thành công cụ của nền văn hóa hiện đại Việt Nam.’”

Đề cập đến số lượng, Nguyễn Văn Sâm cho biết, Trương Vĩnh Ký đã “để lại một số tác phẩm mà có người kể không thôi những cái tựa đề cũng phải mất 30 trang…,” “tất cả đều có giá trị văn hóa, giáo dục, góp phần vào sự thúc đẩy việc đi lên của dân tộc Việt.”

Bùi Vĩnh Phúc nhấn mạnh đến công lao của ông về mặt ngôn ngữ, theo đó, “qua việc phiên âm, chú giải Truyện Kiều, nói riêng, và qua bao nhiêu công trình mà ông đã thực hiện để phổ biến và phát huy tiếng Việt, chữ Quốc Ngữ, nói chung, là một vùng quặng mỏ lớn mà chúng ta, những kẻ đi sau còn có thể tiếp tục khám phá. Đó là một thứ ‘khảo cổ học’ về ngôn ngữ.”

Một trong những điểm lý thú, gây ấn tượng nơi tôi là bản dịch hoàn chỉnh lá thư mà Trương Vĩnh Ký gửi cho ông Blancsubé giải thích về việc những người An Nam từ chối gia nhập quốc tịch Pháp của Nguyễn Bích Thu.

Qua lá thư, Trương Vĩnh Ký đã trình bày và phân tích rạch ròi, chí lý, đầy kiến thức và đầy cả tấm lòng, cho thấy ông, dù được nuôi dưỡng trong một không khí văn hóa hoàn toàn khác với số đông, lại nắm vững được hiện thực Việt Nam, tâm hồn Việt Nam không những ngay thời đại ông sống mà còn từ cội rể xa xưa trong lịch sử. Làm được những điều tích cực trong một hoàn cảnh đầy tiêu cực như thế là một điều đáng ngạc nhiên và đáng khâm phục. Đối với một người lần đầu tiên quan tâm đến Trương Vĩnh Ký như tôi, điều này có giá trị thuyết phục rất lớn.

Một ngạc nhiên lý thú khác là ba bài viết của luật sư Phan Đào Nguyên. Bằng cách sử dụng kiến thức sâu rộng của ông về ngữ học, văn chương, sử học, luận lý học, xã hội học và cả tâm lý học, đồng thời đối chiếu với cuộc đời thực của Trương Vĩnh Ký, Phan Đào Nguyên tìm cách làm sáng tỏ ý nghĩa của một câu tiếng Latin “sic vos non vobis” vốn được dịch sai lầm là “Ở với họ mà không theo họ,” mà cả hai phe bênh và chống Trương Vĩnh Ký đều sử dụng; và minh oan cho Trương Vĩnh Ký về một lá thư mà ông không hề viết, kêu gọi người Pháp vào xâm chiếm Việt Nam được ký bằng một cái tên từa tựa tên ông là Petrus Key.

Bài viết minh oan công phu và sắc bén này là một phản biện với sử gia Vũ Ngự Chiêu, người đã đưa lá thư này ra công luận từ năm 1996. Trong ước muốn được biết sự thật, tôi rất mong được nghe hồi đáp tích cực từ sử gia Vũ Ngự Chiêu về bài phản biện của Phan Đào Nguyên, để được sáng tỏ thêm về hành trạng của Trương Vĩnh Ký.

Hiện nay, trong lúc trong nước, dưới chế độ Cộng Sản, thảo luận về Trương Vĩnh Ký vẫn còn là một điều cấm kỵ, thì sự ra đời của tập kỷ yếu này không bị thiên kiến ràng buộc, tuyên truyền phe phái, mưu đồ chính trị hay dưới sự chỉ đạo của một thế lực nào, sẽ là một đóng góp quý báu vào kho tàng nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký trong công cuộc giữ gìn truyền thống văn hóa Việt Nam.

Cũng cần phải nói thêm một chút. Mới nửa năm trước đây, tập kỷ yếu này tưởng đã có một số phận khác. Vì người dồn hết tâm lực cho dự án này, nhà văn Phạm Phú Minh, đột ngột bị bác sĩ bảo là nên buông, vì lý do sức khỏe. Ông đã buông, nhưng rồi không buông được. Nhờ thế, nó ra đời y như… số phận đã định trước của nó.

Mừng thay! (Trần Doãn Nho)

Tham khảo:
-“Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký.”
-Trần Hữu Thục, “Một công trình có ý nghĩa về Trương Vĩnh Ký: Tập “Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo về Petrus Trương Vĩnh Ký,” VOA.